3. Phân nhóm các văn bản “Dịch kinh tiết yếu” và các biến thể của nó. (TBHNH 2011)
PHÂN NHÓM CÁC VĂN BẢN “DỊCH KINH TIẾT YẾU” VÀ CÁC BIẾN THỂ CỦA NÓ
NGUYỄN PHÚC ANH
Trường Đại học KHXH & Nhân văn, Hà Nội
Vào đầu thế kỉ XIX, hiện tượng khan hiếm các hệ bản Đại toàn do nguyên nhân hạn chế in ấn và do bản thân cấu trúc đồ sộ của Đại toàn đã làm nảy sinh nhu cầu cấp thiết trong việc tìm kiếm những sách mới tuân theo hệ thống chú giải tiêu chuẩn(1) nhằm mục đích thay thế sách Đại toàn phục vụ cho việc ôn tập khoa cử Việt Nam. Hệ thống chú giải Ngũ kinh tiết yếu của Bùi Huy Bích là một trong số những lựa chọn được ưa chuộng nhất của các sĩ tử thời bấy giờ. Chính vì quá được ưa chuộng và được truyền bá trong một phạm vi rộng lớn mà hệ thống Ngũ kinh tiết yếu tồn tại rất nhiều dị bản và các biến thể. Ngũ kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa là một trong số những biến thể của hệ bản Ngũ kinh tiết yếu này trong dân gian (chứ không phải là một hệ bản độc lập, không liên quan gì đến Ngũ kinh tiết yếu).
1.Về phần Ngũ kinh tiết yếu diễn nghĩa, hiện có hai hệ thống văn bản được biết đến bao gồm: 1). Hệ thống văn bản được một nhà in (hiện vẫn chưa xác định được) đứng ra in vào năm Minh Mệnh thứ 18 (1836). Hệ bản này tàn khuyết chỉ còn (chắc chắn) Thi kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa詩經大全 節要演義 (không đủ bộ, còn 2 trong tổng số 4 quyển) kí hiệu VNv.107 lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Nguyễn Tuấn Cường, 2006, Phụ lục I)(2).2). Hệ thống văn bản của Đa Văn đường khắc lại theo bản Minh Mệnh 1836 và cho xuất bản một năm sau đó là năm 1837 (Nguyễn Tuấn Cường, 2006)(3). Xuất hiện ít nhất từ năm 1836, rất sớm so với các hệ bản Ngũ kinh tiết yếu khác, nhưng đây lại là một hệ bản mà từ sau năm 1837 cho đến tận bây giờ chúng tôi chưa thấy được tái bản hay được các nhà in khác khắc in lại.
Như đã nói, bản chất Ngũ kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa là một trong số những biến thể của Ngũ kinh đại toàn, vì vậy Dịch kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa cũng chính là một biến thể của hệ bản Dịch kinh tiết yếu trong dân gian. Chúng tôi xin bắt đầu từ việc miêu tả tình hình tàng bản và phân nhóm các văn bản Dịch kinh tiết yếu theo những thông tin mà chúng tôi hiện biết.
Chúng tôi đã tiến hành phân nhóm các nhóm văn bản có nội dung gần với nhau thành một nhóm.Tạm thời có 3 nhóm như sau:
- Nhóm 1 gồm các văn bản Dịch kinh tiết yếu với nội dung tiết yếu kinh văn và những chú giải của hệ thống Đại toàn (theo hệ bản Tuân bổ ngự án Dịch kinh đại toàn(7)): PA-HN001, AC.422/5-6, R.205-R.206,.... Phần lớn nội dung văn bản của nhóm 1 được truyền tải lại trong các văn bản của nhóm 2 và nhóm 3, chúng tôi gọi đó là thành phần hạt nhân của Dịch kinh tiết yếu và có thể chắc chắn rằng nguyên bản thực sự của Bùi Huy Bích hẳn cũng phải bao gồm những thành phần hạt nhân chung cho cả ba nhóm văn bản này.
- Nhóm 2 gồm các văn bản Dịch kinh tiết yếu với nội dung bổ sung phần Diễn nghĩa chữ Nôm: AB.539/07-09, VNv.111/1-3; VNv.110/1-3; VNv.108/1-4. Trong đó ba văn bản VNv.111/1-3; VNv.110/1-3; VNv.108/1-4 vốn được biết đến với tên tác giả là Phạm Quý Thích. Thông qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy, những văn bản này không phải là của Phạm Quý Thích như bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu (Thư mục đề yếu) có viết (Trần Nghĩa et al., 1993, vol.1: 416-417). Cụ thể chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau của bài viết.
- Nhóm 3 gồm các văn bản Dịch kinh tiết yếu với nội dung Thượng tầng tăng bổ Ngự án Đại toàn: AC.194/5-6, H556-H558(8),...
- Cả ba nhóm văn bản đều tự nhận rằng mình chính là nguyên bản của Bùi Huy Bích, song nội dung của ba nhóm văn bản này có nhiều xô lệch. Phần lớn nội dung của nhóm 1 là nội dung được bảo lưu ở các nhóm 2 và 3. Điều đấy cho thấy: hẳn nguyên bản của Bùi Huy Bích chắc chắn bao hàm phần lớn hoặc thuộc hẳn về kiểu nhóm 1. Nhóm văn bản 2 và 3 khác biệt chủ yếu với văn bản nhóm 1 ở chỗ được tăng bổ những nội dung diễn nghĩa và tiết yếu. Hơn nữa nội dung tăng bổ này có thể không phải là do Bùi Huy Bích trực tiếp đưa vào mà xuất hiện trong quá trình lưu truyền của văn bản, dưới ảnh hưởng chỉnh sửa của các cơ sở in ấn tư nhân. Điều này cho chúng tôi niềm tin rằng, nguyên bản của Bùi Huy Bích về cơ bản cũng bao gồm nội dung chung của cả ba nhóm 1, 2, 3 (thành phần hạt nhân) chứ không chắc đã bao hàm thành tố “Diễn nghĩa chữ Nôm” của nhóm 2 và “Thượng tầng tăng bổ” của nhóm 3. Chúng tôi căn cứ vào nội dung xuất nhập để phân chia thành ba nhóm như trên, cụ thể đối với từng thành tố bổ sung, chúng tôi có những nhận định như sau:
1.1.Phần “Thượng tầng tăng bổ” cho Ngũ kinh tiết yếu có nội dung lấy từ lời “Ngự án” do vua Khang Hi biên soạn cho các kinh điển như Dịch, Thi, Thư, Xuân Thu. Các sách thuộc hệ sách kinh điển này bao gồm: Ngự toản Chu dịch chiết trung 御纂周易折中, Khâm định Xuân Thu truyện thuyết vựng toản欽定春
Nhóm | Kí hiệu | Nơi trữ | Nhà in | Tàng bản | Năm | Ghi chú |
1 | PA-HN001 | Tác giả sưu tầm | Tác Tân đường | Không rõ | Minh Mệnh thứ 3 (1823) | Chỉ còn 2 sách nội dung là Chu Dịch tiết yếu. Thủ sao vào năm Duy Tân. Có thành phần Ngự án(4) song không viết ở thiên đầu 天頭 mà nằm xen kẽ vào trong văn bản. |
AC.422/5-6 | VHN | Đa Văn đường | Không rõ | Thiệu Trị thứ 6 (1846) | Có thành phần Ngự án song không thượng tầng tăng bổ. Ngự án nằm xen kẽ vào trong văn bản. Không có thông tin cho thấy rằng đây là bản khắc lại. |
R.205, R.206 | TVQG | Không rõ | Không rõ | Không rõ | Tàn bản gồm 2 quyển đầu của Dịch kinh tiết yếu. Văn bản gần gũi với văn bản H556-H.558 nhưng không có thượng tầng tăng bổ. |
2 | AB.539/7-9; VNv.111/1-3; VNv.110/1-3; VNv.108/1-4 | VHN | Đa Văn đường | Không rõ | Minh Mệnh thứ 18 (1837). | Có bổ sung diễn nghĩa chữ Nôm những đoạn kinh văn. Tên chính thức là Dịch kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa. Chú rõ Bùi thị Nguyên bản. |
3 | AC.194/5-6(5) | VHN | Tụ Văn đường | Đông Cương Thịnh Mĩ đường | Thành Thái Đinh Dậu (1897) | Bài tựa viết năm Thiệu Trị 1846. Ngự án tuân bổ (có tăng bổ thượng tầng). |
H556 -H558(6) | K.Sử |
秋傳說彙纂, Khâm định Thư kinh truyện thuyết vựng toản欽定書經傳說彙纂, Khâm định Thi kinh truyện thuyết vựng toản 欽定詩經傳說彙纂(9)... Chúng ta cần lưu ý rằng, trong nội dung hạt nhân chung cho ba nhóm văn bản của Ngũ kinh tiết yếu đã có nội dung “Ngự án”, ta gọi đó là Ngự án lần 1. Nội dung này chắc chắn đã được Bùi Huy Bích tiết gọn lại và đưa vào chung với những chú giải cho kinh văn của Dịch kinh. Còn lần thượng tầng tăng bổ này cho Ngũ kinh tiết yếu là lần bổ sung Ngự án lần 2.
Về người đãbổ sung phần “Thượng tầng tăng bổ Ngự án”có thể khẳng định không phải là Bùi Huy Bích bởi:
+ Trong nội dung Ngũ kinh tiết yếu của Bùi Huy Bích đã có nội dung “Ngự án”, Bùi Huy Bích không thể là người bổ sung Ngự án lần 2 cho những gì mình đã viết mà lại bổ sung ở “thiên đầu” của quyển sách chứ không phải ở vị trí của Ngự án lần 1 (nằm chung với các chú giải khác). Nếu đây là nội dung có trong nguyên bản của Bùi Huy Bích thì nó đã được phân bố vào trong nội dung của quyển sách, ngay từ khi quyển sách được “tả dạng” 寫樣 để đem khắc in, chứ không phải tăng bổ một cách tiết kiệm lên “thiên đầu” của quyển sách.
+ Vị trí của Ngự án lần 2 là ở thượng tầng của quyển sách. Phương pháp bổ sung là thông qua tăng bổ ván in. Việc Tăng bổ thượng tầng cho thấy bản thân nhà in không muốn thay đổi ván in cũ, việc bổ sung chỉ có tính chất tiện lợi và tạm thời. Nhà in có chủ trương tiết kiệm trong hoạt động in ấn khi không thay đổi toàn bộ các ván in bằng hệ thống ván in mới mà chỉ chủ động tăng bổ lên “thiên đầu” (thượng tầng) của quyển sách ở những vị trí phù hợp và còn rộng rãi. Đây có thể là chủ trương của nhà in, chứ không phải chủ trương của tác giả.
+ Nhà in viết ở bìa sách của quyển mở đầu bộ sách Ngũ kinh tiết yếu bốn chữ “Ngự án tuân bổ” 御案遵補(có bổ sung thêm nội dung “Ngự án”)(10) như một ưu điểm cần phải thể hiện với những người mua và sử dụng hệ thống sách của họ. Đây là dẫn chứng quan trọng để chúng ta có thể tin rằng Ngự án lần 2 không phải là thành phần Bùi Huy Bích đưa vào trong sách của ông ngay từ lúc ban đầu.
1.2.Còn về phần “Diễn nghĩa chữ Nôm” nằm trong nội dung của quyển sách. Phần này về thực chất là phần dịch Nôm chính văn kinh điển. Thông qua khảo sát Dịch kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa, chúng tôi nhận thấy chỉ chính văn hay còn gọi là phần kinh văn của Chu Dịch là được dịch Nôm còn lại thì không được dịch. Tại sao chỉ có chính văn của kinh điển là được phiên dịch còn những truyện chú khác lại không được phiên dịch? Chính văn của kinh điển bản thân cũng bị cắt xén và thay đổi ít nhiều nhưng phần dịch văn vẫn đi sát với chính văn(11). Tại sao người ta chỉ tiến hành dịch Nôm phần kinh văn mà không dịch cả phần chú giải của quyển sách?
Nguyên nhân của hoạt động dịch Nôm kinh điển nói chung có thể là rất đa dạng: do sở thích cá nhân, do nhu cầu cần công cụ phụ giúp cho việc giảng dạy (đặc biệt cho lớp ấu học), nhu cầu ghi nhớ nội dung của kinh điển một cách nhanh chóng,... Song với trường hợp của Dịch kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa, chúng tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh vào vai trò hỗ trợ ghi nhớ nội dung kinh điển của việc dịch Nôm. Chúng tôi nhận thấy rằng, hầu hết những văn bản diễn nghĩa (sang chữ Nôm) kinh điển Nho gia đều tập trung vào việc diễn nghĩa phần “kinh” của kinh điển chứ không mấy văn bản chú trọng vào diễn nghĩa phần “truyện”, phần “chú” của kinh điển. Đó là do một nhu cầu xuất phát từ yêu cầu thực tế của việc học hành khoa cử Nho học. Chúng tôi đã từng nhắc đến một trường hợp: một chỉ dụ của nhà vua khiến cho chúng ta hiểu vì sao mà phải tiến hành dịch Nôm chính văn kinh điển:
“Lệ ngày giảng sách: ngày lẻ giảng Ngũ kinh và giảng các sử; ngày chẵn giảng Tứ thư và giảng sách Tính lý đại toàn, để cho hiểu biết được rộng. Về Ngũ kinh, Tứ thư thường đến ngày hôm sau phải đọc thuộc lòng, chính văn phải thuộc kỹ, các sử và Tính lý cốt phải thông suốt đại ý, không phải đọc thuộc lòng). Vua chuẩn cho theo như nghị mà làm” (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2007, vol.7:1333).
“Về Kinh, Truyện, giảng đến thiên nào, trước hãy giảng chính văn, phải đọc thật thuộc lòng để biết rút lấy ý nghĩa chính tâm, tu thân và đạo lý hiếu, đễ, trung, tín. Chư sử, thì chỉ giảng kỹ sự tích, không cần bắt đọc thuộc lòng” (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2007, vol.4:855).
Thông tin trên ðây là những yêu cầu bắt buộc các hoàng tử phải học và ngay cả với các hoàng tử thì những yêu cầu phải học thuộc lòng chính vãn cũng là một yêu cầu có tính chất bắt buộc. Với các sĩ tử ði thi thì ðýõng nhiên việc ghi nhớ chính vãn và nghĩa lí ðại khái của nó là ðiều quan trọng bậc nhất ðể výợt qua ít nhất là trýờng thi kinh nghĩa. Áp lực của việc học thuộc lòng kinh ðiển là có. Việc diễn nghĩa sang chữ Nôm chính vãn kinh ðiển chứ không phải toàn bộ là cần thiết ðể hỗ trợ hoạt ðộng tự học và học thuộc lòng chính vãn kinh ðiển, hýớng ðến phục vụ mục ðích thi cử. Chúng tôi không nói ghi nhớ kinh ðiển là mục ðích duy nhất mà việc diễn nghĩa chữ Nôm hýớng ðến, nhýng ðây là một trong số những nguyên nhân quan trọng ðể giải thích tại sao chỉ bổ sung phần diễn nghĩa bằng chữ Nôm ðối với chính vãn kinh ðiển(12). Một ðiều nữa là trong trýờng thi kinh nghĩa nói riêng và khoa cử Nho học nói chung, việc ghi nhớ nội dung nghĩa lí của kinh ðiển Nho học là một yêu cầu quan trọng bậc nhất. Hạn chế của ngýời Việt trong việc ghi nhớ nội dung cõ bản của kinh ðiển Nho học là phải chuyển ðổi tý duy của mình sang một thứ ngôn ngữ khác. Nội dung kinh ðiển ðýợc phiên dịch sang chữ Nôm tỏ ra dễ dàng hõn cho những ngýời sõ học trong việc tiếp cận kinh ðiển và ghi nhớ nội dung ðại khái kinh ðiển Nho gia.
2.Song về mặt chủ thể bổ sung diễn nghĩa chữ Nôm chúng ta hiện chưa biết chắc có phải là của Bùi Huy Bích biên soạn hay không. Không có tài liệu nào cho thấy Bùi Huy Bích là tác giả của những phần dịch Nôm và của bộ sách có tên là Ngũ kinh tiết yếu diễn nghĩa cả.
Học giả đầu tiên đặt vấn đề về tác giả của toàn bộ sách Dịch kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa (bao gồm cả phần diễn nghĩa) hay rộng hơn của sách Ngũ kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa chính là Hoàng Xuân Hãn. Trong một khảo cứu với nhan đềLa Sơn phu tử xuất bản lần đầu năm 1952 ông có viết: “...Về sau năm Minh Mạng thứ 17, có bản Ngũkinh tiếtyếu diễnnghĩa khắc in. Bản ấy đề là “Bùi-thị nguyên-bản” và “Nguyễn-đường tàng-bản”, đều là những bản mới khắc. Chú giải cho những thông tin này Hoàng Xuân Hãn viết thêm: “Tôi nghĩ rằng các bản ấy là của Bùi Dương Lịch. Đó là trong các những sách in thuộc loại “Bùi thị nguyên bản” ấy, có sách Nghệ An nhân vật chí của Bùi Dương Lịch. Nếu vậy, thì các sách ấy chắc cũng là công-tác của Sùng-chính-viện” (Hoàng Xuân Hãn, 1998: 1073)(13). Nguyễn Tuấn Cường khi nghiên cứu về Thi kinh tiết yếu diễn nghĩa có đặt vấn đề hoài nghi giả thuyết của Hoàng Xuân Hãn (Nguyễn Tuấn Cường, 2006). Những sách có ghi “Bùi thị nguyên bản” như Ngũ kinh tiết yếu, Tứ thư tiết yếu, Chu lễ chú sớ san dực tiết yếu, Thiếu vi tiết yếu,… có những chứng cứ để khẳng định là tác phẩm của Bùi Huy Bích, nên phỏng đoán chỉ dựa trên cách đề tên tác giả Nghệ An nhân vật chí của Hoàng Xuân Hãn là chưa đủ thuyết phục(14). Trong hình dung của Hoàng Xuân Hãn, “công-tác của Sùng-chính-viện” chính là công tác dịch Nôm kinh điển Nho học. Và đồng nghĩa với đó, tác giả của phần diễn nghĩa cho Chu Dịch đại toàn tiết yếu có thể chính là Sùng Chính viện!
Một quan điểm khác là quan điểm của những tác giả bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu, những tác giả của bộ thư mục này cho rằng có tồn tại một văn bản Dịch kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa 易經大全節要演義 của Hoa Đường Phạm Quý Thích 華堂范貴適 soạn đời Cảnh Hưng (1740-1786) với các kí hiệu: VNv. 108/1-4, VNv. 110/1-3, VNv. 11/1-3: 768 tr.(15) … (Trần Nghĩa et al., 1993, vol.1:416-417).
Chúng tôi trong thực tế khảo sát nhận thấy, không có bản Dịch kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa nào của Phạm Quý Thích cả. Ba bộ sách với các kí hiệu VNv.111/1-3; VNv.110/1-3; VNv.108/1-4 đều là ba bộ sách vốn không có bất kì thông tin nào về tác giả. Thông qua quá trình so sánh, chúng tôi nhận thấy nội dung của ba bộ sách này giống hệt với nội dung của bộ Dịch kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa (biến thể được bổ sung của Dịch kinh tiết yếu - Bùi Huy Bích). Thậm chí ba bộ sách này còn có dấu hiệu được in từ cùng một bộ ván in.Bộ VNv.108/1-4 hơi khác hai bộ còn lại ở cách đóng quyển. Khả năng cao là những người làm Thư mục đề yếu đã phỏng đoán tác giả của quyển sách và đã có đôi chút nhầm lẫn. Nguyên nhân của những nhầm lẫn này, theo Nguyễn Thanh Tùng, đó là do dòng chữ bằng bút sắt, mực đỏ chép thêm vào mặt trong tờ lót sách thứ 2 bản Dịch kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa VNv.108 của Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm: “Hoa Đường Phạm Quý Thích soạn” 堂范貴適撰 và “Cảnh Hưng” 景興(Nguyễn Thanh Tùng, 2011). Chúng tôi cũng cho rằng, những thông tin đó là do người đời sau thêm vào, không đáng tin cậy. Đến giờ, chúng tôi vẫn chưa tìm ra một chứng lí nào cho thấy đây là văn bản diễn nghĩa Dịch kinh đại toàn của Phạm Quý Thích như quyển Thư mục đề yếu viết.
Song, khi bác bỏ được nghi vấn của Hoàng Xuân Hãn cùng những tác giả Thư mục đề yếu về vấn đề tác giả của toàn bộ Ngũ kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa, khẳng định Bùi thị được nói đến ở đây chính là Bùi Huy Bích thì người ta phải đứng trước một câu hỏi còn phức tạp hơn gấp bội lần: liệu Bùi Huy Bích có phải là tác giả của toàn bộ Ngũ kinh tiết yếu và các hệ bản cùng biến thể của nó hay không? Phần “Diễn nghĩa” trong sách Dịch kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa một biến thể của Dịch kinh tiết yếu (thuộc Ngũ kinh tiết yếu) có phải là của Bùi Huy Bích hay không? Khả năng cao, phần dịch Nôm này là do những nhà sách tự ý đưa vào trong nội dung của văn bản Bùi Huy Bích. Nội dung này cũng nhanh chóng bị loại bỏ khỏi những văn bản Ngũ kinh Tiết yếu diễn nghĩa sau này và dường như nó không còn có được sự hưởng ứng từ phía những người sử dụng sách (minh chứng là hệ bản này trở nên đặc biệt khó tìm kiếm). Chúng tôi hi vọng có thể giải quyết được vấn đề này trong những bài viết tiếp theo.
Chú thích:
5Khảo sát văn bản AC.422/5 của Đa Văn đường in năm Thiệu Trị 6 (1846): ta nhận thấy văn bản này không giống với bản H556-H558 (Tụ Văn đường). Nhất định đây là hai ván in khác nhau, tuy rằng nội dung là gần gũi nhau. Bản AC.422/5 đã có Ngự án nằm xen kẽ. Bản H.556-H.558 cũng có Ngự án nằm xen kẽ trong văn bản song lại có thêm phần Thượng tầng tăng bổ.
6Văn bản H.556-558 của Thư viện Khoa Sử còn cho thấy những chủ trương bổ sung có lẽ đi ngược lại với chủ ý của Bùi Huy Bích khi tăng bổ thêm một số đồ hình và những tình tiết đã bị Bùi Huy Bích cố tình gạt bỏ, ví dụ như trong trường hợp “Bát quái thứ tự hoành đồ”. Đồ này không xuất hiện trong nhiều hệ thống tiết yếu nhưng riêng trong H.556-558 thì đồ hình này lại xuất hiện một cách gán ghép rất đáng ngờ. Nhà in đóng vai trò là những người đọc văn bản đặc biệt khi họ trực tiếp can thiệp vào văn bản theo những điều mà họ cho là đúng và cần thiết, dù rằng điều họ cho là đúng có thể không phù hợp, thậm chí đi ngược lại với quan điểm ban đầu của tác giả.
(Thông báo Hán Nôm học 2011, tr.458-469)