24. Về một số tư liệu Hán Nôm hiện có tại nhà thờ họ Nguyễn .... (TBHNH 2005)
VỀ MỘT SỐ TƯ LIỆU HÁN NÔM HIỆN CÓ TẠI
NHÀ THỜ HỌ NGUYỄN - XÃ ĐÀ SƠN, HUYỆN ĐÔ LƯƠNG,
TỈNH NGHỆ AN
MAI XUÂN HẢI
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Vừa qua trong khi khảo sát các nhà thờ họ Nguyễn và nhà thờ họ Hoàng tại thôn Phượng Lịch - xã Đô Lương - tỉnh Nghệ An. Chúng tôi đã phát hiện ra một số tư liệu Hán Nôm gồm các câu đối, gia phả họ Nguyễn tại nhà thờ họ có liên quan đến sự nghiệp của Tiến sĩ Nguyễn Văn Bính quê gốc ở xã Thổ Hoàng, huyện Ân Thi (nay là huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Người mà theo Đăng khoa lục thời Lê do nhóm sử thần Nguyễn Hoãn biên soạn và theo sách Các nhà khoa bảng Việt Nam của Viện Nghiên cứu Hán Nôm do ông Ngô Đức Thọ chủ biên đã đỗ Tiến sĩ năm Ất Sửu (niên hiệu Đoan Khánh thứ 2 đời vua Lê Uy Mục (năm 1505). Năm ông 25 tuổi và đã làm quan tới Đô khoa cấp sự trung (hiện còn có bia tại từ chỉ huyện Ân Thi ở xã Thổ Hoàng Cả do họ Hoàng trông giữ); Thực ra thì đây là tấm bia Từ chỉ của huyện Thiên Thi được dựng vào năm Chính Hòa thứ 19 (1698). Đề danh những người đỗ đạt của huyện mà mở đầu là Nguyễn Trung Ngạn, thời Trần.
Tại xã Đà Sơn hai nhà thờ họ Nguyễn và họ Hoàng liền kề nhau cùng có kiến trúc kiểu chữ nhị, một kiến trúc phổ biển của các ngôi đình ở thời Lê trung hưng có niên đại khoảng thế kỷ thứ XVI - thế kỷ thứ XVIII.
Tuy nhiên ở phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ khảo sát và tìm hiểu các di sản Hán nôm hiện còn tại nhà thờ họ Nguyễn ở thôn Phượng Kỷ, xã Đà Sơn và rút ra một số nhận định ban đầu bổ sung cho thân thế và sự nghiệp của Tiến sĩ Nguyễn Văn Bính.
1. Về hệ thống các câu đối còn có ở nhà thờ họ Nguyễn
Phiên âm:
花袍蹟記山南石
畫棟輝聯鳳塢雲
Hoa bào tích ký sơn Nam thạch
Họa đống huy liên Phượng ổ vân.
Dịch nghĩa:
Gốc tích vị quan này ở chốn Sơn Nam
Vẽ ra sự huy hoàng ở nơi Phượng ổ
Phiên âm:
科甲蜚英花宦譜
箕表裕蔭歷書香
Khoa giáp phi anh hoa hoạn phổ
Kỳ biểu dụ ấm lịch thư hương
Dịch nghĩa:
Truyền thống về khoa giáp rực rỡ làm sáng tỏ khoa bảng của dòng họ
Tiếng thơm của sách vở còn rạng rỡ mãi với thời gian.
Phiên âm:
南郡碑傳花譜鐷
鳳山蔭裕玉庭土皆
Nam quận bi truyền hoa phổ điệp
Phượng sơn ấm dụ ngọc đình giai.
Dịch nghĩa:
Quận (Sơn) Nam lưu bia còn sáng ngời tộc phả
Núi Phượng phúc ấm còn rủ mãi ở thềm đình ngọc.
Phiên âm:
花峰氣脉栽培厚
鳳塢文章引翼長
Hoa phong khí mạch tài bồi hậu
Phượng Ổ văn chương dẫn dực trường
Dịch nghĩa:
Đỉnh núi Hoa khí mạch lưu truyền thế
Gò Phượng văn chương mãi nối dài
2. Gia phả Nguyễn tộc (trích)(1).
Thế phả bản tông
Thủy Trần Lưu quận, Nguyễn Nhất lang, mất ngày 17 tháng giêng.
Thủy tổ tỷ, chính thất họ Nguyễn, mất ngày 13 tháng 7.
