29. Văn bia chùa Vĩnh Phúc xã Thiệu Nguyên huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (TBHNH 2012)
29. Văn bia chùa Vĩnh Phúc xã Thiệu Nguyên huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (TBHNH 2012)
VĂN BIA CHÙA VĨNH PHÚC
XÃ THIỆU NGUYÊN HUYỆN THIỆU HOÁ, THANH HOÁ
NGUYỄN VĂN HẢI
Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Thanh Hoá
trong đợt đi khảo sát điền dã trên địa bàn huyện Thiệu Hóa, chúng tôi phát hiện tại thôn Thành Nguyên xã Thiệu Nguyên huyện Thiệu Hóa còn lưu giữ được một văn bia. Bia được làm bằng một tấm đá nguyên khối, khắc hai mặt, dựng trên bệ hình chữ nhật. Trán lượn hình tam sơn, chạm khối nổi hình hổ phù hóa vân, viền đáy và hai viền biên khác sen hóa vân, nét mập. Bia dựng vào cuối thu năm Ất Tỵ niên hiệu Thiệu Trị thứ 5 (1844). Người soạn là Nguyễn Viết Độ, Nguyễn Viết Chung, mỗi mặt khoảng 23 dòng 470 chữ.
Thông qua nội dung văn bia được biết thôn Thành Nguyên xã Thiệu Nguyên vốn được khởi lập từ thời Hậu Lê, ban đầu thuộc ấp Trinh Sơn, xã Phù Lê, tổng Phùng Cầu, huyện Lương Giang, phủ Thiệu Thiên. Cuối triều Lê Trung hưng đổi thành Lê Vi huyện Thụy Nguyên. Năm Tự Đức thứ 14 (1861) vì tránh tên húy của mẹ Định vương Nguyễn Phúc Thuần là Nguyễn Thị Cầu nên tổng Phùng Cầu đổi thành Phùng Thịnh. Ở vùng đất này, xưa kia có ngọn núi gọi là Trinh Sơn, trên đỉnh núi phong cảnh thoáng đãng mà đẹp đẽ, vì thế mà dựng chùa. Phía tả núi dưới triều Lê Trung hưng đã chọn đặt Sơn lăng vua Lê Ý Tông. Cuối giai đoạn triều Nguyễn, ngôi chùa được di dời về phía đầu làng và lăng mộ vua Lê Ý Tông ngày nay không rõ ở vị trí nào? Còn hay mất? Tại địa điểm chùa mới ngày nay, người dân mới tìm thấy văn bia lâu nay bị lạc trong nhà dân nên vận chuyển đưa ra dựng tại sân chùa, xin giới thiệu nội dung mặt chính văn bia như sau:
VĨNH PHÚC TỰ BI KÝ
Thiệu Nguyên, Phù Nguyên, cổ Lương Giang huyện, Trinh Sơn ấp dã Lê khai sáng sơ tứ danh Phù Lê, kim cải Lê Vi. Nguyên ấp hữu thổ sơn danh Trinh Sơn, Lê Ý Hoàng sơn lăng tại yên. Sơn chi lăng hữu tự, hiệu Vĩnh Phúc hữu cổ danh lam dã.
Tương truyền trung di sơn lệ, hậu phục tại thử, cổ tích phùng một, cái bất khả kính, cận hữu quí quan thú ấp nhân giả, hậu trùng tu chi mộc, tịch nhi tường nhật tân đồi địa, đồng ấp viện mưu chiếu {} công ấp chi thiện tiến, lạc ư quyên bối thập phương chi nhân, xả thi ấp binh phục đạc chung dĩ bị hồng khí, ô luân hợp tác dĩ Ất Tị xuân trọng kinh thủy lịch hạ tồ thu công thuân. Tự phàm tam thổ thần miếu, nhất phàn môn nhất giai lương tài kiên phàn chế diệc hiên hạt hồng chung nhất thanh, thậm hưởng lượng cổ tích danh ba khí sắc tăng lệ, ấp nhân lạc công chi thành, nhân bi dĩ ký kỳ sự.
Hô tự am nhi hưng, cổ nhân ký chi hỹ, hà dĩ bi vi nhiên, địa danh chi diên cách, thế đại chi cánh điệt, thiên vạn niên hậu kính cổ bằng điếu tương ư thị hồ tại {} khả bi dĩ nhược. Phù sơn xuyên chi tú lệ, cảnh vật duy u nhã, duy đăng lâm giả chi sở tự thích bi hà dĩ ngôn.
Minh viết:
Báo ứng chi thuyết,
Dư dịch tòng nhi chất chi.
Cổ hậu chi tích,
Tương nhân thị nhi thuật chi.
Thời Hoàng triều Thiệu Trị vạn vạn niên, chi ngũ tuế tại Ất Tị quí thu trung hoàn cốc nhật cung ký.
