3. Một bài tụng của NGUYỄN CÔNG HOÀN (TBHNH 2003)
MỘT BÀI TỤNG CỦA NGUYỄN CÔNG HOÀN
VIỆT ANH
Viện nghiên cứu Hán Nôm
Đến tận ngày nay, người yêu chữ Nôm còn truyền tụng bài phú Ngã ba Hạc của tác giả Nguyễn Bá Lân (1701 - 1785). Ông người làng Cổ Đô, Quảng Oai, Ba Vì, bên bờ sông Hồng (nay thuộc huyện Ba Vì, Hà Tây). Nguyễn Bá Lân đậu Tiến sĩ, làm quan tới Thượng thư bộ Công, từng chấm bài thi của cha mình mà không biết. Quả thật, người cha của vị Tiến sĩ này thật thú vị tới lạ kỳ. Ông tên là Nguyễn Hoàn (có sách dề là Nguyễn Công Hoàn). Có nhiều giai thoại về các cuộc so tài văn hay chữ tốt của hai cha con cùng cái tính nóng như lửa của người cha bộc trực. Sau nhiều lần lận đận thi cử, Nguyễn Hoàn đậu Hương cống, dân địa phương quen gọi hai cha con là ông Cống Hoàn, ông Nghè Lân. Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện còn lưu giữ một bài tụng từ bằng Hán văn của ông Cống, đi cùng bài ký của Tiến sĩ Trần Hiền (1684 - 1742) người làng Vân Canh, Từ Liêm, Hoài Đức (nay thuộc huyện Hoài Đức, Hà Tây). Sách có tên Sơn Tây chí 山西志 Để ký hiệu A.1528. Nội dung bài từ tụng và bài ký của hai ông đều ca ngợi công, đức và tài của Hoàng giáp Nguyễn Mại (1655 - ?), nhân vật xứng đáng là Bao Thanh Thiên của Việt Nam. Tư liệu và bút pháp của hai bài văn này đều cho biết: Nguyễn Hoàn và Trần Hiền là người đồng thời với Nguyễn Mại, vì vậy Nguyễn Hoàn chắc chắn là một tác giả Hán Nôm thế kỷ XVII. Bình sinh, Nguyễn Hoàn là người nóng nảy, ưa cạnh tranh, ngay đến Nguyễn Bá Lân là con trai mình, đỗ đạt trước mình, trong bụng phục thì có phục nhưng ông vẫn luôn tranh thủ cơ hội có thể để so tài cùng con, cho con biết là nó không bằng cha nó. Thế mà, trong bài từ tụng viết về Nguyễn Mại, giọng văn vô cùng thành kính, hoàn toàn tâm phục khẩu phục, chứng tỏ sự mến mộ hết lòng một nhân cách kẻ sĩ vẹn toàn tài, đức, công, không sợ cường quyền, vì dân thi thố. Lòng mến mộ ấy cũng thể hiện nhân cách và chí hướng của người viết, tức là của chính Nguyễn Hoàn và của cả Trần Hiền nữa. Sau đây, xin giới thiệu toàn văn chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa bài từ tụng của tác giả Nguyễn Hoàn, thế kỷ XVII.
Phiên âm:
TỤNG TỪ
Tiên Phong Cổ Đô Nguyễn Công Hoàn soạn
Kỳ từ lược viết: hiền giả ích thiên hạ ích quốc gia, quân tử trọng triều đình trọng biên quận. Cố Thiệu công Bật tuyên Nam quốc, đồng cung lai chung phủ chi công; nhi Trọng Sơn Phủ trúc đông phiên, thiên qua mậu trung hưng chi tích. Thế biên hữu cổ kim chi dị, nhân tài vô nam bắc chi thù. Phục kiến Lễ bộ Tả Thị lang Sơn Tây trấn suý Nguyễn tướng công, đông hải giáng thần, nam châu đĩnh tú. Chiêm bỉ Chí Linh chi địa, thực vi tả cán chi hùng. Yên Tử chưởng lưỡng dực kình thiên, giảo Thái Họa Hành Hằng nhi dũ đại. Kinh lưu hội Lục Đầu phún thủy, thị Giang Hoài Hà Tế dĩ vi trường. Địa chung trừng tú chi tinh, thiên cống phiên dư chi khí. áp tuyển tỉnh tam thiên tú sĩ, trực bộ thanh vân, đạp đại đình đệ nhị cao tiêu, trì danh Hoàng giáp. Văn kinh luân vũ phương lược, nội trinh cán ngoại phiên hàn, vương phủ sung Tri thủy Tri binh, đức vọng nguy nguy Thái sơn Tung Nhạc. Phương diện Đốc lãnh Đốc trấn, uy phong lẫm lẫm, liệt nhật thu sương. Thanh danh dương Nam Lữ hoàng chung, nghệ thuật tả Động Đình Bành Lãi. Pháp bố tam cơ vu chưởng thượng, truyền Tử Phòng vận trù quyết thắng chi thần. Cơ cao bát trận vu hung trung, phú Gia Cát định quốc an dân chi tướng. Hồn thân thượng nhất đoàn phủ khí, mãn phúc trung sổ vạn giáp binh. Lân nha tốt chi viễn thiệp sấu lao, tắc độc lực xanh thuyền vu khúc chiết thâm loan. Nhân tất hữu dũng, diểu dật tượng chi cuồng bôn hào hống, tắc túc dung đoan tịch vu thâm nghiêm công điếm, tài túc chiết xung, phong độ đoan ngưng, triều đình ỷ trọng. Kiêu kích họa (thiếu một chữ) đề hổ cứ, thanh thiêm kim cổ, sắc biến tinh kỳ, dao quang ngọc tiết lý điểu đài, thế chấn quỷ thần, uy tồi sơn nhạc. Nghiễm hốt giốc vu thôi ngôi chi tuấn vọng, đối long nhan vu mật vật chi tử thần. Bá phủ vô tư, toàn độ vĩnh duyên hoàng sách. Hòe hiên hữu đãi, tường phong vi lộ đài giai, vô ý vô tất kỳ khí vũ hoằng, nhập tế nhập thô kỳ quy mô đại. Tương nhậm chưởng yếu cơ vu quyết bắc, điều hòa đỉnh nãi biến lý âm dương. Dự lệnh thi binh chính vu Sơn Tây, khám đoán từ tụng cầm chế tư tặc. Bán dạ truyền tân Trấn thủ, minh triêu hoán cựu viên môn, lý uổng thân oan, vạn vũ vu long đông chuyển noãn. Phát gian trích phục, quần hung vu thịnh hạ sinh hàn. Bạch thanh liêm vu Cung Hồ kim tượng chi thần, tập yếu sách vu trục lộ hỏa phù chi lại. Bộ tốt tiềm hành tuần kính đạo, chung minh đỉnh thực chi hộ ly sơ. Thuỷ binh tán đội thú giang tân, ngao cung kiêu chử chi thương thụy thục. Thám nãng phát níp giả, mịch phù trạch nhi vô lưu chích ảnh. Loan phương lộng giáp giả, sách hoàng trì nhi vô độn nhất nhân, quan tiết chi đa thiểu chân tang, trừng thù mạc di phủ toản, hoá vật chi cựu tân nhưỡng tích, truy hồi hề phí bào thư. Lương dân tại kính trung hành, viên lại tòng băng thượng lập. Hướng giả mạo hàn chúc ảnh, tam canh trì ngư mục ỷ lan. Kim nhi ký ngạo phong song, ngũ lậu mãn kê thanh xuân cữu. Quán xuyên dũ giả phục già ngục hộ, viễn bô đào giả hàm thảo quân môn. Gia gia dạ khuyển vô thanh, xứ xứ thu thiềm hữu ảnh. Vãng cảm đồn trấn nguyên nhung tuyên phủ, chuyển chương bái cửu tĩnh nam phiên. Kim ngưỡng nhân đài đài tọa nhục lâm, triển dực túc trọng ninh tây thổ, phi chỉ nhất phương thụ kỳ tứ, diệc lệnh tha trấn mộc kỳ ân. Đạt quyền đa thức trị lương tài, vi thiện hữu quá nhân thịnh đức. Tu Thái bảo Trạng nguyên từ vũ, bách niên đằng trung nghĩa chi hinh. Tráng Thị lang Bảng nhãn uy nghi, tam đống tựu thân tân chi quán. Chính trị điệp chương ưu dị, sĩ dân hàm trước ân uy, phượng lịch ban giáp tý tam niên, ký thiên lý sinh dân chi mệnh. Đức tinh chiếu canh tân nhất cảnh, ngưỡng tứ thời đình độc chi công. Cái thiên mẫn tư dân chi tâm, cố tư dân thụ quân tử chi phúc. Bùi Trung Lập tự Hưng Nguyên nhập trạch bách quỹ, thần ân quyến quyến phương nùng. (mất hai chữ). Dực lưu Dĩnh Xuyên nguyện tá nhất niên, chúng vọng huyền huyền như khát. Nguyện Bình Chính sứ bách niên vô sự, nãi bỉnh quân vi nhất quốc thị duy.
Dịch nghĩa:
BÀI TỤNG
Nguyễn Công Hoàn người làng Cổ Đô, huyện Tiên Phong soạn
Người hiền có ích cho thiên hạ, có ích cho quốc gia; người quân tử đáng trọng nơi triều đình, đáng trọng nơi biên quận.
Vậy nên Thiệu Công Bật đi tuần phương nam, cung son(1) tới nên công phủ dụ; Trọng Sơn Phủ(2) giữ biên đông, giáo trời dồn công tích trung hưng. Đời biến đổi cổ kim có khác, nhân tài không phân biệt bắc nam.
Kính thấy Lễ bộ Tả Thị lang Sơn Tây Trấn suý Nguyễn tướng công, là bậc thần giáng Hải Đông, quý nhân Nam quốc. Xét đất miền Chí Linh, thực hào hùng trụ trái. Núi Yên Tử chống ngang trời hai cánh, so với Thái Họa Hành Hằng(3) còn lớn hơn. Chốn hợp lưu Lục Đầu sóng đổ, so với Giang Hoài Hà Tế(4) lại càng dài. Đất chung đúc tinh tuý trong lành, trời ban của ngọc ngà châu báu. Kỳ thi tỉnh vượt ba ngàn tú sĩ, thẳng bước mây xanh; kỳ Đại Đình đoạt đệ nhị bậc cao, nổi danh Hoàng giáp. Văn kinh luân, võ tài lược, trong là cốt cán, ngoài là cánh vây. Chốn vương phủ sung Tri thủy Tri binh, đức vọng vòi vọi tựa Thái sơn Tung nhạc(5). Về địa phương là Đốc lãnh Đốc trấn, uy phong lẫm lẫm như nắng rực sương thu. Thanh danh vang vọng như chuông vàng nam lữ, tài nghệ sắc nét như thuyền thả Động Đình. Phép tắc nơi ba quân rành trong lòng bàn tay, lưu truyền tựa trí thần Tử Phòng tính toán. Cơ mưu chốn bát trận đầy sẵn trong bụng, tựa như tướng Gia Cát định quốc an dân. Dường như khắp mình rợp một bầu gan ruột, đầy dạ chất chứa vạn giáp binh. Thương quân sĩ chinh chiến xa mệt mỏi, lại riêng mình dồn sức chèo thuyền giữa dòng xoáy quanh co. Người nhân ắt có dũng, voi xổng chuồng cuồng hung gào rống, lại thong dong ngồi vững ghế nơi công đường thâm nghiêm. Tài đủ tiến lui, phong độ vững vàng, triều đình trông cậy. Nơi cửa tướng nghi vệ nguy nga dựng chắc, thanh danh vang chuông trống, sắc diện biến tinh kỳ. Đài Ngự sử ánh ngọc vang xa bước đẹp, khí thế động quỷ thần, uy hùng rung núi thẳm. Nghiêm mũ hốt danh vọng cao sừng sững, thẳng mặt rồng cung điện khu cơ. Đài bách(6) vô tư, đức độ rạng ngời mãi theo chức trách. Hiên hòe(7) còn đợi, gió lành móc mịn rờn rỡ thềm đài. Không ràng không buộc, khí độ lớn lao. Tinh tế thô sơ, quy mô vĩ đại. Khi được bổ nắm việc cơ yếu nơi quan bắc, điều hòa trọng trách(8), phân biệt âm dương. Lúc dự lệnh cầm quân cai quản đất Sơn Tây, phán rõ đơn từ, khống chế đạo tặc. Nửa đêm truyền tin Trấn thủ mới, sớm sau đổi cửa tướng xưa. Gỡ uổng giải oan, muôn nhà đang giá đông chuyển ấm. Bắt gian tỏ trộm, bọn hung đang hè nực sinh hàn. (.............chưa hiểu ý tác giả).
Cùng lính tốt ngầm đi tuần đường đêm tối, gia đình giàu sang lắm của dám rào thưa. Dàn thủy binh sắp đội đóng bên sông, nhà buôn vốn lớn lãi to được ngon giấc. Những kẻ móc túi mở hòm, thấy ơn nghiêm mà tuyệt dấu vết. Những tên hoành hành gươm giáo, tới ao vàng mà không thoát một người. Những tang chứng bao nhiêu bị mất, thu về răn dạy không ai bị phạt hình. Những của cải mới cũ lấy đi, truy lại không tốn phí hối lộ. Dân lành đi trong gương sáng, lại gian bước sợ trên băng. Xưa trước bóng đuốc lạnh soi, canh ba còn chong mắt tựa hiên suy nghĩ. Nay thời thênh thang cửa gió, thâu đêm gà gáy chày khua. Kẻ quen đào tường cam lòng chịu án, người trốn chui lủi thuận bụng nộp mình. Nhà nhà đêm không chó sủa ran, chốn chốn trăng in dáng đẹp.
