3. Giá trị của minh văn khắc trên bia đá Bắc Giang thế kỷ XVIII - XIX (TBHNH 2006)
GIÁ TRỊ CỦA MINH VĂN KHẮC TRÊN BIA ĐÁ BẮC GIANG THẾ KỶ XVIII - XIX
PHÙNG THỊ MAI ANH
Ban quản lý di tích Bắc Giang
Văn bia là một loại hình di sản văn hóa đặc sắc trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc. Mỗi một tấm bia nó vừa có giá trị như một hiện vật bảo tàng đồng thời nội dung bài văn bia lại có vai trò giá trị là một văn bản, một nguồn tư liệu cổ, một thông điệp chứa chất nội dung phong phú giúp cho các thế hệ có thể hiểu được một cách sâu sắc về quá khứ một thời của dân tộc mình.
Theo các nhà bảo tàng, văn bia là loại hình di vật cổ gắn liền với các công trình văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng dân gian ở địa phương như: đình, đền, chùa, nghè... Văn bia thường ghi niên đại tuyệt đối, nội dung khắc trên bia đá là tài liệu chân thực phản ánh nhiều lĩnh vực của đời sống như: lịch sử, văn học, chính trị, kinh tế, xã hội, tôn giáo, văn hóa dân gian... Chính vì vậy, khai thác những thông tin trên văn bia chính là thu thập nguồn tư liệu lịch sử, văn học, khảo cổ, mỹ thuật độc đáo đáng tin cậy có giá trị to lớn trong việc nghiên cứu những giá trị văn hóa dân gian truyền thống của dân tộc.
Dưới góc độ thể loại văn học, văn bia được nền văn học truyền thống phương Đông xác định như một thể văn thời cổ đại. Nhiều nhà nghiên cứu văn học sử trên thế thế giới cũng có nhận xét về thể văn này: “Những bài văn bia đã đánh dấu bước đi ban đầu của văn học thành văn”. Văn bia Việt Nam ra đời trong mối quan hệ văn hóa vùng. Nó chịu sự ảnh hưởng của truyền thống sáng tạo văn bia ở Trung Quốc. Tuy nhiên văn bia - bia đá Việt Nam có những đặc trưng riêng về tính hình thể và nội dung mang bản sắc của truyền thống văn hóa dân tộc. Nội dung của văn bia Bắc Giang cũng không nằm ngoài những đặc trưng cơ bản của văn bia Việt Nam. Nhưng nó có những đặc điểm mang đặc tính vùng miền của mình. Đó là bởi Bắc Giang vốn là miền thượng của xứ Kinh Bắc - một miền đất cổ nổi danh văn hiến thượng võ từ hàng ngàn năm nay.
Trong các văn bia đã khảo sát ở Bắc Giang cho thấy số lượng văn bia giai đoạn thế kỷ XVIII - XIX ở Bắc Giang đến ngày nay còn lại tương đối nhiều, trong đó những văn bia có chứa minh văn khắc chữ Hán chiếm số lượng không nhỏ với nội dung phong phú đa dạng. Cũng giống như văn bia các giai đoạn trước, minh văn trên văn bia Bắc Giang giai đoạn thế kỷ XVIII - XIX mang đặc điểm ký sự, ghi chép sự việc cùng họ tên của những người có lòng hảo tâm công đức cho việc xây dựng, tu sửa các công trình văn hóa chung của quê hương để lưu truyền và mong cầu hưởng phúc lâu dài. Đông thời nó còn ca ngợi cảnh đẹp của thiên nhiên mĩ lệ nơi danh lam cổ tích tọa lạc. Chính vì thế cùng với các bài văn bia - những trang sử đá, minh văn trên văn bia trong các di tích chính là những trang tư liệu quý, chuẩn xác, giúp cho việc nghiên cứu lịch sử, địa lý, văn học, tôn giáo tín ngưỡng... ở mỗi địa phương trên đất Bắc Giang.
Các minh văn khắc trên văn bia Bắc Giang giai đoạn thế kỷ XVIII - XIX cũng có nhiều điểm tương đồng với minh văn trên văn bia các giai đoạn trước. Theo các tài liệu cho thấy minh văn (銘文) là một bài minh khắc trên văn bia. Nó thường là một thể thơ được viết theo kiểu Kệ, có thể là một bài ngắn chỉ 4 đến 6 câu, như bài minh trên bia Hậu Phật ở chùa làng Vân (xã Vân Hà, huyện Việt Yên) chỉ với 6 câu thơ, mỗi câu 4 chữ nhưng cho chúng ta biết được tấm lòng nhân đức của dòng họ Nguyễn trong việc hưng công tiền của tu tạo ngôi chùa Diên Phúc thêm khang trang đẹp đẽ làm nơi thờ Phật tôn nghiêm ở quê hương:
Phiên âm:
Nguyễn tăng tứ đức
Vọng tư tiền ý
Gia tài bất tán
Kinh Phật tiền điền
Phó hoàn Diên Phúc
Đắc diên ức niên.
Dịch nghĩa:
Họ Nguyễn đức dầy
Nhớ ơn người xưa
Tiền tài không tán
Cúng tiền ruộng Phật
Cho chùa Diên Phúc
Được phúc lâu dài.
Nhưng cũng có khi nó là cả một bài thơ dài theo kiểu trường thi. Nội dung của các bài minh văn thường cô đọng, súc tích nêu bật được ý tứ của cả bài văn bia. Đôi khi nó còn có cả những bài dẫn từ sách cổ như là những câu châm ngôn kinh điển. Song giá trị nổi bật trong các bài minh văn là những đoạn tả cảnh, những vần thơ đầy ý hàm súc, nó gợi ra những hình ảnh đẹp, những ý tưởng hay dễ đi sâu vào lòng người đọc. Nó không chỉ là nguồn sử liệu quý giá mà còn xứng là những áng văn dân gian đáng lưu ý.
Lời minh văn trên tấm bia Hậu ở đình Ngọc Lâm (xã Lãng Sơn, huyện Yên Dũng) là 1 bài thơ chữ Hán viết theo thể thơ bốn chữ với nội dung miêu tả cảnh quan thiên thiên tươi đẹp nơi ngôi đình tọa lạc tựa như một bức tranh hùng vĩ với những hình ảnh được chắt lọc một cách cô đọng nhưng đầy ý biểu cảm:
Phiên âm:
Tiên Sơn tuấn ngật
Đức thủy dương dương
Công hậu đức mậu
Sơn cao thủy trường
Tứ quý tự hưởng
Thiên cổ trần quang
Quyên quyên kim thạch
Vĩnh vĩnh vô cương.
Dịch nghĩa:
Núi Tiên cao chót vót
Nguồn đức rộng mênh mông
Công đức thật cao sâu
Núi cao dòng nước lớn
Bốn mùa hưởng thờ tự
Ngàn năm sáng cõi trần
Lòng son tạc đá vàng
Muôn đời mãi lưu truyền.
Bài minh trên văn bia chùa Sùng Nghiêm (xã Vân Trung, huyện Việt Yên) lại là cả một bài thơ dài. Ở ngay đoạn đầu bài thơ, tác giả đã khéo léo dùng ngòi bút tài tình của mình vẽ lên bức tranh phong cảnh “sơn thủy hữu tình” của ngôi chùa cổ, với phía trước là dòng sông Cầu hiền hòa uốn khúc chảy qua, phía sau có ngọn núi Nham Biền sừng sững vút cao như hiên ngang giữa trời. Đồng thời đoạn cuối bài thơ là những hình ảnh ca ngợi công đức lớn lao của một người dân địa phương đã dốc lòng thành kính ban phát lòng tốt của mình cho mọi người trong quê hương, tạo đúc chuông lớn tôn thờ đạo Phật:
Phiên âm:
Tiên dương bích thủy
Hậu trĩ cẩm phong
Sơn phô thắng cảnh
Tự hiệu di sùng
Phần hương chúc thánh
An cảnh hưởng phong
Quý nhân thành tín
Đốc ý kính cung
Bác phát doanh vật
Trú tác hồng chung
Cẩn cung Phật đạo
Ngưỡng báo mẫu công
Tiền điền canh tứ
Thôn ấp canh tứ
Thôn ấp quân mông
Lão bà tôn sự
Hậu Phật Thiền cúng
Hóa tổng tương cục
Truyền vĩnh vô cùng
Tư hiếu dã đại.
