3. Phạm Hy Lượng: Một nét thơ sinh động và đằm thắm tình người (TBHNH 1997)
PHẠM HY LƯỢNG: MỘT NÉT THƠ SINH ĐỘNG VÀ
ĐẰM THẮM TÌNH NGƯỜI
VIỆT ANH
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Phạm Hy Lượng (1834-1886), tự Hối Thúc, húy Hy Lượng (hoặc Huy Lượng), hiệu Ngư Đường, là một nhà thơ có tiếng trên văn đàn Việt Nam nửa cuói thế kỷ 19.
Phạm gia là một dòng họ lớn ở xã Hoa Đường, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương. Hoa Đường là vùng đất có truyền thống văn học với các danh sĩ như Tiến sĩ Phạm Quý Thích (1759-1825), Tiến sĩ Vũ Tông Phan (1804-1862). Họ Phạm sau này có người chuyển ra Hà thành sinh sống, và Phạm Hy Lượng được sinh ra tại đây. Căn nhà ở phố Nam Ngư (Hà Nội) là nơi chứng kiến sự thành đạt, cũng là nơi ôm chứa những hoài bão, tâm sự của một thi nhân đa cảm, một con người giàu trách nhiệm trong buổi giao thời của xã hội Việt Nam.
Đậu Cử nhân năm 19 tuổi, đậu Phó bảng năm 29 tuổi, Phạm Hy Lượng trải nhậm nhiều chức trách như Tri huyện huyện Yên Dũng, Hộ bộ viên ngoại, Biện lý Hình bộ sự vụ… Năm 1870 (Tự Đức 23), ông được sung chức Giáp phó sứ cùng sứ bộ sang tạ ơn vua Thanh (Đồng Trị) vì nhà Thanh đã cho quân hiệp lực dẹp giặc Ngô Côn. Trong lúc ấy, trên chính trường Việt Nam, sáu tỉnh Nam Kỳ đã mất vào tay giặc Pháp, biên giới Việt Trung thường bị dư đảng giặc từ Trung Quốc sang quấy nhiễu. Về mặt tư tưởng, việc người Pháp vào nước ta với sức mạnh kỹ thuật và những quan niệm xa lại của “Tây dương” đã có tác động phải nói là khá mạnh tới các sĩ phu Việt Nam. Trong chuyến di sứ này, Phạm Hy Lượng đã ghi lại những cảm nhận của mình trong hai tập sách: Bắc sà nhật kỷ (A.848) và Bắc Minh sồ vũ ngẫu lục (A.245; VHv.19) gọi tắt là Minh sồ tập. Đây là tập thơ thể hiện phần nào nội tâm sâu đằm của thi nhân họ Phạm.
Ngay từ thuở nhỏ, cảnh nhà nghèo khó, Phạm Hy Lượng đã có tiếng là hiếu học; khi lớn lên lại nổi danh về tài thơ văn. Đáng tiếc là di văn của ông đến nay còn lại không nhiều, mà Minh sồ tập là tập thơ duy nhất còn sót lại. Tuy thế, qua 182 bài thơ của bản VHv.19 và 230 bài thơ của bản A.245, có thể thấy tiếng khen về tài thơ của ông quả là “danh bất hư truyền”. Qua tập thơ, ta thấy hành trình của sứ bộ nhìn chung không thay đổi so với những đoàn đi trước. Tuy vậy các danh thắng, các di tích của đất nước Trung Hoa rộng lớn dù cho đã xuất hiện hơn một lần trong thơ của các thi sĩ - sứ giả của triều đình nước Nam, nhưng không vì thế mà khiến cho các bài thơ phải lặp lại nhau. Trong cảm nhận của mỗi cá nhân, các cảnh sắc, các danh thắng ấy vẫn tùy tâm mà khác biệt.
Thơ Phạm Hy Lượng cũng vậy. Trong Minh sồ tập, hình ảnh vị nho quan không đơn điệu cái vẻ đạo mạo khuôn thước đến cứng nhắc, mà sinh động với những vui, buồn, được, mất, giật mình hay ngẫm ngợi của con người trần thế. Cuối hạ đầu thu, sen sớm mới lác đác nở. Phạm Hy Lượng gặp sen, mừng hối hả. Ông viết những câu thơ hồn hậu thật thà:
Chỉ do tương ức cửu,
Bất hận đắc lai trì.
Chỉ vì nhớ nhau từ lâu,
Nên không hận là gặp được sen muộn màng.
(Bài 70 - Đắc liên – VHv.19)
Rồi những ngày thời tiết trắc trở, mưa ướt đường trơn, câu thơ tràn đầy hình ảnh thực, vất vả, nhọc nhằn:
Hứa Châu đạo thượng như dũng thâm,
Tích tuyết nê sa sổ thập lý.
Dư phu chung nhật chưởng phục khuynh,
Ngẫu bất tiểu tâm tại điên chí.
(Bài 72 - Trụy dư hý ca – VHv.19)
(Đường sá Hứa Châu chỗ lồi chỗ lõm,
Đọng nước mưa, bùn lầy hàng mấy chục dặm,
Người phu kiệu của ta khiêng suốt ngày, chống bên này, trượt bên kia.
Chợt không cẩn thận sảy chân vấp ngã).
Ngã rồi thì đứng dậy. Ông quan họ Phạm chân thành bình dị an ủi những phu xe đang sợ hãi: “Cữu thực tại dư, nhữ vô úy” (Lỗi thực tại ta, người đừng sợ). Và rồi, để xua tan nỗi lo của họ, ông nhanh trí dọc hai câu thơ vịnh về những bậc cao nhân, anh hùng ngã mà làm nên chuyện lớn. Ấy là để an ủi người, nhưng có lẽ quan trọng hơn là để nhắc nhở mình: “Giao lũy chi nhục nãi khả sỉ” (mối nhục nơi biên lũy mới đáng nhục).
Tình cảm đằm thắm với người, với cảnh in dấu rõ nét trong thơ Phạm Hy Lượng. Xa nước, thương quê, ấy là nối nặng lòng cố hữu của khách tha hương. Với Phạm Hy Lượng, bên cạnh đó còn là tình người thắm thiết không kể biên giới quốc gia hay đẳng cấp, ông viết:
Tứ hải luân giao khinh bạt thiệp,
Nhất tôn thoại biệt trọng lưu liên.
(Bài 61. Hiếu Cảm huyện hiểu phát thứ Ngũ công vận – VHv.19)
(Bến bể giao tình coi thường nỗi vất vả trèo đèo lội suối.
Một chén biệt ly sao nặng nỗi lưu luyến).
Chính vì thế, có khi chưa gặp mặt người, nhưng đồng cảm tâm tư và nể phục công tích, Phạm Hy Lượng vẫn viết được những câu thơ sâu nặng. Thương tiếc Tăng Quốc Phiên - trọng thần của triều Thanh, ông viết:
Kim Lăng nhất dạ vẫn tinh doanh,
Ai kính du nhiên hệ viễn tình.
….
Hải cương nhất cục ưng di hận,
Tinh chử dao chiêm thán tích đồng.
(Bài 149. Văn Tăng tướng công ai tín – VHv.19).
(Đêm này ở Kim Lăng một vì sao đã rơi,
Niềm thương tiếc và kính mộ vương vấn mãi trong lòng kẻ viễn khách.
…
Chết mà còn hận thế cuộc biên cương đường biển,
Đêm nay ngóng sao trời, lòng này cũng than tiếc với ngài).
Coi trọng người lao động - những phu kiệu vất vả trong suốt cuộc hành trình, không phải sự an ủi đãi bôi trong chốc lát, ông thay họ viết những vần thơ mộc mạc mà sâu xa:
Ngô sài tuy tiểu nhân,
Lâm sự vị hoặc xả.
Thời hành vân tắc hành,
Ứng tọa vân tắc tọa,
Thế đa phụ thừa lưu,
Hà nãi độc dư nhạ.
(Bài 68 – Dư phu hành – VHv. 19)
Chúng tớ dẫu tiểu nhân
Người cần, người chẳng bỏ.
Lúc đi thì cứ đi,
Lúc nghỉ ngồi yên chỗ.
Đời kẻ nhọc người nhàn,
Lạ gì riêng việc tớ.
(Trần Lê Văn dịch).
Trong quan niệm của ông, chí ít là sau chuỗi ngày nhọc nhằn cùng những người phu khênh kiệu, địa vị công việc của mỗi người là ngang nhau, kẻ nhọc cũng như người nhàn, cho nên ông không dám đem áo cầu xe ngựa để khoe khoang cuộc viễn du này.
Có những khi, cái nhìn của ông bao quát mà chi tiết đến lạ lùng, có thể nói, sự “tinh mắt” của ông là xuất phát từ một tấm lòng đằm thắm:
Khước lân dương liễu vô ngôn ý.
