29. Tìm hiểu đôi nét văn bản truyện Nôm Tày Trương Hán - Mẫu Đan (TBHNH 2011)
TÌM HIỂU ĐÔI NÉT VĂN BẢN
TRUYỆN THƠ NÔM TÀY TRƯƠNG HÁN - MẪU ĐAN
TRẦN THỊ THU HƯỜNG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Văn bản tác phẩm truyện thơ Trương Hán - Mẫu Đan, là một tác phẩm rất quen thuộc với đồng bào dân tộc Tày, được lưu truyền rộng khắp trong mọi tầng lớp nhân dân lao động. Trương Hán - Mẫu Đan là hai nhân vật chính trong truyện và tên của hai nhân vật này cũng được lấy làm tên sách. Chúng tôi xin giới thiệu đôi nét cùng bạn đọc
1. Về văn bản tác phẩm
Qua khảo sát sơ bộ tác phẩm truyện thơ Trương Hán - Mẫu Đan bước đầu chúng tôi được biết. Hiện nay trong kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm có lưu giữ một văn bản chép tay truyện thơ Trương Hán - Mẫu Đan, đó là văn bản mang ký hiệu: ST. 2230, khổ 27,2 x 17,4cm. Văn bản còn giữ được khá đầy đủ. Trang 1a dòng chữ phía ngoài sát mép sách bị mủn rách mất gần hết chữ, dòng thứ hai cũng bị mất một số chữ. Các tờ khác, hai góc ở phía mép sách đều bị rách và bị mất một số chữ. Từ trang 12 a đến trang 16 b máp sách bị rách, từ trang 15b đến trang 20a phần phía trên góc sách bị mối đục hơi rách, từ trang 8a đến trang 10b mép sách phía dưới bị rách và bị mất một số chữ, các trang sách đều bị ố vàng. Văn bản đã được tu bổ lại toàn bộ và được đóng lại bằng bìa cậy đen, có một tờ lót đầu và một tờ lót cuối.
Toàn bộ văn bản gồm 64 trang giấy dó (32 tờ), trong đó từ trang 1a đến trang 30a là những trang ghi toàn bộ nội dung truyện thơ, từ trang 30b đến trang 32b không thuộc nội dung của truyện thơ. Trang 1a gồm 7 dòng, từ trang thứ 1b đến trang thứ 7b mỗi trang có 8 dòng, từ trang 8a đến trang 15b mỗi trang có 9 dòng, từ trang 16a đến trang 16b mỗi trang có 8 dòng, từ trang 17a đến trang 29b mỗi trang có 9 dòng, trang 30a có 8 dòng. Mỗi dòng có khoảng từ 20 đến 26 chữ. Chữ viết tay đẹp, rõ ràng, dễ đọc.
Văn bản truyện thơ Trương Hán - Mẫu Đan gồm 1680 câu, được làm theo thể thơ "thất ngôn trường thiên". Các câu thơ đã được ngắt bằng dấu chấm tròn màu mực đỏ, truyện thơ được chia làm 13 đoạn, cách mỗi đoạn lại được đánh dấu bằng dấu ngoặc dài màu mực đỏ. Các tên riêng trong tác phẩm đều được đánh dấu bằng màu mực đỏ bằng một nét gạch dọc. Ngôn ngữ văn tự được sử dụng trong văn bản truyện thơ là ngôn ngữ Nôm Tày, trong đó có xen lẫn ngôn ngữ Hán và Nôm Việt.
Văn bản không ghi niên đại sáng tác và cũng không ghi niên đại sao chép, văn bản không ghi tên tác giả và cũng không ghi tên tác phẩm. Ở phía dưới trang 29b có đóng một con dấu hình chữ nhật bằng mầu mực đen. Trang 30a ở góc phía dưới bên trái mép sách có đóng một con dấu hình chữ nhật (nhỏ hơn con dấu ở trang 29b) bằng màu mực đen. Trang 30b ở phía bên phải của mép sách cũng được đóng hai con dấu hình chữ nhật bằng màu mực đen.
Trang 5a ở phía trên mép sách có ghi "Nguyễn Văn Thọ, Khuổi Tăng, Bản Tấu, Cao Thượng". Dòng cuối cùng của trang 30a có ghi: "Quảng Thụ tổng Quảng Thụ xã Bắc Ngòi thôn chính địa phương Ba Bể nguyên" (Nguyên thuộc đất Ba Bể thôn Bắc Ngòi, xã Quảng Thụ, tổng Quảng Thụ). Bên cạnh dòng chữ đó người đời sau có ghi một dòng chữ tiếng Việt là: "Nguyễn Văn Thọ, Bảo Tàng, Bản Tấu, Cao Thượng, Ba Bể". Vậy qua đó chúng ta có thể nói văn bản truyện thơ Trương Hán - Mẫu Đơn này là văn bản truyện thơ Nôm của người Tày vùng Ba Bể - Bắc Cạn.
2. Về tác giả và niên đại tác phẩm
Điều đáng chú ý nhất trong thể loại truyện thơ Nôm Tày đều là các tác phẩm khuyết danh, không ghi niên đại xuất xứ. Tác phẩm truyện thơ Trương Hán - Mẫu Đan cũng là một trong những tác phẩm như vậy. Hầu hết các tác phẩm truyện thơ Nôm Tày đều được lưu truyền rộng khắp trong mọi tầng lớp nhân dân lao động, thậm chí đến mức thuộc lòng, trở thành văn học truyền miệng, truyền từ người này sang người khác, từ địa phương này sang địa phương khác, từ đời này sang đời khác. Thấy nội dung truyện hay, những người biết chữ sao chép lại để lưu truyền, hoặc để ngâm nga trong lúc nhàn rỗi và được lưu truyền cho đến ngày nay.
3. Về thể loại tác phẩm
Tác phẩm thuộc thể loại truyện thơ, với hình thức thơ thất ngôn trường thiên. Chữ thứ bảy của câu trên vần với chữ thứ năm của câu dưới. Tác phẩm truyện thơ Trương Hán - Mẫu Đan là một truyện thơ khá dài, gồm 1680 câu, kết cấu truyện đơn giản, giàu tính dân gian. Nhiều câu trong tác phẩm được viết bằng lời thơ mộc mạc, khiến cho người đọc cảm thấy câu thơ không được mượt mà trau chuốt, nên tác phẩm truyện thơ Trương Hán - Mẫu Đan đã được quảng đại quần chúng dân tộc Tày xưa yêu thích.
4. Nội dung tác phẩm
Tác phẩm truyện thơ Trương Hán - Mẫu Đan gồm 1680 câu được chia làm 13 đoạn với nội dung cốt truyện thư sau:
Mở đầu truyện kể về hai người bạn nhân nghĩa ở huyện Sơn Dương là họ Lương và họ Trương, họ đều đi thi và đỗ làm quan. Ít lâu sau, họ Lương sinh được cô con gái xinh đẹp tên là Thị Lương, còn họ Trương thì sinh được con trai tuấn tú tên là Trương Hán. Hai bên hẹn ước đến ngày rằm tháng ba thì gả con gái Thị Lương cho nhà họ Trương. Trương Hán - Thị Lương lấy nhau được ba năm, thì bố mẹ Trương Hán qua đời. Trương Hán phải bán hết đất đai ruộng vườn để làm phúc cho bố mẹ quy tiên, sau đó Trương Hán trở thành kẻ mồ côi nghèo khổ và phải về sống ở nhờ nhà vợ.
Bố mẹ Thị Lương thấy Trương Hán rơi vào hoàn cảnh như vậy bèn hắt hủi Trương Hán và đòi Thị Lương để gả cho nhà giàu ở bản khác. Thị Lương khóc than xin bố mẹ thương cho nghĩa vợ tình chồng tao khang nghìn trùng, nhưng bố mẹ nàng không nghe. Bố nàng trả tiền cho Trương Hán và đuổi Trương Hán ra khỏi nhà, Trương Hán không nhận tiền và bảo "của này để trả công cho nàng". Trương Hán an ủi Thị Lương và dặn Thị Lương về làm dâu nhà giàu thì hãy nhớ tới bạn Trương Hán đói khát. Trương Hán trở về bản xã, xin ăn với bác bá nuôi thân, lòng luôn nhớ tới Thị Lương. Thị Lương lấy chồng ở cùng nhà nhưng không hòa thuận, lòng vẫn nhớ tới Trương Hán.