Hội chủ Nguyễn Văn Bản, Nguyễn Thông, Nguyễn Dụng Văn, Nguyễn Ngọc Lâm.
Giám tu Nguyễn Đăng Văn, Nguyễn Bá Thăng, Nguyễn Viết Đình, Nguyễn Đình Đoan, Nguyễn Văn Nhai, Nguyễn Lệnh, Ty bạ Nguyễn Đình Cẩn, Nguyễn Dụng Thùy, Nguyễn Hữu Hi, Nguyễn Đình Vị, Nguyễn Văn Toàn.
Cung soạn Nguyễn Viết Độ, Tống Viết Chung.
Nhuận sắc: Nghệ An, Quỳnh Thọ, Giáp Ngọ hương, Biển Mai Xuyên Trần Trọng Ngọc phủ.
Hiệu đính: Nguyên sĩ Hà Trung phủ, Tri phủ Nguyễn Lương Xuyên túc phủ.
Cung tả Tú tài Nguyễn Lệnh Xuyên, Nguyễn Đức Quận.
Văn hội Nguyễn Thời Thái.
Dịch nghĩa:
BÀI KÍ TRÊN BIA CHÙA VĨNH PHÚC
Xã Phù Nguyên huyện Thụy Nguyên xưa là ấp Trinh Sơn huyện Lương Giang, được khai mở từ triều Lê. Ban đầu được tặng cho tên là Phù Lê, sau đổi thành Lê Vi. Nguyên ấp ấy có một núi đất gọi là Trinh Sơn, sơn lăng vua Lê Ý Tông đặt tại đó. Ở phía đông núi có chùa, gọi là chùa Vĩnh Phúc, từ xưa đã là một danh lam. Tương truyền trên núi thoáng đãng mà đẹp đẽ vì thế đã chọn nơi đây để dựng chùa. Dấu tích từ xưa, sương mờ khói tỏa, cho nên không thể không yêu kính.
Gần đây có một quí quan lấy người bản ấp, phát tâm cung tiến gỗ trùng tu. Vì lâu ngày (chùa) đã dần sụp đổ, cả ấp bàn bạc cùng chung sức trùng tu, quyên góp thêm của cải của khách thập phương. Cộng thêm sự giúp đỡ của binh lính trong ấp đã phục đúc một quả chuông lớn thể hiện sự đồng lòng của mọi người.
Vào mùa xuân năm Ất Tị bắt đầu tiến hành, trải đến mùa hạ công việc hoàn thành. Chùa có ba miếu thổ thần, tất cả đều dùng làm nơi thờ cúng, đã được sửa chữa, trùng tu và đúc được quả chuông lớn. Âm thanh vang khắp trong huyện hạt tạo lên âm hưởng to lớn ở nơi cổ tích càng làm cho danh thắng thêm tươi đẹp, thêm tráng lệ. Người trong ấp vui mừng vì công việc được hoàn thành, nhân đó lập bia để ghi chép sự việc.
Ô hô! chùa am được hưng tạo, người xưa đã gây dựng, sao lại không lập bia để ghi chép diên cách địa danh, để con cháu muôn đời, ngàn vạn năm sau, kính nhớ việc xưa. Vì thế nay đã lập bia ghi lại. Ôi, núi sông tú lệ, cảnh vật diệu kì khiến người lên núi được thỏa chí của mình, thì còn gì phải nói!
Có bài minh rằng:
Thuyết của báo ứng,
Là dựa vào chất phác.
Tích xưa để lại,
Nay chỉ việc kể ra.
Dựng bia vào ngày tốt cuối thu năm Ất Tị niên hiệu Thiệu Trị thứ 5 (1844).
Kính cẩn ghi chép.
Hội chủ hưng công: Nguyễn Văn Bản, Nguyễn Thông, Nguyễn Dụng Văn, Nguyễn Ngọc Lâm.
Giám sát việc tu sửa: Nguyễn Đăng Văn, Nguyễn Bá Thăng, Nguyễn Viết Đình, Nguyễn Đình Đoan, Nguyễn Văn Nhai, Nguyễn Lệnh. Ty bạ Nguyễn Đình Cẩn, Nguyễn Dụng Thùy, Nguyễn Hữu Hi, Nguyễn Đình Vị, Nguyễn Văn Toàn.
Kính cẩn soạn văn bia: Nguyễn Viết Độ, Tống Viết Chung.
Nhuận sắc: Trần Trọng Ngọc, tước Mai Xuyên hầu, người làng Giáp Ngọ, huyện Quỳnh Thọ, tỉnh Nghệ An.
Hiệu đính: Nguyễn Lương Xuyên, nguyên giữ chức quan Tri phủ phủ Hà Trung.
Kính cẩn viết chữ: Tú tài Nguyễn Lệnh Xuyên, Nguyễn Đức Quận, Văn hội Nguyễn Thời Thái.
(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.245-249)