Do vị hành nhân phất lục điều.
(Bài 67 - Đồ gian – VHv.19)
(Chỉ thương dương liễu bên đường chẳng nói nên lời,
Mà vẫn vì người đi vẫy những cành xanh).
Nghĩ thật lạ cho những người dân Việt, dù phải lo toan bao nhiêu nghĩa vụ vẫn không phai mờ tình cảm thân thiết gần gũi với cảnh, với người. Đồng thời, hoặc chính vì thế, tính hóm hỉnh, bất ngờ cũng bền bỉ tồn tại trong đời sống tinh thần của họ. Trải suốt chặng đường dài, gặp xuân sắp tới, Phạm Hy Lượng viết:
Dục vấn xuân như hà?
Viễn sơn thanh nhược tiếu.
(Bài 15 – Long đầu nhàn bộ thù Sùng Sơn – VHv.19).
Muốn hỏi xuân sẽ ra sao?
Núi xa xanh xanh như một nét cười.
Cảnh sắc dịu và trong mát, nét núi cười như nụ cười chinh phu thoang thoảng mà thi vị. Đôi khi thơ ông lại có những dấu hỏi - những dấu hỏi bất ngờ, hóm hỉnh mà sâu thẳm:
Như hà hoạt Phật vô lượng thọ?
Vị để Bành Khanh bán thế niên.
(Bài 46 - Đề Tương Sơn thọ Phật tháp – VHv.19).
(Thế nào gọi là Phật sống “vô lượng thọ”?
Mà sống chưa bằng được nửa đời ông Bành Tổ)
Dĩ trưng tam mã đồng tào thực,
Hà khổ quần qua nhất đỉnh phân?
(Bài 78 – Quá Chương Hà hoài Ngụy Vũ đế… VHv.19)
(Đã rõ điềm ba ngựa ăn chung một máng,
Sao còn khổ vì chiến tranh phân chia ngôi vị?)
Anh hùng khuất tử tâm hà oán?
Miếu xã bình trầm sự mạc như.
(Bài 76 – Yết Nhạc vương từ - VHv.19).
(Anh hùng chết oan mà lòng có oán gì đâu?
Xã tắc thăng trầm, ấy là điều quan trọng hơn).
Những câu hỏi như không bắt buộc phải có câu trả lời của vị sứ thần 38 tuổi ấy chính là lời tự vấn bản thân mình. Làm người sống trong buổi giao thời khó lắm. Quá khứ thì đã cũ, tương lai còn mịt mờ. Ngay cả chuyến đi sứ này của phái bộ, vốn không phải là việc lạ của triều đình nhưng mục đích chưa hẳn là đã rõ. Mới năm trước một sứ bộ sang Thanh vừa về, sang năm nay lại sứ bộ này lên đường. Vua Tự Đức không đơn thuần phái người sang tạ ân vua Thanh giúp sức, mà có lẽ là muốn biết thái độ và tâm trạng của một nước láng giềng khổng lồ trước sự xâm nhập của trời Âu.
Kết quả về ngoại giao ra sao, sứ bộ khi về đã trình tấu. Còn thành tựu về văn học, đã có những tập thơ văn như thế này. Hình thức vẫn là thơ vịnh cảnh, tả tình, thù tạc, xướng họa; câu chữ vẫn là khối vuông với niêm, với luật từ muôn năm cũ; nhưng linh hồn thơ đã nhè nhẹ rung những cung bậc mới, bởi người cầm bút đang bước vào thời đoạn: “Âu La cận nhật thành tân giới” (Dạo này đã biết thêm nhiều điều mới của trời Âu”. Vị sứ thần họ Phạm ở độ tuổi 38 sung sức ấy không thể không bộc lộ những tia sáng đầy sức sống trong thơ mình. Phạm Hy Lượng ví mình như cánh chim non bay qua bể bắc (Bắc Minh sồ vũ) – ý khiêm tốn ấy quả chẳng sai. Tình thế nước nhà lúc ấy, đòi hỏi mọi mặt, mọi vấn đề, mọi lĩnh vực đều phải tự nhìn lại mình mà lượng sức. Ông cũng chỉ là một cánh chim non trong giông bão chuyển mình của thời đại mới. Có điều, linh cảm được điều ấy, cánh chim non vẫn miệt mài bươn trải cùng thử thách, và lảnh lót cất tiếng hát với đời.
Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr.14-21)