3. Tấm bia quý ở nhà thờ Thượng thư Tể tướng Nguyễn Công Thái (TBHNH 1996)
TẤM BIA QUÝ Ở NHÀ THỜ THƯỢNG THƯ TỂ TƯỚNG NGUYỄN CÔNG THÁI
Vũ Thị Lan Anh
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Nguyễn Công Thái (1684-1758) là một nhân vật khá có danh tiếng hồi cuối thế kỷ XVII nửa đầu thế kỷ XVIII. Trải qua cuộc đời làm quan hơn 40 năm, thờ bốn đời chúa. Ông là một trong những vị đại thần được cacschuas Trịnh tin dùng. Năm 1739, ông dự vào việc tôn lập Trịnh Doanh(1) lên ngôi chúa. Sau khi lên ngôi, Trịnh Doanh rất quý trọng ông, ban cho quyền cao chức trọng. Cho đến khi đã về trí sĩ, trước sau năm lần ông còn được vời ra giuwx chức Tham tụng.
Ông còn là người có công lớn, trong việc cùng Tả thị lang bộ Binh, Nguyễn Huy Nhuận lên Tuyên Quang giao thiệp với người Thanh về việc cắm mốc biên giới vào năm 1728 giúp chúng ta. Ta lấy lại được mỏ đồng, mỏ bạc và cắm lại mốc biên giới cũ từ sông Đổ Chú. Từ đó, biên giới vùng này được ổn định.
Sử sách ghi chép về ông khá nhiều, phần lớn đều ca ngợi ông là người có bản tính cứng cỏi, ngay thẳng, ở triều đình không thiên vị ai”(2).
Hiện nay ở nhà thờ ông tại làng Kim Lũ (tức làng Lủ) xã Đại Kim huyện Thanh Trì ngoại thành Hà Nội, còn một tấm bia do con trai thứ của ông là Nguyễn Huy Túc(3) soạn. Tấm bia ghi chép rất tỷ mỉ về thân thế và những sự kiện trong cuộc đời làm quan của ông.
Nhận thấy đây là một tấm bia cung cấp nhiều tư liệu quý, đáng tin cậy, nên chúng tôi xin giới thiệu toàn văn bản dịch để bạn đọc có thể tham khảo, tìm hiểu về Nguyễn Công Thái.
Bia khắc chữ cả hai mặt khổ 48x80cm, chạm mặt trời lưỡi lửa và rồng, toàn văn chữ Hán, khắc chân phương, 36 dòng, khoảng 800 chữ, dựng năm Chiêu Thống 3 (1789).
Dịch nghĩa:
Bài ký khắc trên bia từ đường quan Thượng thư Tể tướng
Cha húy Phấn, tự Công Thái, hiệu Thuần Chính, dáng vẻ uy nghi, mặt đầy đặn, hai gò má cao, tai trắng, sinh ngày 1 tháng 10 năm Giáp Tý, mất ngày 21 tháng 1 năm mậu Dần, mộ táng tại...
Mẹ là Quận phu nhân họ Nguyễn, húy Dật, hiệu Từ Thận, tính cẩn thận, thuần hậu, cần kiệm, ôn hòa, sinh giờ Dần ngày 24 tháng 2 năm Quý Dậu, mất giờ Thìn ngày 23 tháng 5 năm Nhâm Thân, mộ táng ở xứ Lò Ngói thôn Cầu thuộc bản xã, hướng chếch Tây Nam.
Từng nghe: Bàn về đạo của bậc Đại thần, tu bổ cho kế hoạch lớn lao trong việc quân cơ, người có công xứng với lòng nhân, việc cai trị giống như vạch rõ đám mây lớn trên bầu trời vậy.
