VI | EN
3. Chân dung Hoàng đế LÊ HIẾN TÔNG qua văn bia (TBHNH 2005)
TBHNH 2005

CHÂN DUNG HOÀNG ĐẾ LÊ HIẾN TÔNG
QUA VĂN BIA

TRẦN THỊ KIM ANH

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Vua Lê Hiến Tông tên húy là Tranh, con đích của vua Thánh Tông, mẹ là Trường Lạc thái hậu Nguyễn Thị Huyên - con gái thứ hai của Thái úy Trinh Quốc công Nguyễn Đức Trung, người ở Gia Miêu, Tống Sơn, Thanh Hóa. Đức vua sinh ngày mồng 10 tháng 8 năm Đinh Sửu niên hiệu Quang Thuận thứ 2 (1461). Ngày mồng 4 tháng 12 năm Nhâm Ngọ niên hiệu Quang Thuận thứ 3 (1462), được sách lập làm Hoàng thái tử. Ngày mồng 6 tháng 2 năm Đinh Tỵ niên hiệu Hồng Đức thứ 28 (1497), 36 tuổi, đức vua lên nối ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Cảnh Thống. Ngày 24 tháng 5 năm Giáp Tý niên hiệu Cảnh Thống thứ 7 (1504) qua đời ở tuổi 43, đang độ tuổi đẹp nhất đối với những người làm chính trị.

Với 7 năm ở ngôi, đức vua đã để lại trong chính sử những dòng ghi nhận tốt đẹp về mình như sau: “Vua thiên tư anh minh thông duệ, giữ vận thịnh trị thái bình, mới trong khoảng 7 năm mà thiên hạ bình yên, xứng đáng là bậc vua giỏi giữ cơ đồ, thế mà ở ngôi không lâu, đáng tiếc thay”(1). Vì thời gian ở ngôi quá ngắn nên thời kỳ trị vì của ông cũng chỉ xuất hiện trong chính sử với vài chục trang ít ỏi, do đó tuy được khen ngợi như vậy nhưng những gì được biết về vị vua này hết sức sơ sài. Tuy nhiên để bù lại, tư liệu trên một số bia đá có thể góp phần dựng lại khá đầy đủ và sinh động về cuộc đời, tài năng và nhân cách của đức vua, dưới đây chúng tôi xin điểm qua các thông tin từ một số văn bia có liên quan đến đức vua để cung cấp thêm tư liệu cho các nhà nghiên cứu về vị vua anh minh này.

Trước hết, xung quanh sự kiện đức vua ra đời, chính sử và Đại Việt Lam Sơn Dụ lăng bi(2) [Dụ lăng] cùng chép thống nhất về hiện tượng mang tính điềm triệu rằng: “Quang Thục Hoàng Thái hậu từng làm lễ cầu đảo, một đêm mộng thấy đến chỗ Thượng đế khẩn cầu sinh được hoàng tử. Thượng đế nói: “Cho Thiên Lộc làm con Nguyễn thị”, rồi cho ẵm về. Bấy giờ Thái hậu vừa mới vào ở cung Vĩnh Ninh thì có mang, khi đủ tháng, mộng thấy rồng vàng từ trên trời bay vào chỗ ở, một lát thì sinh vua”. Ngoài ra Bia Hiển Thụy am bi(3) do Lễ bộ Tả thị lang kiêm Hàn lâm viện Thị độc Chưởng hàn lâm viện sự Nguyễn Bảo phụng sắc soạn vào niên hiệu Cảnh Thống thứ 3 (1500) còn cho biết thêm về việc cầu đảo này: “Khi Trường Lạc Hoàng hậu có mang, Trinh Quốc công [Nguyễn Đức Trung] sắp đặt việc cầu đảo cho Hoàng hậu ở am Từ công, chùa Thiên Phúc núi Phật Tích. Vừa bắt đầu làm lễ thì bỗng có một phiến đá bay lên rơi xuống trước mặt, Trinh Quốc công ôm lấy rồi kín đáo sai thợ tạc một pho tượng Phật, để phiến đá vào trong, lập một cái am để thờ gọi là am Hiển Thụy [hiển hiện điềm lành]”, sự kiện này đã được tác giả văn bia Hiển Thụy phân tích khá sâu sắc bằng thuyết Thiên Nhân cảm ứng của Nho gia.