Dịch nghĩa:
Phía trước chùa nước biếc mênh mông
Phía sau chùa núi cao chót vót
Núi phô ra những thắng cảnh đẹp
Chùa mãi được sùng chuộng ngợi khen
Thắp hương khấn vái bậc thánh
Cho phong cảnh được bình yên
Bác quý nhân hết lòng thành tín
Giữ thân hết lòng cung kính
Ban ơn rộng khắp cho muôn vật
Tạo đúc một quả chuông lớn
Kính cẩn dâng thờ đạo Phật
Mong đền đáp công ơn cha mẹ
Lại ban tiền, ban ruộng cấy
Cho tất cả mọi người trong thôn
Nên người người ai cũng nhớ ơn
Phụng thờ tôn quý bậc lão bà
Tôn bầu người làm Hậu Phật
Biến hóa khắp nơi cứu giúp người
Được lưu truyền mãi mãi về sau
Đức hiếu đó thật lớn lao thay.
Càng đi sâu vào tìm hiểu các bài minh văn ta càng thấy say mê. Bởi lẽ nó không chỉ đơn thuần miêu tả khung cảnh thiên nhiên mà nó còn gợi ra những chân lý cao siêu của đạo Phật và khuyến khích con người hãy để tâm tu theo đạo Phật vươn tới bến bờ giác ngộ. Lời minh trên văn bia chùa Diên Phúc (xã Vân Hà, huyện Việt Yên) với lời lẽ mộc mạc, tác giả đã thể hiện được nguyên lý, ca ngợi đạo đức sáng láng vô biên của đức Phật ở Tây Thiên. Đồng thời thức tỉnh lòng trần hãy để tâm quy theo đạo Phật:
Phiên âm:
Niệm nam vô Phật
Ngưỡng Tây hữu thần
Khôi vô lượng đức
Hóa hữu duyên nhân
Tinh thành nhất điểm
Hương hoả thiên niên
Phúc sơn đức thủy
Tuệ nhật từ bi
Nhất ngôn hữu thạch
Vạn cổ như tân.
Dịch nghĩa:
Niệm Phật nam mô
Phía Tây có thần
Đức sáng vô biên
Tạo hóa nhân duyên
Lòng thành một tấc
Hương hỏa ngàn năm
Núi phúc sông đức
Tuệ nhật từ bi
Một lời vào đá
Muôn thuở như nguyên
Hay bài minh:
Phiên âm:
Giác ngộ quy y
Từ hàng tế độ
Long yết hồn hoàng
Sơn thanh thủy tú
Hữu khai tất tiên
Khắc xương khuyết hậu
Đại đại tử tôn
Phương hình như đổ
Phật nhật tăng huy
Dư chi tịnh mậu
Ư vạn từ niên
Vĩnh thùy bất hủ.
Dịch nghĩa:
Giác ngộ quy y
Thuyền từ cứu độ
Sáng láng huy hoàng
Núi sông đẹp đẽ
Khai mở trước tiên
Cửa khuyết thịnh đẹp
Đời đời con cháu
Tiếng thơm để lại
Ngày Phật bừng sáng
Lại càng tốt tươi
Còn mãi trên đời
Lưu truyền chẳng mất.
Ngoài những bài minh ngắn gọn, cô đọng, súc tích đầy ý biểu cảm, nhiều tác giả đã sử dụng thể loại trường thi để diễn đạt ý tưởng tốt đẹp của mình trong bài văn bia. Bài minh trong bia chùa Phúc Quang, xã Trung Sơn, huyện Việt Yên là một bài trường thi. Qua những hình ảnh đẹp, tác giả muốn ca ngợi con người dòng họ Vũ ở đất Việt Yên vốn là bậc nhân kiệt tài giỏi có công giúp đỡ việc triều chính cho đấng quân vương đã được ban chức tước và hưởng lộc lâu dài của triều đình. Khi về đến quê hương, những con người ấy lại có lòng tốt bỏ tiền ra cho dân mua đất làm chợ, xây dựng chùa chiền mong để phúc đức lâu dài cho các bậc con cháu đời sau. Chính vì công lao to lớn đó, họ được mọi người cùng vui vẻ khắc bia làm minh, lưu truyền sánh ngang cùng trời đất núi sông:
Phiên âm:
Quốc Việt Nam thiên
Huyện Yên, Quỳnh địa
Nhân kiệt chủng sinh
Thế xưng Vũ Thị
Phụ tá quân vương
Tử đăng khoa đệ
Tước đẳng phong hầu
Chức khâm điện bệ
Quyên kim phát tài
Mại thổ vị thị
Cúng tam bảo quy
Dữ nhân đồng hỷ
Thành công giả triệu
Âm thùy ấm tịch
Phụ hành tử tùy
Phong thuần tục mỹ
Pháp tiền vi bi
Thùy hậu thị hội
Tam bảo hộ trì
Cửu thiên tích chỉ
Thị hội cửu trường
Phúc lưu tôn tử
Sở nguyện tòng tâm
Hữu vĩnh như ý
Thọ nhược sơn tằng
Phúc như xuyên chí
Chư thiện tín chi
Phúc sự thị hỹ
Văn vũ kiện toàn
Khang ninh phú quý
Hạc lộng quy sỉ
Long sóc phượng bảo
Miêu duệ khánh lưu
Nhi tôn niên kế thế
Cổn cổn sinh hầu
Bân bân xuất sỹ
Tước lộc niên niên
Công khanh thế thế
Lặc bi vi minh
Tạc thạch vi trí
Đới lệ sơn hà
Vĩnh tồn miêu duệ.