Kính nhớ cha: Suy Trung dực vận công thần, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Tham tụng, Lại bộ Thượng thư kiêm Đông các hiệu thư, Ngũ lão, trí sĩ. Sau lại phục dụng hàm Thái tử Thái bảo, khi mất được tặng hàm Thái tể Thái phó tước Kiều quận công, thụy là Trung Mẫn. Ông là người trầm tĩnh, cứng rắn, mưu lược. Năm 19 tuổi đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương. Năm 32 tuổi, đỗ Hội nguyên khoa Ất Mùi năm Vĩnh Thịnh 11 (1715), làm quan trải các chức: Đốc đồng Hải Dương, Thanh Hoa, Hiến sát Nghệ An, Tham chính Kinh Bắc. Nhập tri Lại phiên, Binh Phiên, thăng nhập chức Tự khanh Tế tửu Quốc tử giám.
Năm Mậu Thân (1728) phụng mệnh lên Tuyên Quang giải quyết việc tranh chấp biên giới với Bắc triều. Ta lấy lại những mỏ đồng, mỏ bạc, cắm lại mốc biên giới cũ từ song Đổ Chú(4) là từ năm đó. Cũng năm này, Ông lại đỗ khoa Đông Các, ngựa xe danh giá, được ban kiêm Đông các hiệu thư, thăng Ngự sử phó đô, tước Bá. Năm Quí Sửu (1733) thăng Công bộ Hữu thị lang, nhập Bồi tụng, lại thăng Binh bộ, hành Lại bộ sự.
Năm Kỷ Mùi (1740) thăng Lại bộ Tả thị lang Đồng tham tụng, vâng mệnh tới Lạng Sơn tuyên dụ loạn Tích Cơ ở xứ Bàn Thổ.
Năm Canh Thân (1790) bọn nghịch thần của đảng Thực Bào nổi lên tứ phía, ông định kế sách diệt trừ. Nghị Tổ Ân Vương (Trịnh Doanh) thấy ông có công diệt trừ nghiệt đảng, phong Suy trung dực vận công thần, đặc ban kim bài, thăng Chính tham tụng, Công bộ Thượng thư tước Hầu. Ông làm quan Tả Nhuệ cơ, trong tham dự chính sự, ngoài lo việc quân cơ. Hộ giá đi đánh giặc ở phía đông Phao Sơn, lại hộ giá đi dẹp giặc ở Bắc Ninh.
Năm Tân Dậu (1741) vâng mệnh đi lưu thủ trấn Thanh Hoa, cùng các quan trong trấn dẹp bọn cướp. Vâng mệnh bình công trong quân (vì có công nên ông được).
Năm Nhâm Tuất (1742) lại được vời ra làm Tham tụng, thăng Binh bộ Thượng thư, hộ giá xuống phía Nam đánh giặc Ngân Già, được ban xe, kiệu, võng.
Năm Quí Hợi (1743), thăng Lễ bộ Thượng thư, phái ra trấn Sơn Nam quân cơ Trung dực, dựa thế hiểu dẹp loạn Hoàng Công Chất. Khi về triều được khen là đức chính.
Năm Giáp Tý (1744) lần thứ 3 được vời ra làm Tham tụng. Mùa đông năm ấy ra trấn Thanh Hoa, vâng mệnh mở quân doanh trong trấn để dẹp loạn Lê Duy Mật.
Năm Bính Dần (1746) lần thứ 4 được vời ra làm Tham tụng.
Năm Mậu Thìn (1748) được trao Lệ tạ sự, thăng hàm Thiếu bảo, chức Hộ bộ Thượng thư, Ngũ lão, trí sĩ, được cấp thêm ruộng, người phục dịch. Chúa Trịnh ban thơ cho ông.
Năm Kỷ Tỵ (1749) được vời ra làm Tham tụng lần thứ 5. Năm Tân Mùi (1751) hộ giá đi dẹp phía Tây. Năm Quí Dậu (1753) thăng hàm Thiếu bảo, chức Tri Quốc tử giám. Năm Giáp Tuất (1754) phong chức Tể tướng kiêm Thái phó, tiến giảng ở phủ chúa.