Về quá trình trưởng thành, về tính cách cũng như chính tích trong bẩy năm ở ngôi của đức vua, văn bia Dụ lăng cho biết khá chi tiết, qua đó có thể thấy ngài là người hết sức nhân ái, khoan dung độ lượng, ham học, dám làm, luôn có ý chí và tham vọng giữ vững và phát triển nền chính trị tốt đẹp của cha ông để giúp cho dân giàu nước mạnh. Tuy nhiên để có được ý chí đó đức vua đã được thực tập rèn luyện rất nhiều trong thời gian ở ngôi thái tử. Văn bia cho biết khi còn là Thái tử, đức vua luôn có ý thức chăm lo bồi đắp bản lĩnh của một bậc đế vương theo đúng mẫu mực của đạo đức Nho gia: “Mỗi khi cùng giảng quan bàn luận về kinh sách, phàm có điều gì liên quan đến đạo trị nước, tất nghiên cứu đi nghiên cứu lại, cốt yếu để có thể dựa vào đó mà làm. Lại thường hỏi mọi người xung quanh về nỗi khốn khổ nơi thôn xóm, sự gian nan của nghề nông, cho nên mọi chuyện cổ kim, mọi việc đồng áng vua đều biết rất kỹ. Năm vua 36 tuổi [năm đức vua lên ngôi], đức nghiệp ngày càng tăng tiến, nhân hiếu nổi danh thiên hạ.”

Văn bia xác nhận: Sau khi lên ngôi, Đức vua theo điển chương thánh hiền thi hành nhân chính, thực hiện một chế độ chính trị trong sáng ổn định, chuyên ở chỗ lấy đức hóa dân. “Vừa mới hai năm thiên hạ đại trị, thịnh đạt như thời Hán Văn Đế, Đường Thái Tông cũng chẳng sánh tày”. Vừa lên ngôi, đã cho thi hành hàng loạt những mệnh lệnh khoan hòa nhân đức để yên lòng dân như: “cho thả vài trăm cung nữ, bãi sứ truy khám tứ dân, những người nghèo túng già yếu trong quân ngũ thì tha thải cho về, thuế khóa sai dịch công trình hơi nặng thì cho giảm nhẹ. Tha kẻ lầm lỡ, giãi tỏ oan khuất, bổ lại người mất chức, khen thưởng kẻ có công, xóa bỏ nợ nần, khoan dung quân phạt, nêu gương tiết nghĩa, chẩn cấp mồ côi, cất nhắc liêm khiết, tiến cử hiền tài.”

Là vị vua có tư tưởng thân dân, nhân ái, lại được học tập hiểu biết nhiều về nông nghiệp ngay từ khi còn là thái tử, thêm có cái nhìn sâu sắc của một chính trị gia về vai trò của nông nghiệp đối với một xã hội “dĩ nông vi bản” nên ngay khi vừa lên nắm quyền, chính sách hàng đầu của nhà vua là những chính sách về nông nghiệp, nhằm củng cố phát triển sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân để tăng cường tích trữ nhà nước cũng như tư nhân: Văn bia cho biết: “Vua xem sổ tiền thóc của Hộ tào dâng lên, đồng thời hỏi han thêm các quan tả hữu để biết rõ tình hình dự trữ lương thực trong tư nhân và của nhà nước rồi từ đó luôn để ý vào nông sự, ban thủ sắc cho quan Thừa - Hiến phủ huyện phải đi tuần xét, khuyến khóa nhân dân sửa đắp đê điều, khơi ngòi lạch mương máng, lập bờ ruộng để phòng hạn hán lụt lội. Lại phân công triều thần kiểm tra xem xét, mỗi xã bắt một người làm xã trưởng, chuyên nắm nông sự, lại bắt mấy xã đặt một chức nông trưởng để rà soát đốc thúc. Quan ngoại nhậm có việc về kinh hoặc triều sứ từ ngoài đến đều cho triệu vào hỏi mùa màng được mất ra sao, trăm họ sướng khổ thế nào. Lính và thợ đến phiên, theo tiền lệ thì vào tháng 6, tháng 10 được chia ra một nửa cho về làm ruộng, vua đặc mệnh cho vào tháng 5 và tháng 11 cũng được cho về, khiến cho tận dụng được hết sức lính vào việc đồng áng, do đó mà tích lũy tư nhân và nhà nước đều rất đầy đủ. Ruộng ở Quảng Nam phần nhiều chưa khai khẩn, vua hạ chiếu cho dân ven Thuận Hóa, ai tự nguyện dời đến thì cho phép, vì vậy người thì có tài sản, ruộng đất thì không còn bỏ hoang, miền biên viễn ngày càng thêm đông đúc”.

Sau những chính sách về kinh tế là các cải cách về quốc phòng. Để có một quân đội tinh nhuệ đủ khả năng bảo vệ đất nước, đức vua luôn lưu tâm quản lý quân đội rất chu đáo cẩn mật. Đã kiên quyết cho thực hiện những cải cách về tổ chức trong quân đội để được hoàn thiện hơn. Văn bia chép: “Thời trước lính ở các vệ đều tán bổ không phân theo xã, triều đình nhiều lần muốn sửa đổi lại cho hợp lý, những người tham gia nghị bàn đều cho là rất khó, vua vẫn quyết ý làm, hạ chiếu cho chư quân trong ngoài kinh phải chiểu theo quê quán biên chế về đội ngũ để được thường xuyên rà soát lẫn nhau, thân ái với nhau. Lại ban chiếu cho Vũ khố của chư quân đang đặt rải rác phải dời về tập trung một nơi, xây tường vây lại để tiện kiểm giữ. Xưởng thuyền quân phòng phải chia về trực thuộc các đội thuyền để định trách nhiệm, khiến cho kẻ tạo tác không làm giả trá được, người trông giữ không lười biếng bê trễ được. Quân phí nhờ vậy mà giảm bớt. Mỗi năm diễn tập lớn, vua đều tự thân duyệt bộ binh ở Giảng Võ đình, duyệt thủy trận ở bến Đông, lại lệnh cho tướng soái mỗi tháng thao luyện bốn lần, do vậy mà quân đội rất tinh nhuệ. Ngoài ra các việc cấm phòng khác không gì là không cặn kẽ chi tiết.”

Nếu vua cha (Lê Thánh Tông) là vị vua có chính sách đối ngoại khá “rắn” đối với lân bang, luôn cho tiến hành những cuộc đánh Nam dẹp Tây thì ngược lại, vua con Lê Hiến Tông lại có một chính sách hết sức mềm mỏng và đã đạt được những thành tựu đáng kể trong quan hệ với các nước láng giềng. Về điều này văn bia cũng cho biết khá chi tiết: “…Tuy nghiêm sức võ bị nhưng chưa từng dùng đến. Bấy giờ, Tù Luật, Đặc Thi Bà Lai của Chiêm Thành có lúc đến đánh phá, vua chỉ sai tướng nhỏ đem quân đến biên cảnh dùng sắc thư trách hỏi mà chúng đều sợ hãi tạ tội không dám làm trái. Bộ Cuộc Mông của Lão Qua thường lén vào cướp phá Thuận Bình, vua lệnh cho biên tướng dùng công văn báo cho người tòng sự, Lão Qua lập tức sai sứ đến triều phục. Tứ Di đến triều cống, vua đều ban tứ rất hậu mà không so đo cống nạp nhiều hay ít. Có thuyền hải ngoại ghé vào, vua thường răn bảo hữu ty tiễn về bình an mà không đánh cướp hàng hóa của họ. Người các nước đắm thuyền trôi dạt vào, vua đều lệnh cho quan sở tại thương xót cấp dưỡng đưa về. Cho nên người phương xa mến mộ đem nhau đến tiến cống. Thổ quan các châu Thuận Bình, Sa Bôi, Quy Hợp(4) thời trước chưa từng đến kinh sư, lệ ba năm tuế cống một lần chỉ sai thổ mục đến, đến khi vua lên ngôi, thổ quan thân đến chúc mừng, từ đó mỗi khi đến kỳ tuế cống đều tự đến. Các bộ Sa Nạp, Cầm Đồng, Hắc Bạch La La(5) xa xôi tận nơi hoang địa, nghe đức hóa của vua đều đem sản vật địa phương đến dâng.”

