3.Về một bài thơ trong sáng tác của TRẦN HIỀN (TBHNH2002)
Thứ Ba, 03/04/2007 23:25
TBHNH2002
VỀ MỘT BÀI THƠ TRONG SÁNG TÁC CỦA TRẦN HIỀN
VIỆT ANH
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Đó là bài thứ 120 trên 200 bài thơ nằm trong sách Tiến sĩ Trần thị giảng lý lịch A.694 (tên sách nghĩa là lý lịch của Tiến sĩ họ Trần, làm quan Thị giảng). Theo như tên sách và lời tựa đầu sách thì A.694 có tác giả là Trần Hiền (1684-1742), quê xã Vân Canh, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, Hà Nội (nay thuộc xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây). Ông đậu Tiến sĩ khoa Long Đức 2 (1733), đời vua Lê Thuần Tông. Như vậy, Trần Hiền được sinh ra và sống từ cuối thế kỷ 17 và nửa đầu thế kỷ 18.
Bài thơ 120 nói trên có tên Bồi Ngọc Phong Ngô trượng ông du Hoa Phát sơn tự thứ vận trình đáp 陪 玉 峰 吳 丈 翁 遊 花 發 山寺 次 韻 呈 答 (nghĩa là cùng ông thông gia họ Ngô hiệu Ngọc Phong chơi chùa núi Hoa Phát, hoạ vần trình đáp). Theo sự chỉ dẫn của các sách công cụ nghiên cứu tư liệu Hán Nôm, có thể tra cứu và biết rằng: Ngọc Phong là hiệu của một tác giả Hán Nôm có hiệu khác là Trừng Khê 澄 溪, Thạc Phủ 碩 甫, tên huý là Giản 澗.
Ngọc Phong có nhiều người anh ruột, trong đó một người anh sinh năm 1803, nên chắc chắn Ngọc Phong phải sinh sau năm 1803. Thêm nữa, Ngọc Phong có thư trao đổi với Vân Lộc ông Nguyễn Tư Giản (1822-1890), Hoàng giáp khoa 1844 (Thiệu Trị 4). Như vậy chứng tỏ Ngô Ngọc Phong được sinh ra và sống trong thế kỷ 19. Năm mà Trần Hiền mất cách năm mà Ngô Ngọc Phong sinh tới nửa thế kỷ, hai người không thể cùng nhau đi chơi tại một cảnh đẹp cụ thể nào được. Cũng có nghĩa là, bài thơ 120 trong A.964 không thể là của Trần Hiền.
Tư liệu về Ngô Ngọc Phong cho biết thêm, tác giả họ Ngô này có một người bạn hiệu là Sài Phong. Sài Phong là thông gia với Ngô Ngọc Phong; con trai trưởng của Sài Phong tức là con rể của Ngô Ngọc Phong mang họ Phan, là Viên ngoại lang bộ Lễ. Từ đó suy ra, nhân vật Sài Phong cũng mang họ Phan, và đó chính là Phan Huy Vịnh (1800-1870), danh sĩ thuộc dòng họ Phan danh giá ở xã Thụy Khuê, huyện Quốc Oai, trấn Sơn Tây (nay thuộc tỉnh Hà Tây). Phan Huy Vịnh đậu Cử nhân khoa Mậu Tý 1828 (Minh Mạng 9), làm quan tới Thượng thư bộ Hình, bộ Lễ. Và điều đáng nói hơn cả là về bài xướng của Ngô Ngọc Phong và bài hoạ của Phan Huy Vịnh trong cuộc dạo chơi trên chùa núi Hoa Phát. Cả hai bài này đều được chép trong sáng tác của Ngô Ngọc Phong, ký hiệu VHv.268. Bài hoạ của Phan Huy Vịnh hoàn toàn trùng hợp với bài thơ thứ 120 trong A.694 vẫn được coi là của Trần Hiền. Nói chính xác hơn, bài thơ thứ 120 trong A.694 đã được xác định là của tác giả Phan Huy Vịnh. Xin được giới thiệu bài xướng và bài hoạ này.
春 日 同 柴 峰 遊 花 發 寺
秀 嶺名 藍 景 色 清
寺 名依 舊 帶 山 名
護 禪大 塊 私 佳 趣
造 福宮 妃 勒 石 銘
春 樹花 香 通 法 界
鐘 樓鳥 語 和 人 聲
登 林別 占 風 塵 外
安 得中 山 借 作 亭
Bài xướng của Ngô Ngọc Phong
Dịch nghĩa:
Ngày xuân cùng Sài Phong chơi chùa Hoa Phát
(Núi tên là Hoa Phát Núi này đá trổ hoa, trong lành tuyệt đẹp)
Núi đẹp, chùa thiêng, cảnh sắc trong lành
Tên chùa vẫn mang tên núi như cũ
Đá lớn che chắn cửa thiền cũng riêng thành một chốn thú vị
Cung phi tạo phúc đã góp của khắc bài minh lên đá
Trong rừng cây mùa xuân, hoa thơm thấu tận pháp giới
Trên lầu chuông, chim lảnh lót hoạ tiếng người
Lên thăm nơi riêng chiếm một cõi ngoài phong trần
Không hiểu sao lại mượn được vị thế giữa núi để dựng đình thế này.
Bài hoạ của Phan Huy Vịnh
山 對 柴 山 一 樣 清
上 開 蘭 若 與 山 名
奇 觀 攀 石 臨 高 閣
古 意 捫 苔 讀 舊 銘
鳥 度 風 前 斜 有 影
花 飛 雨 後 細 無 聲
陪 遊 會 得 詩 翁 樂
餘 興 翩 翩 到 草 庭
Phiên âm:
Bồi Ngọc Phong Ngô trượng ông du Hoa Phát sơn tự thứ vận trình đáp
Sơn đối Sài Sơn nhất dạng thanh
Thượng khai lan nhược dữ sơn danh
Kỳ quan phan thạch lâm cao các
Cổ ý môn đài độc cựu minh
Điểu độ phong tiền tà hữu ảnh
Hoa phi vũ hậu tế vô thanh
Bồi du hội đắc thi ông lạc
Dư hứng phiên phiên đáo thảo đình.
Dịch nghĩa:
Cùng ông thông gia họ Ngô, hiệu Ngọc Phong chơi chùa núi Hoa Phát, hoạ vần trình đáp
Ngọn núi đối mặt với núi Sài cùng một vẻ trong lành
Trên đó nở hoa lan như tên núi vậy
Thăm kỳ quan nên bám núi đá lên gác cao
Dò ý xưa nên rẽ rêu đọc lời minh cũ
Chim bay trước gió nghiêng nghiêng bóng
Hoa bay sau mưa liu riu không âm thanh
Theo người cùng chơi mới hiểu được niềm vui của nhà thơ
Hứng tràn phấp phới tới tận sân cỏ.
Như vậy, đã chắc chắn rằng bài thơ thứ 120 trong Tiến sĩ Trần thị giảng lý lịch A.694 không thể và không phải do Tiến sĩ Trần Hiền sáng tác. Điều này góp phần gợi mở hướng đi tiếp tục để nghiên cứu văn bản tác phẩm của Tiến sĩ Trần Hiền.
Thông báo Hán Nôm học 2002, tr.30-34