Xét: Hai cụ tổ khảo, tổ tỷ, danh tính, năm sinh, năm mất, phần mộ, nhà cửa đều không thể khảo cứu được, nhưng dựa theo ghi chép của Cụ Cao cao tổ Tăng Thống vào năm thứ 7 niên hiệu Dương Hòa (1641) biết được ngày giỗ kỵ mà thôi. Mặt khác, lại được cha tôi truyền cho biết: Tiên tổ nhà ta vốn quê quán tại xã Thổ Hoàng, huyện Thiên Thi, xứ Sơn Nam, Viễn Tổ là Nguyễn Tướng công tên tự là Văn Bính đỗ Tiến sĩ vào khoa Ất Sửu, năm thứ hai niên hiệu Đoan Khánh triều Lê (1505). Sau Cụ làm quan tới chức Tả Thị lang Bộ Lại, tra trong sách Đăng khoa lục, Cụ làm quan tới chức Thượng thư Bộ Lại.
Sau này, do họ Mạc tiếm ngôi, Cụ liền bỏ chức trở về (quê), triều Mạc muốn cưỡng bức phải ra làm quan. Cụ thay đổi quần áo, giả làm dân thường, ôm một đứa trẻ, dắt con chó, đi cùng với người thiếp, trên đường đi, gặp một người ngẫu hứng đọc câu thơ (bằng chữ Nôm):
Cổ bồng con, tay dắt chó, ngẫm thấy thân âu là khó (ý chỉ đây là người quen biết cũ).
Cụ ung dung đáp rằng (cũng bằng thơ Nôm):
Công nuôi nấng chân tay chưa dễ hầu bỏ nó. Nhân khi đến bến sông Sơn Nam, cụ làm một bài thơ quốc ngữ (Nôm) tiêu đề là: Con chó
Loạn lạc nhân sao chẳng biết về,
Bởi vì nước lụt chó ngoài bãi,
Rồng nằm bể cạn lươn giỡn mặt.
Hùm náu vườn hoang, cáo sánh mày,
Bao chừ thiên hạ yên làm một,
Ái quốc trung quân rõ mặt này.
Tiếp tục bộ hành, đến xã Hoàng Mai, huyện Quỳnh Lưu, tạm nghỉ tại một lữ quán bên đường, sau đó lại chuyển đến cư ngụ tại xã Hoa Lâm, huyện Nam Đường. Khi đó, có một người danh tính chưa được tường ở bản xã (Hoa Lâm), niềm nở giao kết. Hai bên tâm đầu ý hợp, Cụ kể lại hết mọi chuyện. Cư trú chưa được bao lâu, Cụ gửi lại con nhỏ (nay là Thủy tổ của họ ta), cho người bạn đó. Sau này, Cụ cùng với người vợ thiếp ngầm trốn về quê cũ. Không ngờ, sau ngày Cụ đi, tin tức tuyệt không thấy hồi âm nữa. Nhưng được lưu truyền, vào thời Lê Trung hưng Cụ được đặc ban phong làm Đại vương và được tặng là Phúc thần. Lại nói về người con trai được gửi nhờ bạn nuôi nấng, đã thờ phụng người đó như cha đẻ, mà mọi sự tích truyền lại cho hay: Đến tuổi trưởng thành, người con trai đã nhập tịch vào thôn Nguyệt Bổng, xã Hoa Lâm. Sau này lấy vợ sinh ra con trai, tên là Ăn, mất ngày mồng 9 tháng 9…
Kết luận: Như vậy qua các câu đối hiện có tại nhà thờ họ Nguyễn và gia phả dòng họ có thể thấy đây là nơi thờ tổ của họ Nguyễn (và có nhiều cơ sở để thấy rằng Tiến sĩ Nguyễn Văn Bính và Hàn Lâm viện đại học sĩ Nguyễn Bính tác giả của các bản thần tích là một, tuy nhiên đây là một vấn đề lớn chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu và bổ sung sau).
Theo nhân dân địa phương cho biết Tiến sĩ Nguyễn Văn Bính còn được thờ làm thành hoàng ở đây và có mộ ở Rú Già, tức Đà Sơn hiện nay, về vấn đề này xin được tồn nghi.
Mặt khác việc nghiên cứu giữa các họ tộc qua các nhà thờ họ ở Đô Lương nói riêng và ở Nghệ An nói chung theo chúng tôi là một đặc điểm rất đáng lưu ý để bổ sung tư liệu gốc giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong việc nghiên cứu di sản Hán Nôm và nghiên cứu sử học ở các địa phương.
Chú thích:
(1) Xem thêm Nguyễn tộc gia phả. Người dịch ThS. Nguyễn Hữu Tâm, tài liệu lưu trữ Ban Lịch sử địa phương, Viện Sử học.
Thông báo Hán Nôm học 2005 (tr.260-264)