Năm Bính Tý (1756), bấy giờ trong huyện được yên bình, mọi việc trong ngoài đều được ổn đáng, các việc đều đã có thành công, điều tiếng dèm pha cũng dễ nảy sinh, ông bèn dâng biểu xin nghỉ việc. Ông đã 5 lần dâng tấu nhưng phủ chúa biết ông là người có tài đức đáng giao trọng trách. Ba lần ông giữ chức ở Thanh phiên (cơ quan kiểm tra) do tính thẳng thắn nên ít người hợp. Năm Mậu Dần được thăng chức Lại bộ Thượng thư, cũng năm ấy ông qua đời. Sau khi ông mất được tặng hàm Thái tử Thái phó, được sắc chỉ ban cho nghi lễ thờ cúng.
Từ năm Ất Mùi đến năm Mậu Dần, ông liên tục làm quan. Trong hơn 40 năm làm quan tại triều, Ông là người có bản lĩnh độc lập không dựa dẫm vào ai, thẳng một mực giữ đúng ý không a dua. Tuy phẩm tước chỉ đạm bạc nhưng vẫn vui vẻ cần cù làm việc, bên trong khoan hòa mà bên ngoài phép tắc, có tài kinh luân gánh vác. Trải qua 4 triều chúa Ông đều được trọng dụng, làm việc không mệt mỏi, công lao không phải nhỏ, nhưng ông chỉ khiêm tốn coi đó là chức phận của mình. Ngay cả khi được hưởng ân sủng của vua ông cũng chưa từng bao giờ kể công của mình chỉ một lòng trong thành trong sáng, đạo đức độ lượng, đạo của người làm tướng rõ rệt thay.
Người đời sau khi nhớ đến tài học của ông, nhớ đến tiết tháo của ông, nghĩ đến sự mẫn cán, thạo việc, nghĩ đến những mưu lược tự hình của ông như vẫn còn thấy rõ trước mắt cái tinh thần của ông hướng tới mức cao nhất của người cầm quyền. Phong độ làm quan của ông tôn kính người hiền đức, trọng dụng bậc hiền tài, có lẽ là để kế thừa ý chí sự nghiệp của người xưa chăng?
Sách Tả truyện xưng là Tế Mĩ tức là đời sau thừa hưởng cái đẹp của đời trước trên cơ sở đó phát triển thêm nữa. Trong Kinh Thi vịnh là tác cầu ý muốn nói đời đời tích đức để cuối cùng đạt được công trạng lớn lao!
Chớ thấy sự nghiệp 3 lần vinh quang, 5 lần làm tướng mà cho là to lớn.
Con trai thứ là Nguyễn Huy Túc, Triều liệt đại phu, Hàn lâm viện Thị độc, Hành Lại bộ Tả thị lang, Đồng bình chương sự, tước Tô Phái hầu chắp tay cúi đầu kính soạn.
Dựng bia đầu tháng giêng năm Kỷ Dậu, niên hiệu Chiêu Thống 3 (1789).
Chú thích:
1. Trịnh Doanh: Con thứ Trịnh Cương, tức Minh Đô Vương, miếu hiệu Nghị Tổ, ở ngôi 1740-1767.
2. Đại Việt sử ký tục biên, Nxb. Khoa học xã hội, 1991, tr.260, Khâm định Việt sử thông giám cương mục Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn. Nxb. Văn sử địa H.1957-1960.
3. Nguyễn Huy Túc: Hàn lâm viện Thị độc Tả thị lang bộ Lại, Đồng bình chương sự, tước Tô Phái hầu.
4. Các tài liệu khác như Sử ký tục biên (sđd), Cương mục (sđd), Phương Đình dư địa chí (Bd của Sài Gòn, Nxb. Tự do, 1959) v.v... đều ghi là sông Đổ Chú, nhưng văn bia lại ghi là Đổ Huống (...) có thể do tự dạng chữ Huống và chữ Chú gần giống nhau mà khắc lầm. Chúng tôi xin ghi theo các tài liệu đã dẫn trên.
Thông báo Hán Nôm học 1996 ( tr.19-24)