Dịch nghĩa:
Trời Nam nước Việt
Đất Quỳnh - Việt Yên
Sinh người nhân kiệt
Đời gọi họ Vũ
Giúp bậc quân vương
Cháu con khoa đệ
Tước ban tước hầu
Chức trong điện triều
Quyên góp tiền vàng
Mua đất làm chợ
Cúng vào tam bảo
Cùng làm việc tốt
Mọi người đều vui
Công việc hoàn thành
Ơn thấm đời sau
Cha làm con theo
Xứng danh tục đẹp
Phép xưa làm bia
Đời sau chiêm ngưỡng
Tam bảo giúp đỡ
Chín đời còn rõ
Chợ họp lâu dài
Phúc cho con cháu
Lòng cha đã thỏa
Thọ cùng núi cao
Phúc như sông lớn
Thiện tín cùng tin
Phúc dầy hưởng đủ
Văn võ kiêm toàn
Khang ninh phú quý
Tuổi hạc tuổi rùa
Vẫy vùng rồng phượng
Cháu con hưởng phúc
Đời đời nối dõi
Công hầu lớp lớp
Đỗ đạt vẻ vang
Tước lộc mãi còn
Đời đời công khanh
Khắc bia làm minh
Tạc đá làm tin
Bia cùng núi sông
Con cháu giữ gìn.
Bài minh trong văn bia chùa Làng Vân (xã Vân Hà, huyện Việt Yên) với những câu thơ dung dị, mộc mạc như đưa ra một chân lý vốn tồn tại xưa nay và ghi việc người họ Diêm có tấm lòng tốt đã công đức tiền của cho việc tô tượng chùa làng Vân đã được lưu truyền mãi mãi:
Phiên âm:
Mạc linh nhĩ nhân
Nhân dĩ đức danh
Mạc kiên phỉ thạch
Thạch khả bi minh
Duy Diêm nữ huy
Tộc phả giai nghĩa
Tô tượng hữu nghiêm
Quyên hóa dĩ tiến
Kỳ nhân môn toại
Kỳ đức do truyền
Thạch bi kỳ tại
Thế tự vĩnh diên
Dịch nghĩa:
Không thiêng không phải là người
Người lấy đức để lưu danh
Chẳng cứng sao gọi là đá
Đá cứng để khắc minh bia
Duy người con gái họ Diêm (nhân hậu)
Cả nhà đều làm việc nghĩa
Tô tượng chùa rất nghiêm trang
Cùng quyên góp tiền của tiến cúng
Mọi người đều rất hài lòng
Người có đức ấy được lưu truyền
Bia đá kia còn lưu dấu lại
Đời đời được thờ phụng.
Qua khảo sát những bài minh văn trên văn bia Bắc Giang thế kỷ XVIII - XIX cho biết: minh văn trên văn bia Bắc Giang giai đoạn này mang những đặc điểm chung trong dòng minh văn trên văn bia Việt Nam, nó là một thể loại ký sự văn học - lịch sử. Nội dung của những bài minh trên văn bia đều là những bài thơ đặc sắc kể lại những sự việc có ở địa phương, ca ngợi cảnh đẹp của danh lam đình, chùa và đồng thời ghi công đức lớn lao của người dân thôn quê với những công trình tín ngưỡng, tôn giáo to đẹp của quê hương mình.
Cũng qua những bài minh văn, chúng ta thấy được tình hình sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng vô cùng phong phú và rất phát triển ở mỗi địa phương. Ngoài ra, nó còn thể hiện giá trị văn học nghệ thuật cao của người soạn văn bia. Do đó, việc chiêm ngưỡng mỗi bài minh văn trên bia Bắc Giang được coi như chiêm ngưỡng một tác phẩm văn học có giá trị./.
Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.24-36)