Về tính cách, văn bia cho biết “Vua thông minh sáng suốt vượt bậc nhưng lại rất nhân từ ôn hòa, không tỏ ra nghiêm khắc. Khi bãi chầu thường gặp gỡ sĩ đại phu để hỏi han việc hay dở, dùng nét mặt lời nói khơi gợi cho họ nói ra để thấu đạt được tâm tình của kẻ dưới, gạt bỏ sự lấp liếm che dấu. Bề tôi nếu có lỗi lầm chỉ trách mắng nhẹ nhàng không nỡ đánh roi làm nhục. Vua xử sự rất thung dung nhàn hạ mà thiên hạ răm rắp sửa đổi theo, không thấy phải làm gì nhiều. Mỗi khi nghe thấy trong dân gian hơi có người không biết trông cậy vào đâu là khiển trách nhắc nhở quan lại chăn dân phải lưu tâm chăm lo thương xót, chỉ muốn cho bất cứ kẻ thất phu thất phụ nào cũng được toại nguyện trong cuộc sống. Đến cả cầm thú là loài vật nhỏ cũng không nỡ giết bừa. Trong cung từng bày tiệc trung thu, thấy đầu bếp làm cỗ chim ngói tiến ngự, một đĩa dùng đến mười mấy con, vua đau xót không vui, trách tội nghiêm khắc quan chủ bếp rồi bãi tiệc” .

Ngoài ra văn bia còn cho biết đức vua là người luôn chú ý trau dồi kiến thức, học tập không biết mệt mỏi: “Vua đối với sách vở không quyển nào không đọc, ghi chép tập hợp thành sách Thi văn viện bút, ai thấy cũng kinh”. Không những vậy ngài còn trước tác rất nhiều: “Vua có các tập: Thượng Dương du nghệ, Văn phòng nhã vịnh, Minh Dương chính thanh, gồm nhiều quyển, các trước tác khác cũng rất nhiều”. Thư pháp của vua cũng được văn bia ca tụng hết lời: “Các lối chữ Chân Hành Thảo của vua thì siêu tuyệt cổ kim, quần thần người nào có được một mảnh giấy, một chữ viết của vua là quan trong triều chen chúc xúm xít lại xem, lưu truyền như một việc lạ, cất giữ trong nhà không khác gì châu ngọc.”

Đặc biệt vua rất cẩn thận chú ý giữ lễ, theo đúng mẫu mực đạo đức nho gia, “kính thờ tổ tiên, mở rộng Giao cung, sửa sang Thái miếu, tự thân làm lễ Tam hiến(6), tự cày ruộng tịch điền, kính cẩn phụng dưỡng mẫu hậu, thương yêu thân ái với anh em, tìm người ngay thẳng để giúp rập về sau, làm lời giãi tỏ để dạy bảo dân chúng…”.

Văn bia còn cho biết vua sinh được sáu hoàng tử và mười hoàng nữ với đầy đủ tên hiệu trong khi chính sử chỉ cho biết về các con trai.

