PHÁT HIỆN QUẢ CHUÔNG CỔ CHÙA AN CHÂU
NGUYỄN ĐÌNH HƯNG
Sở Văn hóa - Thông tin Thái Nguyên
Chùa An Châu thuộc xã Nga Mi, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên là một ngôi chùa cổ, nằm trên một quả đồi cao ráo ở trung tâm của làng. Phía Đông nam có dòng sông Cầu lịch sử, là một thắng cảnh đẹp nổi tiếng của địa phương. Nhân dân trong vùng thường gọi là chùa Lảo, vì chùa có tên chữ là “Quang Lão tự”. Có lẽ chữ “Lão” được gọi chệch ra là “Lảo” chăng ? Ngoài tên gọi trên, nhân dân còn gọi là chùa An Châu, tên này gắn với tên làng vì đây là ngôi chùa hàng xã, dưới thời Lê Trung hưng là xã An Nhuyễn, thuộc tổng Hà Nhuyễn, huyện Hiệp Hòa, phủ Bắc Hà, đạo Kinh Bắc. Đầu thế kỷ XX, tổng Hà Nhuyễn được gọi là tổng Hà Châu, trong đó có xã An Nhuyễn (cũng được đổi là An Châu) về tỉnh Thái Nguyên. Từ đây, các văn bản hành chính có tên là xã An Châu, thuộc tổng Hà Châu, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Hiện chưa xác định được niên đại khởi dựng của chùa An Châu nhưng từ thời Đức Nguyên nguyên niên (1674) khi đúc quả chuông lớn người xưa đã tôn xưng chùa An Châu là một cổ tích danh lam trong vùng. Theo nhân dân thì công trình kiến trúc cổ kính chùa An Châu còn tồn tại đến năm 1947, sau đó trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp chùa An Châu nằm trong diện tiêu thổ kháng chiến. Năm 1958, nhân dân địa phương đã dựng lại ngôi chùa trên nền cũ. Chùa hiện nay đã được thu nhỏ lại theo kiểu chuôi vồ, nội thất kiến trúc theo lối kẻ truyền bào trơn không trang trí hoa văn. 2 bên sân chùa có 2 dãy nhà, bên tả là nhà có bàn thờ Mẫu, bên hữu có bàn thờ tổ và dùng làm nhà bếp. Hiện nay, trong chùa chỉ còn một số hiện vật như: 1 quả chuông cổ, 1 cây hương đá, 5 bia đá, tượng Phật… có niên đại cuối Lê đầu Nguyễn. Chùa An Châu nằm ở một địa thế đẹp có tiền án, hậu chẩm, giữa làng mạc khá trù mật. Trong chùa có 1 câu đối ca ngợi về cảnh đẹp này như sau:
“Châu ấp hữu triều Quang Lão tự
Dương sơn tả ứng dục anh đài”.
(Ấp An Châu, bên phải có làng tựa cho chùa Quang Lão
Núi đẹp ở bên trái lại càng làm cho chùa đẹp thêm).
Trước cửa chùa là quần thể di tích đình và văn chỉ của làng. Đình An Châu có nhà bát giác kiến trúc cổ rất đẹp. Trên các cấu kiện gỗ của nhà bát giác này được trang trí nhiều hoa văn với các đề tài tứ linh, tứ quý. Trong đình còn lưu giữ được 2 hoành phi, 2 câu đối, 5 tấm bia đá, 12 sắc phong, trong đó có sắc phong ghi rõ sắc cho Dương Tự Minh người đã có công chống giặc Tống bảo vệ đất nước dưới triều Lý, 2 câu đối trong đình ca ngợi công đức của ông như sau:
“Thánh đức huy huy phù Việt địa
Thần công đãng đãng trấn Nam thiên”
(Đức của thánh huy hoàng phù hộ cho đất Việt
Công lao của thánh vang xa mãi ở trời Nam).
“Nhậm mã túc dĩ phân công bán điểm sơn hà quy đế chúa
Phấn thần y nhi phụ quốc ẩn niên hương hỏa đối càn khôn”
(Dùng ngựa tốt bảo vệ đất nước về với vua chúa
Tinh thần cởi mở, chỉnh tề giúp nước giữ hương hỏa cho đời sau).
Những câu đối này có giá trị lịch sử đồng thời có giá trị về mặt nghệ thuật. Một trong những hiện vật có giá trị của chùa An Châu là quả chuông đồng cổ niên đại sớm đúc năm 1674, niên hiệu Đức Nguyên nguyên niên. Đây là quả chuông lớn, thuộc loại “Đại hồng chung”, như trong bài minh chuông đã nhắc đến. Thân chuông cao: 85cm. Miệng chuông loe có đường kính 66cm, dày 5cm. Dáng chuông cao, khỏe, thân chuông đoạn giữa đứng vai chuông khum thu nhỏ về phía trên. Thân chuông được chia thành 4 múi đều nhau, 4 múi đều đặn là 4 đường gờ nổi chạy từ vai chuông đến miệng chuông. Mỗi múi chuông lại được khuôn lại thành 2 ô trên và 2 ô dưới bởi gờ vỏ măng đúc nổi. Ô trên lớn hơn ô dưới, ô trên chiếm 3/4 chiều cao thân chuông, ô dưới chiếm 1/4 thân chuông. Mỗi ô lại được khuôn lại bằng 2 đường gân đúc nổi làm cho thân chuông thêm dày dặn, khỏe mạnh. Phần quai chuông được tạo đúc thành hình đôi rồng chung thân đăng đối. Thân rồng mập, khỏe và thon nhỏ dần về phía cổ. Đoạn cổ rồng chạm vào vai chuông, đầu ngóc lên trên, miệng rồng có ngậm ngọc quý. Chân rồng có 4 ngón, với 4 móng sắc nhọn, cùng với phần cổ dính liền vào vai để gánh đỡ sức nặng của thân chuông. Mắt rồng lồi, trông rất hung dữ. Đoạn giữa hai thân rồng (đỉnh cao nhất của chuông) được tạo hình một bình cam lộ đẹp.
Đoạn giáp thân và vai chuông có đục chìm hình khánh đồng, mỗi múi chuông có 2 ô tất cả 8 ô có khắc 8 chữ tên chuông. Chữ khắc chìm, to theo kiểu chân thư “Quang Lão tự dương trù đại hồng chung” (Chùa Quang Lão đúc quả chuông lớn). Trên các múi chuông khắc kín chữ Hán xen Nôm. Chữ khắc theo lối chân thư đẹp, nét chữ khắc sâu, có nhiều chữ viết tắt (giản thể), không thấy kiêng húy, hay là vì ở nơi làng quê hẻo lánh mà người xưa đã không “khắt khe” việc này (?). Phần miệng chuông hình loe, được khắc hoa văn cánh sen mập có những chấm tròn bên trong, khi chuông được đánh tiếng kêu rất vang. Nói chung, đây là quả chuông có trang trí hoa văn trên thân chuông không nhiều, nhưng nét khắc khá tinh vi, điêu luyện, là quả chuông lớn, bố cục hình dáng và trang trí hoa văn thanh thoát, đường nét trơn tru, có niên đại tuyệt đối.
Phần chính văn của bài minh chuông nằm ở phần đầu gọn trong 1 ô lớn, nội dung là một bài luận về giáo lý nhà Phật, ca ngợi đức Phật từ bi đã ban phát khuyến hóa tới chúng sinh những điều thiện tín. Tiếp sau đó có một bài minh 38 câu thơ cổ hay, nội dung ca ngợi cảnh đẹp của quê hương, trong đó có những câu:
“Thư tạo Nam thiên
Lộ hàm Bắc địa
Hà phủ lộc hình
Hiệp Hòa thụy khí
Đông an thắng phối
Trường lão danh tự
Cổ tích minh lam
Hữu hữu triều sơn
Y y đạt thủy
Địa vực tối linh
Nhân tài vật bác
Thiên đạo hà trạch
… …
(Còn 19 câu thơ nữa)
Thiên ân giáng phúc
… diễn … tăng
Huy xương huy chức
Thiện tai thiện tai
Thịnh hỹ thịnh hỹ
Khắc thị ngạn ngôn
Truyền chi vạn thế !
Tiếp phần này ghi tên những gia đình dòng họ ở phủ Bắc Hà, huyện Hiệp Hòa, xã An Nhuyễn công đức đúc chuông. Vì nhiều người thập phương thuộc các phủ, trong và ngoài huyện làm công đức, cho nên người ta đã khắc tất cả các họ tên, quê quán, số tiền của họ vào khe trong lòng gờ của quả chuông. Cuối cùng của chuông dành để khắc niên đại: “Hoàng triều Đức Nguyên vạn vạn niên chi tuế tại nguyên niên, nhị xuân, xuân tiết cốc nhật” (Chuông đúc được đúc hoàn thành vào ngày tốt, tháng hai, mùa xuân đời vua Lê Đức Nguyên nguyên niên (1674), chúc vạn vạn vạn tuế). Chúng tôi đã nghiên cứu tài liệu về niên biểu các đời vua chúa Việt Nam được biết niên hiệu Đức Nguyên là niên hiệu của vua Gia Tông Mỹ Hoàng đế Lê Duy Cối (1661-1675), đời vua thứ 20 (vua thứ 19) của nhà Lê và đời thứ 10 (Lê Trung hưng). Ông là con thứ 3 của vua Lê Thần Tông (Lê Duy Kỳ). Lên ngôi năm 11 tuổi (1672) với 2 niên hiệu là Dương Đức (1672-1673) và Đức Nguyên (1674-1675), sau đó bị chết vào năm 1675, thọ 14 tuổi. Cuối cùng có ghi tên sinh đồ người soạn minh chuông.
Chùa An Châu là một trong những ngôi chùa cổ còn lưu giữ được quả chuông có niên đại sớm nhất ở Thái Nguyên. Chùa và đình An Châu nằm trong quần thể các di tích thuộc tuyến phía bắc sông Cầu giúp cho khách tham quan muốn nghiên cứu tìm hiểu về các di tíchkiến trúc nghệ thuật và tôn giáo tín ngưỡng như: Chùa Úc Kỳ, di tích còn kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu, Núi Đồn gắn với cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương (Quận Hẻo) một loạt các ngôi chùa như: chùa Nga Mi có 20 cột đá, có tấm bia cổ thời Lê Chính Hòa có 34 câu thơ hay, và những ngôi đình thờ danh tướng Dương Tự Minh còn lưu giữ được nhiều hiện vật quý giá, phong tục tập quán truyền thống lâu đời của nhân dân được trân trọng gìn giữ như những vật báu của dân làng. Với tình cảm của những con người chân quê, giản dị với tình người mến khách sẽ làm hài lòng quý khách về thăm quần thể di tích lịch sử văn hóa có cổ vật quý hiếm này.
Thông báo Hán Nôm học 2004 (tr. 248-252)