VI | EN
26. Về tình hình văn bản một cuốn sách giáo khoa hệ ấu học - Ấu học Hán tự tân thư (TBHNH 2011)
(TBHNH 2011)

VỀ TÌNH HÌNH VĂN BẢN MỘT
CUỐN SÁCH GIÁO KHOA HỆ ẤU HỌC - ẤU HỌC HÁN TỰ TÂN THƯ

NGUYỄN THỊ HƯỜNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

u học Hán tự tân thư幼學漢字新書là một bộ sách dùng dạy ở bậc ấu học trong chương trình học của các trường Nho học cải lương sau cải cách giáo dục năm 1906(1). Tác giả biên soạn của bộ sách là Hội đồng tu thư gồm Thái tử Thiếu bảo giữ chức Hiệp biện Đại học sĩ Dương Lâm, quan Tuần phủ sung Nghị viên viện Thượng thẩm Đoàn Triển, Quang Lộc tự Thiếu khanh giữ chức Án sát sứ Bùi Hướng Thành. Bộ sách còn được Hiệp biện Đại học sĩ, Phó giám đốc phủ Thống sứ Bắc kỳ Đỗ Văn Tâm duyệt đính, Hội đồng Nghị học Đông Dương duyệt y. Kết cấu của bộ sách cụ thể như sau:

Quyển 1 - Ấu học Hán tự tân thư 幼學漢字新書, không ghi tên người phụng thảo, chuyên dạy về chữ Hán như tự học, liên tự tự học, vận học, cú học, đơn tự, liên tự, ngoài ra còn có các kiến thức thường thức về về thiên nhiên, cây cỏ, chim muông, khí hậu, thời tiết, tổng cộng 110 bài.

Quyển 2 - Ấu học tu thân giáo khoa thư幼學修身教科書, không ghi tên người phụng thảo, chuyên dạy về luân lý, đạo đức, gồm cách tu dưỡng, cách ăn ở đối xử với cha mẹ, bè bạn, người trên v.v..., tổng cộng 250 bài.

Quyển 3 - Ấu học địa dư giáo khoa thư 幼學地輿教科書, do Bùi Hướng Thành và Đoàn Triển soạn thảo. Cuốn này gồm hai phần: Nam quốc địa dư ấu học giáo khoa (do Bùi Hướng Thành phụng thảo) và Ấu học chính trị sự lược giáo khoa thư (do Đoàn Triển phụng thảo), trình bày theo các đề mục nhỏ, không chia bài học.

Quyển 4 - Ấu học lịch sử giáo khoa thư 幼學歷史教科書, cũng do Đoàn Triển phụng thảo, gồm các phần: Đế vương, anh hùng, danh thần, tiếm thiết, quyền thần, không chia bài nhỏ như quyển 1 và quyển 2.

Hiện nay, chúng tôi sưu tập được 6 bản in (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) và 9 bản chép tay (7 bản ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm và 2 bản ở Thư viện Quốc gia.)

Các bản in: VHv.1485, VHv.1507, VHv.2394, VHb.367, VHv.3611, A.3168

Các văn bản in này đều thuộc hệ thống sách in của Viễn Đông ấn đường (Nhà in Viễn Đông). Chữ in chân phương trên loại giấy thường (còn gọi là giấy tây), theo lối in hoạt bản. Sách được in vào năm 1908. Quyển 1 gồm 80 trang, quyển 2 gồm 148 trang, quyển 3 gồm 52 trang, quyển 4 gồm 92 trang.

Trong số 6 bản in kể trên, chỉ có duy nhất bản in VHv.1485 là có đầy đủ cả 4 quyển, đóng thừa quyển 2. Bản VHv.1507 thiếu quyển 1, quyển 2, bản VHv.2394 thiếu quyển 1, quyển 3, bản VHb.367 chỉ có quyển 2, VHv.3611 chỉ có quyển 4, A.3168 chỉ có quyển 3 và quyển 4..

Các bản in đều có kích cỡ chung là 15x21cm hoặc 15x22cm, kích thước lòng sách là 19.5x12cm. Hai bản VHv.3611, A.3168 có kích thước to hơn hẳn 15x24cm, kích thước lòng sách 21x12cm. Hình thức có một điểm khác với 4 bản trên là không có dòng kẻ ngăn ghi thứ tự bài ở mép trên cuốn sách. Tuy nhiên, cỡ chữ in, dáng chữ và các trình bày về hình thức cũng như nội dung tương đồng 4 bản còn lại.

Qua dấu hiệu văn bản, chúng tôi nhận thấy bốn bản in VHv.1485, VHv.1507, VHv.2394, VHb.367 là bốn văn bản của cùng một lần xuất bản. Hai bản VHv.3611, A.3168 chúng tôi còn nghi vấn. Bộ Ấu học Hán tự tân thư là một bộ sách gồm bốn quyển, mỗi quyển đều được đóng bìa sách màu xanh nhạt, có bìa đầu ghi tên sách, bìa cuối ghi tên nhà xuất bản. Trong quá trình sưu tập, có những bộ đã được đóng lại đủ 4 quyển, có những bộ chỉ có một hai quyển. Trong số văn bản chúng tôi có được, bản VHv.1485 là bản đầy đủ nhất, thừa quyển 2.