Trương Hán ở chốn trần gian đi xin ăn khắp các bản làng, làm việc cấy cày nuôi miệng. Thấy Trương Hán hiền lành chăm chỉ Bụt liền giúp đỡ, bèn cho chàng về chốn rừng núi để tìm nàng Thị Lương. Một tháng ngồi ở trong rừng hoang, Trương Hán gặp được sứ tiên, nàng tên là Mẫu Đan, con của Ngọc Hoàng thượng giới bị lạc xuống chốn rừng hoa. Chàng kể hết sự tình cho sứ tiên nghe, hai người kết bạn và cùng lên duyên vợ chồng. Trương Hán rủ Mẫu Đan ở lại dương gian với chàng, tiên sa rất vui mừng. Trương Hán đưa vợ về chốn quê, mọi người trong bản đến hỏi thăm chúc mừng Trương Hán lấy được nàng tiên thượng các.
Nhà vua biết tin Trương Hán lấy được vợ tiên bèn sai thừa tướng đi đến nhà Trương Hán bắt vợ chồng Trương Hán phải đi kinh kỳ chầu vua. Sau đó vua phong cho Trương Hán cầm quyền, lên ngựa đi kinh kỳ Tràng An, còn chúa tiên thì xin về chốn quê. Một ngày Trương Hán đến bản Thị Lương, biết tin chồng Thị Lương đã chết bỏ lại nàng một mình còn trẻ. Trương Hán ngồi trên yên ngựa, trông thấy Thị Lương bên đường, liền hỏi thăm nàng, nàng khóc than và kể lại đầu đuôi câu chuyện cho Trương Hán nghe. Trương Hán cho Thị Lương hạp vàng và khuyên nàng hãy trở về cố hương sinh sống, nhưng bố mẹ nàng không cho nàng về. Thị Lương lại ngồi khóc bên đường, Trương Hán thấy em ngọc khóc than giữa đường bèn mời vào nhà. Tiên sa thấy Thị Lương than khóc, bèn nói với Thị Lương chớ buồn, mai sau hãy về ở cùng anh.
Một ngày Ngọc Hoàng ngồi trên ngai vàng điện rồng, mới điểm các nữ nhi cai bể và thấy thiếu em Mẫu Đan. Ngọc Hoàng bèn sai người đi tìm Mẫu Đan về trời. Mẫu Đan chia tay với Trương Hán và dặn "Anh hãy ở cung các nhà cao, hãy lấy nàng Thị Lương làm vợ". Trương Hán nước mắt chan không dứt xin được cùng nàng về chốn Thiên Nhan lạy Bụt, nhưng vì là người trần gian nên Bụt không cho Trương Hán vào chầu. Mẫu Đan bèn kể lại hành trình bị lạc đường xuống trần gian và được Trương Hán cứu giúp rồi lên duyên chồng vợ. Bụt thấy Trương Hán ở trần gian nhân đức liền cho vào lạy Bụt. Sau đó Mẫu Đan lại xin được xuống nhân gian để định chốn nhân duyên. Mẫu Đan bảo Thị Lương ở lại và cùng nhau làm ăn sinh sống.
Về ở chốn trần gian, đúng lúc Phàn vương nước Tống dấy binh xâm chiếm Nam Việt. Vua sai Trương Hán đi cứu nạn quốc gia và Mẫu Đan đã gọi binh mã ở Thiên Nhan về giúp chồng đánh tan quân Phàn. Vợ chồng Trương Hán được vinh hoa phú quý, sau đó Mẫu Đan sinh được con trai quý tử, đặt tên là Trương Can, Thị Lương cũng sinh con đặt tên là Trương Quải. Vợ chồng được hỉ hả mừng vui, hai con cũng yên bề gia thất, phú quý được vinh hoa đời đời.
(Thông báo Hán Nôm học 2011, tr.699-703)