Xưa xúc cảm người thương quân đồn trấn, an ủi lính thường, chuyển tinh kỳ yên mãi ải nam. Nay ngưỡng mộ bậc có nhân đích thân giáng lâm, thi triển tài năng trọng trách an ninh tây thổ. Không chỉ một phương hưởng ơn, mà cũng khiến các miền lân cận được gội phúc. Nắm quyền giữ chức dụng tài lành, làm thiện rộng đầy người chuộng đức. Sửa nhà thờ Thái bảo, Trạng nguyên, trăm năm thơm ngát lòng trung nghĩa. Dựng uy nghi Thị lang, Bảng nhãn, ba cõi bề thế nỗi ân ưu. Chính trị rỡ ràng ưu tú, sĩ dân đều rõ ân uy. Chiếu phượng ban giáp tý ba năm, gửi gắm mệnh nuôi dân ngàn dặm. Sao đức chiếu canh tân một cõi, ngưỡng mộ công giáo hoá bốn mùa. Phàm là lòng trời thương dân đen, nên dân được hưởng phúc người quân tử. Bùi Độ(9) xưa từ niên hiệu Hưng Nguyên bắt đầu quản chính sự, tỏ ơn vua thắm thiết nồng nàn. (mất chữ)* dân Dĩnh Xuyên xin mượn một năm, quần chúng ngóng thiết tha như khát. Mong Bình chính sứ trăm năm vô sự, là cột rường vì cả nước làm cương.
Chú thích:
(1) Đồng cung: chiếc cung màu đỏ, bậc đế vương thời cổ ban cho chư hầu có công. Kinh Thi, Tiểu Nhã có thiên Đồng cung.
(2) Trọng Sơn Phủ: là bậc khanh sĩ thời Chu Tuyên vương. Kinh Thi, Đại Nhã, thiên Chưng dân ca ngợi công đức của Trọng Sơn Phủ.
(3) Thái sơn, Hoa sơn, Hành sơn, Hằng sơn là bốn ngọn núi lớn của Trung Quốc, được ví như khí thiêng dân tộc.
(4) Trường giang, Hoài thủy, Hoàng hà, Tế thủy là bốn dòng sông lớn của Trung Quốc, cũng được coi như biểu tượng cho sự hùng vĩ của quốc gia.
(5) Tung sơn là ngọn núi cao, lại nằm giữa dãy núi nên còn có tên là Tung nhạc.
(6) Ô đài, Bá đài, Bá phủ: là cách gọi khác của đài Ngự sử, nơi có trồng nhiều cây bách, mỗi khi chiều về quạ đậu rợp hàng bách này.
(7) Hòe hiên, có thể chỉ Hoè sảnh: thời Tống, Học sĩ viện là nơi có trồng cây hoè rất lớn, nhân đó có tên.
(8) Đỉnh nãi: là các loại vật dụng để pha chế thức ăn, cũng như nguyên liệu để nêm canh cho ngon. Nghĩa bóng chỉ ngôi Tể tướng trong triều đình, giúp đế vương giải quyết ổn thoả quốc gia đại sự.
(9) Bùi Độ là tướng giỏi đời Đường, tên hiệu là Trung Lập, bắt đầu nhậm trọng trách từ năm 784 (niên hiệu Hưng Nguyên) đời Đường Đức Tông.
* Trong văn bản mất hai chữ, sau đó là chữ Dực (翼). Qua khảo sát phần văn bản tiếp theo, có thể đoán định nhân vật được nhắc tới ở đây là Khấu Tuân (寇恂, ? - 36), người đời Đông Hán, tự là Tử Dực (子翼), từng làm Thái thú Dĩnh Xuyên, Nhữ Nam. Sau ông theo vua Hán Quang Vũ xuất chinh qua Dĩnh Xuyên, các thân hào nhân sĩ ở đây chặn trước mặt vua xin mượn họ Khấu một năm. Từ đó, điển cố này chỉ việc dân địa phương lưu giữ quan lại. Vậy có thể suy ra hai chữ thiếu trong văn bản là Khấu Tử (寇子 )./.
Thông báo Hán Nôm học 2003, tr.20-27