Để thiên hạ có được một vị vua anh minh như vậy, ngoài yếu tố dòng tộc, ngoài sự cảm ứng giữa trời và người mà tác giả văn bia Hiển Thụy đã phân tích, ngoài sự đào tạo của cung đình, còn có vai trò vô cùng quan trọng, gần như là yếu tố tiên quyết, đó là sự gần gũi yêu thương quan tâm dạy bảo và ảnh hưởng mạnh mẽ của bà nội, tức Quang Thục Hoàng thái hậu, một phụ nữ tuyệt vời mà chúng tôi đã thông tin về chân dung của bà ở thông báo Hán Nôm năm 2004. Tình cảm giữa hai bà cháu được văn bia Khôn Nguyên chí đức(7) cho biết: “Thánh thượng hoàng đế cầm ấn giữ ngôi, uy danh rạng rỡ, nối được đức sáng là bởi có sự nhân hậu quan tâm dạy bảo ân cần của Hoàng thái hậu.” Chính vì vậy “khi Thái hậu mắc bệnh, Thánh thượng hoàng đế bấy giờ là Hoàng thái tử ngày đêm quanh quẩn hầu hạ không rời, thuốc thang cơm nước đều tự thân nếm trước. Trong thì kêu cáo tổ tiên, ngoài thì cầu đảo không thiếu thần nào. Khi Thái hậu hơi thở chỉ còn thoi thóp, vua tự xưng tên mình mà gọi, Thái hậu vẫn còn ngoảnh ra mở miệng muốn nói mà lời không rõ. Các lễ khâm liệm, phạm hàm, vua đều nhất nhất tự làm, tự viết lời ai điếu để bày tỏ tình cảm yêu thương đau xót”.

Tại cụm di tích Lam Kinh có nhiều văn bia của hoàng tộc nhà Lê, lưu giữ rất nhiều tư liệu quý giá về các nhân vật và lịch sử thời kỳ này, nếu được phiên dịch cẩn thận sẽ giúp ích rất nhiều cho các nhà nghiên cứu. Trong đó bộ ba bia lăng mẹ con bà cháu gồm bia lăng Quang Thục Hoàng Thái hậu, bia lăng vua Lê Thánh Tông và bia lăng vua Lê Hiến Tông là những tấm bia rất có giá trị hiện đã được chúng tôi dịch chú đầy đủ và sẽ lần lượt công bố, hy vọng góp phần bổ sung thêm tư liệu cho lịch sử triều Lê.

Chú thích:

(1) Đại Việt sử ký toàn thư. T3, Nxb. KHXH, H. 1993, tr.7.

(2) Bia lăng vua Lê Hiến Tông ở Lam Sơn Thanh Hóa, do nhóm văn thần Nguyễn Nhân Thiếp, Phạm Thịnh, Trình Chí Sâm phụng sắc soạn vào niên hiệu Cảnh Thống thứ 7 (1504), thác bản mang ký hiệu NO10556, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Bản dịch của Trần Thị Kim Anh.

(3) Bia am Hiển Thụy khắc trên vách động Hiển Thụy ở núi Sài Sơn (Núi Thầy) huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây. Am Hiển Thụy nguyên là am Từ công, nơi thiền tăng Từ Đạo Hạnh trút xác. Thác bản mang ký hiệu N01223, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Bản dịch của Trần Thị Kim Anh.

(4) Các vùng đất phía tây, giáp Lào ngày nay.

(5) Các vùng đất thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc ngày nay.

(6) Nghi thức hiến rượu trong tế tự, hiến rượu ba lần gọi là Tam hiến.

(7) Bia lăng Quang Thục Hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao tại Lam kinh Lam Sơn Thanh Hóa, ký hiệu thác bản: N01919, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Bản dịch của Trần Thị Kim Anh./.

Thông báo Hán Nôm học 2005 (tr.27-34)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm