27. Thiên nhiên trong tập thơ Du Hiên thi thảo của Bùi Văn Dị (TBHNH 2012)
27. Thiên nhiên trong tập thơ Du Hiên thi thảo của Bùi Văn Dị (TBHNH 2012)
THIÊN NHIÊN TRONG TẬP THƠ
DU HIÊN THI THẢO CỦA BÙI VĂN DỊ
PHẠM THỊ GÁI
Đại học Khoa học Huế
1. Trong nền văn học của dân tộc Việt Nam, văn học được viết bằng chữ Hán chiếm một vị trí vô cùng quan trọng. Trong suốt khoảng thời gian kéo dài hàng nghìn năm, chữ Hán được sử dụng như một loại văn tự quốc gia. Chữ Hán đã được sử dụng trong tất cả các lĩnh vực đời sống như chính trị, văn hóa, khoa học, xã hội, lịch sử,...và cũng chính là công cụ để các bậc thi nhân, văn sĩ ghi lại cảm xúc của mình. Chính vì vậy, ngày nay chúng ta đã được thừa hưởng một kho tàng văn hóa thành văn vô giá được ghi chép bằng chữ Hán do ông cha để lại. Trong đỉnh cao của nền văn học trung đại đó, chúng ta đã rất quen thuộc với những tên tuổi như Nguyễn Trãi, Lê Quí Đôn, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, v.v...; đến các vị vua say mê văn học như Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Minh Mạng, Tự Đức... Trong số những bậc thi nhân, văn sĩ đã từng cầm bút, có rất nhiều tác phẩm của họ còn được lưu giữ và trở nên quen thuộc với người đời sau nhưng cũng có không ít tác phẩm của những con người tài hoa vẫn chưa được biết đến. Những tác phẩm thi ca của Tiến sĩ Bùi Văn Dị là một trong những trường hợp như thế. Tên tuổi của ông được thường biết đến nhưmột một vị quan thanh liêm có lòng yêu nước thương dân... Tấm gương hiếu học và yêu nước của ông như một dấu son trong danh sách những nhà khoa bảng của mảnh đất Hà Nam nói riêng, của nước Việt Nam nói chung, nhưng đời sau ít người biết đến ông với vai trò là một nhà thơ tài hoa, uyên bác. Trong cuộc đời 29 năm làm quan (1866-1895) của ông trải 7 đời vua (Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái), ông luôn được đánh giá cao và nắm giữ nhiều vai trò quan trọng trong triều đình. Dựa trên tài năng thơ văn và công lao của ông, Bùi Văn Dị được đặc cách nhận học vị Tiến sĩ khoa Ất Sửu (1865). Xuất phát từ một trái tim ưu thời mẫn thế và một tâm hồn nhạy cảm với cuộc sống, ông đã sáng tác rất nhiều thơ ca.
Lần theo các sáng tác, chúng ta thấy những trang thơ, văn của Bùi Văn Dị luôn gắn liền với các chặng đường đời của ông và gắn liền với những thăng trầm của lịch sử dân tộc. Trong con người ông, luôn tồn tại hai nửa khác nhau, một con người ưu thời mẫn thế, luôn trăn trở trước mọi thay đổi của thời cuộc, trước những biến động của chính sự và một bên là tâm hồn rất tinh tế, nhạy cảm. Những suy nghĩ, cảm nhận về cuộc sống, những thay đổi của cảnh vật, đất trời, thời cuộc đều được ngòi bút giàu cảm xúc ghi lại một cách tinh tế. Cả chặng đường đời của Bùi Văn Dị, bên cạnh con đường hoạn lộ, quan trường cũng chính là con đường sáng tác thơ văn không mệt mỏi. Thật đúng như nhận xét khái quát về nhân vật này trong Từ điển Văn học: “Bùi Văn Dị là nhà thơ sáng tác trên mọi nẻo đường công cán, trong nhiều cương vị, trong nhiều quan chức khác nhau. Ở ông, con người chức năng, con người phận vị không hề che lấp đi con người thi nhân…” [1, tr. 166]. Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp sáng tác đồ sộ.
Những tác phẩm của ông được tập hợp trong các tập thơ, tùy bút như: Du hiên thi thảo 輶軒詩草, Tốn Am thi thảo 遜庵詩草, Tốn Am thi sao 遜庵詩抄, Trĩ Chu thù xướng tập 雉舟酬唱集,...trong đó, Du hiên thi thảo là một tập thơ tiêu biểu được sáng tác trong những năm đầu chống Pháp. Du hiên nghĩa là chiếc xe nhỏ dành cho người được nhà vua cử đi công cán. Thi thảo là cách nói khiêm tốn về tập thơ mới như chỉ ở dạng bản thảo, chưa được tu chỉnh. Đây là tập thơ Bùi Văn Dị làm trong dịp được phái làm Bắc kỳ Kinh lược Phó sứ, đem một đội quân nhỏ đi kiểm tra, đôn đốc phối hợp với các quan quân và binh thứ để phòng thủ và chống trả quân Pháp đang mở rộng và chiếm đánh Bắc kỳ. Tập thơ được sáng tác từ cuối mùa xuân năm 1882 đến cuối năm 1883, bao gồm 47 bài thơ. Có nhiều ý kiến cho rằng, chỉ với tập thơ này, cũng đủ để đưa Bùi Văn Dị lên vị trí những nhà thơ yêu nước. Nhận xét đó, theo chúng tôi là khá xác đáng. Không chỉ thể hiện tấm lòng băn khoăn, khắc khoải của một nhà chí sĩ trước vận mệnh đất nước đang bị giày xéo dưới gót giày của quân xâm lược, Du hiên thi thảo thể hiện tấm lòng yêu thiên nhiên tha thiết, chân thành của một vị thi nhân.
2. Du hiên thi thảo vốn là một tập thơ chinh chiến, nhưng có những lúc, ta nhìn thấy tư thế của nhà Nho - chiến sĩ này mang cốt cách, phong vị của một thi nhân. Suốt chặng đường hành quân, những cảnh sắc thiên nhiên nơi các vùng miền ông đặt chân đến đều được thi nhân ghi lại một cách hết sức tinh tế. Mở đầu tập thơ, thi nhân cho chúng ta đắm mình với cảnh sắc thiên nhiên mùa thu bao trùm lên sông núi, cỏ cây nơi đền thờ vị thần Tản Viên linh thiêng:
謁傘圓山祠
神明百粵祖
體勢萬山尊
樹色自今古
江聲來曉昏
辰聞靈象出
坐聽異禽喧
瘴霧連空際
青青不見痕
Bái yết đền thờ thần núi Tản Viên
Đền thờ vị thần tổ Bách Việt anh linh,
Hình thế ngôi đền được hàng vạn ngọn núi tôn thêm vẻ uy nghi.
Sắc cây xanh mướt đã có từ kim cổ,
Âm thanh tiếng nước chảy dưới sông vọng lên sớm chiều.
Thường nghe chuyện voi thiêng xuất hiện,
Nay ngồi nghe tiếng chim lạ hót ríu ran.
Sương mù, khí núi lan vào nhau không có ranh giới,
Bát ngát một màu xanh không chút gợn pha màu.
Ngôi đền vị tổ thần dân Bách Việt trong sự quan sát của thi nhân càng được tăng thêm vẻ linh thiêng và uy nghi bởi được thế của hàng vạn ngọn núi bao quanh trùng điệp. Sự uy nghi đó được bao bọc trong sắc màu xanh mướt của cỏ cây, của âm thanh tiếng suối chảy róc rách nên thơ đêm ngày. Có đá, có suối, có cây, có tiếng chim lạ hót ríu ran, ẩn vào trong mây mù, sương móc như làn khói chiều nơi rừng thẳm, cộng thêm vào những truyền thuyết tâm linh của chốn đền đài. Tất cả đưa người đọc vào một không gian tĩnh lặng, sâu lắng màu truyền thuyết.
Đó là cảm xúc khi lên núi Bàn A, trong một buổi chiều mùa đông, cảnh sắc mây trời, cái giá lạnh như đang đè nặng trên đôi cánh của con chim lẻ bạn hay cảm giác bồi hồi trước cảnh nước non khi cánh hạc tìm bay về trên núi:
登迴鶴山留題
不見鶴飛迴
空登迴鶴臺
鐘深知寺隱
井漲識潮來
小徑鑿腰出
大江當面開
佳哉山氣夕
獨立為低徊.
Nên núi Hồi Hạc đề thơ
Không thấy hạc bay về,
Đài Hồi Hạc để không.
Nghe tiếng chuông ngân biết chùa ở đâu đây,
Nhìn nước giếng đầy biết triều lên.
Đường nhỏ hẻm núi thắt,
Sông lớn nước mênh mang.
Đẹp thay khí núi về chiều tối,
Ngồi một mình thấy trong lòng bồi hồi.
Hầu như trong tất cả các bài thơ trong tập thơ này đều có hình bóng của thiên nhiên. Đó có thể là sự hiện diện của thiên nhiên khắc nghiệt với những cơn mưa dầm dề, của những con sông “bạo chướng”, nước dâng lên như muốn nuốt chửng những ngôi nhà của người dân nghèo nơi vùng chiêm trũng, (Văn Sơn thành đại vũ tam nhật, tích giang bạo chướng….); đó cũng có thể là những đường núi âm u, trúc rủ, dây leo ngập lối như quấn lấy bước chân người và ngựa trên bước đường hành quân đầy gian khổ (Thất nguyết sư hành quá Nam Xang dạ túc). Trong cơn khắc nghiệt, thịnh nộ của thiên nhiên, con người trở nên lẻ loi, nhỏ nhoi, yếu đuối. Thiên nhiên cũng mang tâm trạng, cũng mang đầy đủ cung bậc cảm xúc của con người. Những lúc chứng kiến sự “làm mình làm mẩy, giận hờn vô cớ” của thiên nhiên, thi nhân xót xa, thương cảm cho số phận của con người, nhưng “chẳng thể oán trách gió thu” (Giải muộn tứ tuyệt). Bước qua những cơn thịnh nộ của thiên nhiên, trời đất trở nên bình lặng, khoe ra cảnh sắc đắm say lòng người. Trong những tháng ngày hành quân gian khổ, thiên nhiên luôn là người bầu bạn, là người sẻ chia làm dịu bớt những mệt mỏi của đoàn quân chinh chiến. Những lúc đắm mình vào thiên nhiên cũng chính là những lúc thi nhân tạm thời quên đi những vất vả gian lao. Thiên nhiên đã trở thành cảm hứng vô tận cho thi nhân. Một ngày dừng chân ở Hoàng Xá, cảnh sắc nơi đây đã khiến thi nhân không khỏi ngẩn ngơ:
黃舍駐次即事四咏辰方六月也
石峒
巖翠低分野色黃
破鐘古塔半斜陽
花枝不動禽聲活
石琥深深九夏凉
Vịnh cảnh khi đóng quân ở Hoàng Xá, có bốn bài thơ:
Động đá
Sắc núi xanh thẳm, phân biệt với đồng ruộng màu vàng sẫm,
Tiếng chuông từ tháp cổ, phá tan sự tĩnh mịch của buổi xế chiều.
Cành hoa không lay động, tiếng muông thú vọng lại,
Hang đá sâu thẳm, mát rượi suốt những ngày hè.
莲湖
若耶玉井路非賒
清絕香泉泽萬家
山下落梅初過雨
正無人不飲荷花
Hồ sen
Dường như có giếng ngọc đâu đó rất gần,
Sắc nước xanh, hòa cùng mùi thơm bao trùm thôn xóm.
Dưới chân núi, một cánh mai rụng xuống trong mưa đầu mùa,
Chính là khi không có người chiêm ngưỡng vẻ đẹp của hoa sen.
山月
碧巇蒼崖繞一城
暮煙籠樹嫩寒生
可憐夜夜空中影
半照詩壇半戍營
Trăng núi
Núi biếc non xanh vây quanh tòa thành,
Khói chiều mờ mịt cổ thụ trời chớm rét.
Đáng thương thay đêm đêm một mình một bóng,
Nửa ở thi đàn nửa ở doanh trại.
野風
南來刁退火雲驕
捲入村溪度晚橋
解慍不關絃一曲
怪予热血未曾澆
Gió đồng
Gió nam về xua tan đi đám mây nóng thiêu đốt,
Gió cuốn vào thôn làm mát dịu dòng khe và cây cầu trong bóng chiều.
Một khúc đàn không có liên quan gì đến việc giải nỗi oán hờn,
Chỉ lạ cho ta, sao bầu nhiệt huyết không vơi đi chút nào.
Bức tranh làng quê hiện lên thật sinh động, thật đầy đủ với cả không gian và thời gian. Có sắc xanh của núi mùa xuân, có màu vàng của lúa đồng trong cái chớm lạnh của buổi đầu thu, có hương sen thơm ngát bao quanh thôn xóm của những ngày mùa hè, có mây, có núi, lồng trong khói chiều, có hang đá, có hoa, có tiếng chim ríu ran, có cả ánh trăng trên sườn núi khi đêm về… Bức tranh với tất cả những âm thanh, sắc màu nhưng khi đọc lên ta vẫn cảm nhận được đó không phải là một bức tranh rộn rã, tràn ngập niềm vui mà thấp thoáng đâu đó là một nỗi buồn nặng trĩu. Thiên nhiên đẹp biết bao, nhưng trong lòng thi nhân ánh trăng chỉ có một nửa “soi nơi thi đàn”, còn một nửa “soi nơi trại lính”. Tiếng đàn không thanh thản cất lên trong đêm khuya thanh vắng khiến cõi lòng người đánh đàn trở nên nhẹ nhành như trút hết ưu tư, mà là tiếng đàn đầy những nốt oán hận, những nỗi oan tích tụ trong từng phím giây không thể giải, là bầu nhiệt huyết căm thù lũ giặc cướp nước chưa một phút vơi nguôi.
Hình ảnh của mảnh trăng cô quạnh, lạnh lẽo thường có mặt trong rất nhiều bài thơ của ông trong tập thơ này. Đó là mảnh trăng lưỡi liềm trong một ngày không gió, không mưa khi nhà thơ đứng tựa mình bên cửa sổ (Trùng dương bắc trú), là mảnh trăng lẻ loi treo lơ lửng phía chân trời xa như rung lên trong tiếng kèn khuya rúc lên bên con sông Đuống (Tiểu lâm trú thứ dạ khởi), là ánh trăng tà in trong chén rượu Bồ đào khi thi nhân ngồi uống rượi với những người dưới chướng trong ngày tết Đoan ngọ (Đoan ngọ tết ẩm chư tá mạn thành)… Ngay cả trong dịp tết trung thu, ngày được xem là trăng sáng nhất trong năm, mảnh trăng cũng mang đầy nỗi niềm xa xứ:
邯城旅館中秋對月
萬里長空捲碧羅
十分明鏡值新磨
關山零落秋剛半
天海蒼茫夜若何…
Ngắm trăng trung thu ở lữ quán Hàm thành
Vạn dặm trên không trung như vừa được vén tấm màn biếc
Bầu trời tựa gấm gương mới được lau sạch
Nơi quan ải mưa rơi lác đác, đã qua nửa mùa thu
Trời biển mênh mang sao đêm mờ mịt…
Trong Du Hiên thi thảo, gần như mỗi bước đi của nhà chí sĩ đều gắn liền với bước chân của nhà thi sĩ. Những cảnh sắc núi non nơi đoàn quân đi qua đều in dấu trong tâm tư của nhà thơ. Trong những bài thơ miêu tả cảnh sắc thiên nhiên đó, ngoài những bài thơ được làm những nơi đóng quân, nghỉ lại đêm, những bài thơ được viết khi đến thăm viếng những đền đài, lăng tẩm, miếu thờ và những núi non gắn liền với những truyền thuyết linh thiêng và những chiến công của các vị anh hùng hào kiệt của dân tộc chiếm một số lượng khá lớn. Tiêu biểu như các bài: Đề Từ Sơn phủ trú quân; Quá Vạn An sơn yết Hưng Đạo Đại vương từ; Cung yết Lê Thái Tổ lăng đề bái; Du Tử Trầm sơn thần nữ miếu; Hựu đăng Tử Trầm sơn Vô Vi tự Vũ Thái Viên, Dục Thúy sơn lưu đề, Du Hương Tích động… có lẽ khi đến nơi linh thiêng này, thi nhân đã mang trong lòng niềm tin vào truyền thống, khí phách anh linh của dân tộc. Phong cảnh thiên nhiên nơi đây trong cảm quan của thi nhân cũng nhuốm màu huyền thoại và yếu tố tâm linh.
3. Với mỗi chúng ta, tình yêu thiên nhiên, quê hương đất nước như một lẽ tự nhiên được vun đắp từ ngày ấu thơ, và thứ tình cảm ấy trở nên thân quen, gần gũi như máu thịt trong mỗi con người. Yêu thiên nhiên cũng chính là biểu hiện tất yếu và đầu tiên trong tình yêu quê hương đất nước. Không biết trân trọng, thương mến cảnh vật, cội nguồn gắn bó với bản thân mình sao có thể yêu thương được những kiếp người xa lạ xung quanh ta. Bùi Văn Dị cũng không nằm ngoài quy luật đó. Với Du Hiên thi thảo, chúng ta tìm thấy trong Bùi Văn Dị một tình yêu thiên nhiên tha thiết. Đó chính là sự nhạy cảm trước những cảnh sắc của thiên nhiên đất trời, là tình yêu với vạn vật, một tâm hồn phải rất tinh tế và nhạy cảm mới có thể viết nên những vần thơ về thiên nhiên đầy màu sắc, âm thanh, sâu lắng và tâm trạng đến thế. Một điều quan trọng hơn mà chúng ta rất dễ thấy trong gần như tất cả các bài thơ viết về thiên nhiên, đó là sức nặng của bức tranh thiên nhiên trong mỗi bài thơ đều dồn vào hai câu thơ cuối. Tình yêu thiên nhiên trong thơ ông luôn gắn liền với tình yêu đất nước. Thiên nhiên, đất trời của đất nước đẹp đến nhường nào, đi đến nơi đâu thi nhân cũng cảm nhận được sự ưu ái của thiên nhiên cho mảnh đất này.
(Thông báo Hán Nôm học 2012, tr.214-224)