Các bản chép tay: 7 bản tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm gồm: VHv.345, VHv.346, VHv.469, VHv.4000, VHv.3091, VHv.1589, VHv.1729. 2 bản tại Thư viện Quốc gia gồm: R.1636, R.561.

VHv.345: 15,5x27cm, 80 trang, thiếu quyển 3, quyển 4. Sách được đóng bìa cậy đen, trong giấy dó, chữ viết tay chân phương, không ghi năm chép. Đây là một bản viết tay không nhất quán, do hai người chép, dưới hai loại chất giấy khác nhau. Từ trang 1 đến trang 28 là một người chép, chép đến hết bài 90 quyển 1 (quyển 1 đầy đủ là 110 bài). Từ trang 29 đến hết là bản chép của một người khác, không chép từ đầu quyển 1 mà chép từ bài 33 đến bài 109, thiếu bài 110 luận giải về đơn vị đo lường, tiền tệ. Tiếp đó, chép hết 66 bài đầu của quyển 2 (trọn quyển 2 là 250 bài). Như vậy, bản chép tay này là một văn bản có tính chắp vá, có lẽ là hai phần chép dở dang của hai người khác nhau được ghép lại trong một văn bản.

VHv.346: 15,5x27cm, 128 trang, bìa phết cậy màu đen, bên trong là chữ chép tay viết trên giấy dó. Bản chép tay này chép đầy đủ cả 4 quyển, các phần chép nối tiếp nhau, không ghi rõ số quyển, cũng như không có trang tiêu đề ghi tên quyển. Cuối sách có phụ chép phần Lê Đại Hành bị chép thiếu ở phần quyển 4. Sách không ghi năm chép.

VHv.469: 16x26,5cm, 151 trang, bìa phết cậy màu đen, bên trong là chữ chép tay trên nền giấy dó, trang 5 dòng. Chữ viết chân phương khá đẹp. Bản này chỉ chép nội dung quyển 3, quyển 4 (thiếu quyển 1, 2), theo thông tin đầu văn bản, văn bản được chép vào năm Khải Định thứ 7 (1922). Sách bị mối mọi cắn rách một góc bên phải phía dưới.

VHv.4000: 25x15,5cm, 92 trang, gồm quyển 1, 2, bìa cậy nâu, bên trong là giấy dó. Trang 8 dòng, chữ viết chân phương. Trang bìa tên sách bằng giấy dó mỏng có ghi Ấu học tân thư đệ nhất sách. Sau phần quyển 1 là phần quyển 2, ghi chép đầy đủ các tiết mục.

VHv.3091: 13.5x28,5cm, 184 trang, (chỉ có quyển 1,2). Bìa đóng mới giấy dó dày màu nâu. Gáy có sơn cậy đen, trong giấy dó, chữ viết chân phương, trang 5 dòng. Quyển 1 từ tờ 1a đến hết tờ 26b. Quyển 2 từ 27a đến 92b. Sách ghi chép đầy đủ các mục.

VHv.1589: 28x16cm, 48 trang, trang 10 dòng, quyển 3 và quyển 4. Sách đóng bìa cậy nâu, trong giấy dó, nhiều trang bị rách nát, mất chữ. Phần quyển 4 Ấu học lịch sử giáo khoa thư trong mục Bản triều không chép nhân vật Hoàng Diệu.

VHv1729: 28x15cm, 124 trang, trang 10 dòng, chữ viết chân phương. Tên sách là Chư dư tạp biên 諸輿雜編, nội dung gồm các tác phẩm về địa lý và thơ văn có liên quan. Phần từ tờ 13 đến tờ 17, tổng cộng là 9 trang, chép nội dung quyển 3 của Ấu học Hán tự tân thư, bao gồm: Nam quốc địa dư ấu học giáo khoa, Ấu học chính trị sự lược giáo khoa thư.

R.1636: 26x16cm, 192 trang, quyển 1 và 2, chữ viết chân phương, trang 5 dòng. Sách không có trang bìa ghi tên sách, bìa bảo quản là giấy bìa thường màu xanh, trong giấy dó.

R.561: 14x28cm, 128 trang, quyển 1 và 2, bìa cậy nâu cũ, chữ viết chân phương, trang 6 dòng, giấy dó. Sách không có trang bìa ghi tên sách, trong nội dung có ghi thông tin năm soạn 1908 cùng hội đồng biên soạn sách như ở bản in.

Như vậy, trong 9 bản chép tay, chúng tôi nhận thấy chỉ có các bản VHv.1589, VHv.469, VHv.346 là có chép nội dung quyển 4, tức quyển Ấu học lịch sử giáo khoa thư, duy nhất bản VHv.346 chép đầy đủ cả bộ 4 quyển.

Qua khảo sát các bản in và bản chép tay, chúng tôi đưa ra kết luận bước đầu như sau: Bản VHv.1485 là bản in đầy đủ và đáng tin cậy nhất, bản VHv.346 là bản chép tay đầy đủ nhất.

 

Chú thích:

(1) Sau cải cách giáo dục năm 1906, nền giáo dục nước ta gồm hai hệ thống trường lớp: trường Pháp Việt và trường chữ Nho (tức Nho học cải lương). Hệ thống trường chữ Nho được phân làm ba cấp: Ấu học, tiểu học và trung học./.

(Thông báo Hán Nôm học 2011, tr.673-677)

Nguyễn Thị Hường
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm