VI | EN
31. Thử tìm hiểu giá trị về phương diện y học của Đại Nam quốc ngữ (TBHNH 2009)
(TBHNH 2009)

GIÁ TRỊ VỀ PHƯƠNG DIỆN Y HỌC CỦA ĐẠI NAM QUỐC NGỮ

(qua khảo cứu các giống cây cỏ, các loài côn trùng)

LÃ MINH HẰNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Tiểu dẫn

Với phương châm dùng thuốc Nam chữa bệnh cho người Nam, y học cổ truyền Việt Nam từ xa xưa đã biết sử dụng các giống cây cỏ, các loài côn trùng để trị bệnh rất hiệu quả mà lại không tốn kém về kinh tế. Hiện nay, trong kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu trữ khá nhiều sách đông y ghi lại các phương thuốc chữa bệnh đơn giản, hiệu quả từ các giống cây cỏ, các loài côn trùng thường gặp trong cuộc sống hàng ngày.

Lâu nay, Đại Nam quốc ngữ (ĐNQN) được biết đến như một cuốn từ điển song ngữ Hán Việt. Các nhà nghiên cứu chữ Nôm, nghiên cứu Ngôn ngữ học chỉ nhắc đến ĐNQN như là một cứ liệu để nghiên cứu tiếng Việt, nghiên cứu chữ Nôm cuối thế kỷ 19. Thế nhưng chưa thấy ai đề cập đến giá trị về khoa học kĩ thuật, đặc biệt là về phương diện y học của ĐNQN.

Trong bài viết này, thông qua khảo cứu tác dụng của các loài cây cỏ và các giống côn trùng được ghi trong văn bản, chúng tôi muốn khẳng định giá trị về phương diện y học của ĐNQN.

1. Đại Nam quốc ngữ trong sự so sánh với các văn bản cùng thể loại

Quá trình tiếp nhận và sử dụng chữ Hán đã lưu lại ở Việt Nam một số bộ tự điển, từ điển tiêu biểu như: Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa, Tam thiên tự giải âm, Nhật dụng thường đàm, Tự học tiết lục, Tự học cầu tinh ca, Thiên tự văn giải âm, Nam phương danh vật bị khảo… Trong các bộ tự thư này, nếu quan sát kĩ về nội dung thì có thể phân biệt như sau: có loại đơn thuần chỉ là sách dạy viết chuẩn chính tả chữ Hán (như Tự học cầu tinh ca); có loại được biên soạn trên cơ sở rút gọn bộ Khang Hi tự điển, sắp xếp theo bộ thủ Hán (như Tự điển tiết lục); có loại lại mang tính chất như một quyển sổ tay học từ ngữ Hán (như: Tự học huấn mông, Tự học tứ ngôn thi…). Thế nhưng, chiếm phần nhiều hơn cả vẫn là nhóm các bộ tự điển, từ điển Hán được sắp xếp theo môn loại (nghĩa là được sắp xếp xuất phát từ ý nghĩa của chữ Hán, từ ngữ Hán).

Trong nhóm các bộ từ điển song ngữ được sắp xếp theo môn loại, có thể kể đến 3 đại diện tiêu biểu:

- Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa (gọi tắt: Chỉ Nam ngọc âm) được coi là đại diện tiêu biểu cho giai đoạn đầu của việc biên soạn từ điển song ngữ Hán Việt(1);

- Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca (gọi tắt: Tự Đức thánh chế) được biết đến bởi tác giả của cuốn sách không ai khác là một vị vua triều Nguyễn. Cuốn sách là một minh chứng cho sự lên ngôi của chữ Nôm trên văn đàn;

- ĐNQN được coi là đại diện thứ ba cho hệ thống từ điển song ngữ bởi lẽ: các mục từ khá nhiều, bao trùm nhiều lĩnh vực và được giải thích khá tường tận chính xác.

ĐNQN thuộc nhóm bộ từ điển được sắp xếp theo môn loại. Sách do Hải Châu tử Nguyễn Văn San(2) biên soạn, bài lệ được viết vào ngày Đoan Ngọ (mồng 5 tháng Năm) năm Canh Thìn niên hiệu Tự Đức thứ 30 (1877). Sách được khắc in và lưu truyền rộng rãi trong dân gian vào năm đầu niên hiệu Thành Thái (1899).

Để có thể giới thiệu đặc điểm của bộ từ thư này, phần dưới đây xin được đối chiếu 3 bộ: Chỉ Nam ngọc âm, Tự Đức thánh chếĐNQN ở 2 khía cạnh: cách phân môn bộ và cách giải thích nghĩa trong các mục từ ghi về các giống cây cỏ, các loài trùng.

1.1. Cách phân môn bộ

Chỉ Nam ngọc âm chia làm 40 môn bộ (gồm: từ Thiên văn bộ, Địa lí bộ, Nhân luân bộ, Thân thể bộ… đến Công khí bộ, Nhạc khí bộ, Binh khí bộ và cuối cùng là Pháp khí bộ). Tự Đức thánh chế có xu hướng thu gọn lại, chỉ sắp xếp trong 7 loại (7 môn loại, gồm: Kham dư loại, Nhân sự loại, Chính hoá loại, Khí dụng loại, Thảo mộc loại, Cầm thú loại và Trùng ngư loại). ĐNQN là cuốn từ điển ra đời muộn hơn cả, đã kế thừa truyền thống phân loại tỉ mỉ của bộ từ điển cổ là Chỉ Nam ngọc âm, nâng tổng số môn bộ của sách lên 50 môn.

So sánh sự phân chia môn/bộ trong Chỉ Nam ngọc âmĐNQN thì thấy Tạng phủ bộ và Bì đằng bộ không được tác giả ĐNQN tách riêng thành môn bộ độc lập như trong Chỉ Nam ngọc âm mà lại được đặt trong Thân thể môn và Chức nhậm môn. Nhìn trên đại thể có thể thấy rõ: so với Chỉ Nam ngọc âm thì ĐNQN có xu hướng phân loại tỉ mỉ hơn nhiều. Các môn bộ như: Trân bảo môn, Chúng hương môn, Hoa quả môn, Thảo mộc môn, Sơ thái môn, Trùng trãi môn, Thủy bộ, Thổ bộ... hầu như không được tác giả Chỉ Nam ngọc âm đề cập đến (đã không đưa vào môn bộ độc lập).

Khi so sánh nội dung ghi chép trong từng mục từ thì thấy: cả Chỉ Nam ngọc âm Tự Đức thánh chế đều chỉ dừng lại ở việc gọi tên sự vật. Thế nhưng trong ĐNQN lại có sự sai khác: không chỉ dừng ở việc giới thiệu tên gọi sự vật, mà tiến hơn một bước, tác giả Nguyễn Văn San đã giải thích khá tường tận về đặc điểm, công dụng, cách sử dụng, cách chế biến của sự vật đó. Về điểm này ĐNQN như một cuốn cẩm nang cần thiết cho mọi người, dùng để tra cứu các sự việc xảy ra trong cuộc sống hàng ngày, nó gần đạt được tiêu chuẩn của một bộ bách khoa thư(3). Làm được những điều này, Nguyễn Văn San cũng đã tự khẳng định được khả năng vượt trội về khoa học tự nhiên của mình so với các nhà nho đương đại.

1.2. Cách giải thích nghĩa trong các mục từ ghi về cây cỏ, loài trùng

Các loài cây cỏ, các loài trùng(4) được tác giả ĐNQN đề cập đến trong các môn: Thúc túc môn, Tằm tang môn, Bách quả môn, Sơ thái môn, Bách thảo môn, Bách mộc môn, Vũ trùng môn, Mao trùng môn, Bách hoa môn, Lân trùng môn, Giáp trùng môn và Trùng trãi môn.

Ứng với nội dung nêu trên chúng ta tìm thấy các mục từ được ghi trong Hòa cốc bộ, Tàm thất bộ, Vũ trùng bộ, Mao trùng bộ, Lân trùng bộ, Giáp trùng bộ, Mộc bộ, Hoa bộ và Quả bộ của Chỉ Nam ngọc âm; cũng ứng với Thảo mộc loại, Cầm thú loại và Trùng ngư loại của Tự Đức thánh chế (từ quyển 10 đến quyển 13).

a. Khảo cứu các mục từ ghi về con lợn trong Mao trùng môn của hai bộ Chỉ Nam ngọc âmĐNQN, có thể thấy:

- Ở Chỉ Nam ngọc âm các mục từ ghi về con lợn chỉ được ghi gọn trong 3 câu thơ lục bát (5 dòng thơ), giới thiệu tên gọi của 5 giống lợn:

Hoàng miêu mèo vàng tốt thay,

Đặc thỉ lợn đực hoạn rày dái năng.

Trường thỉ anh hào tướng quân,

Tẫn trư lợn nái nhọc nhằn nuôi con.

Ba trư lợn con có đàn,

Tịnh trư lợn hoạn béo tròn tựa trâu.

- Với ĐNQN, các mục từ có nội dung liên quan đến con lợn được ghi trong các trang từ 75a,4 đến 75b,6 gồm tổng cộng 29 mục từ. Trong số 29 mục từ này, ngoài các mục từ giới thiệu các tên gọi khác nhau của con lợn, còn có các mục từ ghi tên các giống lợn, các bộ phận trong cơ thể lợn cùng tác dụng chữa bệnh của chúng. Ví dụ: các mục từ trư nhục, trư não, trư ủyỷtrư huyết đã được tác giả ĐNQN giới thiệu khá tỉ mỉ về công dụng chữa bệnh của chúng như sau:

Trư nhục giải nhiệt, khử thũng, đa thực sinh đàm.

Trư não hữu độc niêm thư thống tức tán.

Trư tủy bổ hư, trị phác tổn sang lạn.

Trư huyết trừ trúng phong, vựng huyễn.

b. Tiếp tục tiến hành đối chiếu hai bộ Tự Đức thánh chếĐNQN qua việc khảo cứu các mục từ ghi về con cá, cho thấy: Tự Đức thánh chế đã bao quát được hầu hết các giống cá xuất hiện trên các sông ngòi và vùng biển Việt Nam. Điều đáng tiếc là Tự Đức thánh chế mới chỉ dừng ở việc giới thiệu tên gọi của các giống cá, không cho biết thêm một thông tin nào khác.Ví dụ:

Thất cá thất, đề cá đề

Tích giếc, thu gáy, ban mè, di liêu

Trác cá trác, điêu cá điêu

Khoá là cá khóa cũng kêu cá tràu… (Tự Đức thánh chế)

Không giống như Tự Đức thánh chế, bên cạnh các mục từ ghi tên gọi của một số giống cá, trong ĐNQN còn có các mục từ ghi khá tỉ mỉ về hình dạng, tên gọi và tác dụng y học của các giống cá:

- Giới thiệu đặc điểm hình dạng và tác dụng y học của các giống cá, xem ví dụ sau:

Tông ngư cá rồng. Khẩu tại hàm hạ, tế lân, phúc bạch, đại nhị tam thập cân. Bổ ngũ tạng, ích cân cốt, hoà tì vị (nghĩa “cá rồng. Miệng ở dưới hàm, vảy nhỏ, bụng trắng, lớn khoảng 2, 30 cân. Có tác dụng bổ cho ngũ tạng, tốt cho gân cốt, có tác dụng hoà tì vị”).

- Giới thiệu tên gọi, môi trường sống, đặc điểm hình dạng, cách chế biến và tác dụng y học của các giống cá chạch, các lác, cá nhám (cá cám), ĐNQN ghi:

Thu ngư cái chạch. Sinh nê trung, trường tam tứ thốn. Đồng mễ phấn chử canh thực, diệc bất khả hợp khuyển huyết thực (nghĩa: “cá chạch. Sinh ở trong bùn, dài ba bốn tấc. Dùng bột gạo đun thành canh ăn, cũng không thể ăn cùng với tiết canh chó”).

Hải man ly cá lác, sinh hải trung, tự man ly nhi đại, trị sang giới, cam trĩ (dịch nghĩa: “cá lác. Sống ở biển, giống con man ly nhưng to hơn, có tác dụng chữa bệnh ghẻ lở, mụn nhọt, bệnh cam, trĩ”).

Giao ngư cá nhám. Cổ viết giao, kim viết sa, bì hữu sa. Tác quái bổ ngũ tạng, tác trả thậm mĩ (dịch: “cá cám. Xưa gọi là giao, nay gọi là sa, da có cát. Làm nem ăn rất bổ cho ngũ tạng, làm cá hộp ăn rất ngon”).

2. Dược tính của các loại cây cỏ, côn trùng được ghi trong ĐNQN

Trong ĐNQN có 10 môn (/bộ) có các mục từ ghi tên gọi các loài cây cỏ, các loài trùng(5). Trong số đó, 4/10 môn bộ (gồm: Thúc túc, Sơ thái môn, Trùng trãi và Lân trùng) có các mục từ ghi khá tỉ mỉ về các loại cây lương thực, các giống rau và các loài côn trùng cùng khả năng chữa bệnh của chúng.

2.1. Việt Nam là nước có lịch sử trồng lúa nước lâu đời, cây lúa, gốc mạ rất thân quen với người nông dân. Thế nhưng tác dụng chữa bệnh của chúng thì không phải ai cũng biết. Mục từ đề bại trong ĐNQN đã giới thiệu đặc tính của gốc mạ, đó là có thể cầm máu và sát trùng vết thương rất hiệu nghiệm:

Đề bại miêu căn, trị kim thương hựu tổn thương. Huyết xuất bất dĩ, đảo phu thậm hiệu, hựu sát trùng, chử dĩ ốc địa sâu thẩn giai tử. (Dịch: “gốc mạ, trị các vết thương do dao, kiếm. Khi bị chảy máu nhiều sát vào thì rất hiệu nghiệm, lại có thể sát trùng vết thương, lấy đất tốt (đất màu mỡ) nung lên thì sâu bọ đều bị chết”).

- Các loại ngũ cốc, đặc biệt là các giống đậu có giá trị dinh dưỡng cao, được gọi là lương thực của dạ dày và thận: đậu đen hay đậu trắng đều rất tốt cho những người mắc bệnh thận:

Bạch đậu nhất danh phạn đậu, sắc bạch diệc hữu thổ hoàng sắc. Điều trung, bổ tạng, noãn tràng. Vị thận chi cốc dã. Thận bệnh nghi thực bổ hư lao. (dịch “Còn có tên phạn đậu, màu trắng, cũng có loại pha màu vàng đất. Ăn vào có tác dụng bổ tạng, làm ấm bụng (ruột). Là loại cốc (lương thực) của dạ dày và thận. (người) mắc bệnh thận nên ăn để bồi bổ sức khoẻ”) (ĐNQN).

- ĐNQN ghi rõ khả năng đặc trị các bệnh về thận của đậu đen :

Hắc đậu đậu đen. Đậu giả mạch, cốc chi tổng danh. Đại giả vị chi thúc; tiểu giả vị chi đáp, diệp vị chi hoắc. Diêm chử hắc đậu năng bổ thận. Cái đậu nãi thận chi cốc. Hắc thông thận dẫn chi dĩ diêm thậm diệu. (dịch “đậu đen. Đậu là tên gọi chung của mạch, ngũ cốc. Loại lớn thì gọi là thúc, loại nhỏ thì gọi là đáp, lá đậu gọi là hoắc. Lấy muối nấu với đậu đen thì có tác dụng bổ thận. (Vậy nên) đậu được gọi là loài cốc của thận. Loại đậu đen có tác dụng thông thận, cho thêm muối vào thì càng hiệu nghiệm”).

2.2. Trong số các loài trùng, lần khảo cứu này, chúng tôi tập trung tìm hiểu dược tính của các loài côn trùng (được ghi trong Trùng trãi môn của ĐNQN):

a. Lâu nay, con tằm được biết đến là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, mọi người thường truyền nhau rằng ăn tằm rất bổ, nhưng bổ như thế nào thì không phải ai cũng rõ được. Đến như con tằm đã chết cũng có dược tính rất cao. ĐNQN ghi rằng, sao khô con tằm chết có thể dùng để chữa một số bệnh nan y như: bệnh cấm khẩu, bệnh mụn nhọt, sa đì… sách cũng ghi rõ cách thức chế biến phương thuốc đó:

Bạch cương tàm con tằm chết. Trị khẩu cấm, phong hầu kết đồi, huyết băng, chư sang. Thủ nhu mễ tỉnh tẩm nhất nhật, tẩy ngoại bì, khử khẩu túc, sao dụng. (nghĩa : “con tằm chết. Có tác dụng chữa bệnh cấm khẩu, phong hầu (bệnh họng kết thành hạch), bệnh sa đì, băng huyết, chữa khỏi các mụn nhọt. Ngâm trong gạo nếp 1 ngày, rửa sạch vỏ ngoài, bỏ miệng và chân đi, sao khô dùng”).

- Phân con tằm còn có thể chữa được một số như: bệnh tê buốt, bệnh sởi, chữa các chứng nghiện hay các khối u trong bụng. Cách sử dụng cũng thật đơn giản:

Tàm sa phân tằm. Phong thấp, ti ma cập ẩn chẩn, kết chưng lậu huyết. Dụng đại tàm can phấn thủy đào sái can dụng. (nghĩa “phân tằm. Chữa các bệnh phong thấp, bệnh tê buốt, các chứng nghiện, bệnh sởi, các khối u trong bụng, bệnh lậu huyết (chảy máu). Lấy phân khô con tằm to nhào với nước, phơi khô dùng”).

b. Mật o­ng (cái con o­ng) có tác dụng rất tốt để cải thiện nước da, làm cho da sáng, đẹp. Còn có thể dùng mật o­ng để chống nhiễm độc thức ăn, cách thức chế biến khá đơn giản:

Phong mật tử cái con o­ng, tại mật tì trung tử vị thành như tàm dũng nhi sắc bạch. Tự cổ cúng thực hữu độc dĩ đông qua, sinh khương, tử tô chế chi. Cửu phục quang trạch, mĩ nhan sắc. (nghĩa: “cái con o­ng. Sống ở trong tì, mật, chưa thành con, giống như tằm nhộng nhưng có màu trắng. Tự xưa, các đồ ăn, đồ cúng bị nhiễm độc thì dùng bí đao, gừng tươi và tía tô chế thành. Ăn nhiều thì làm cho nước da sáng, đẹp”).

- Đặc biệt, tổ con o­ng cũng có tác dụng chữa các bệnh như: bệnh động kinh, bệnh trĩ và bệnh lị rất hiệu nghiệm:

Phong phòng tổ o­ng, trị kinh giản, trĩ lị, âm nuy, thư thũng. (nghĩa: “tổ o­ng. Chữa các bệnh động kinh, bệnh trĩ, lị, liệt, chữa các nốt sưng đỏ”).

3. Kết luận

Bước đầu khảo cứu có thể nhận định rằng ĐNQN mang tính chất của một bộ bách khoa thư thu nhỏ. Sách không chỉ ghi lại các từ ngữ thuộc lĩnh vực khoa học xã hội (các từ chỉ quan hệ thân tộc, các câu thành ngữ tục ngữ, các từ chỉ mối quan hệ con người với con người, các từ chỉ quan hệ hôn nhân…) mà còn cung cấp khá nhiều mục từ (có liên quan đến lĩnh vực khoa học tự nhiên, như: thiên văn, địa lí, y học...) với lời giải thích tỉ mỉ, chính xác. Thông qua các môn như Bách thảo môn, Bách mộc môn, Bách hoa môn, Vũ trùng môn, Mao trùng môn, Lân trùng môn, Giáp trùng môn…độc giả biết được rất nhiều bài thuốc chữa bệnh khá đơn giản mà lại có hiệu quả (được chế biến từ các loài cây cỏ, các loài côn trùng…).

Với các giá trị nêu trên, ĐNQN xứng đáng nhận được sự quan tâm nghiên cứu nhiều hơn nữa từ các nhà nghiên cứu. Có thể khẳng định rằng khảo cứu tỉ mỉ ĐNQN là việc làm thiết thực đóng góp hữu ích cho việc nghiên cứu nền văn hoá truyền thống Việt Nam.

 

Phụ lục

CÁC LOÀI CÂY CỎ, CÔN TRÙNG VÀ DƯỢC TÍNH CỦA NÓ

TT

Mục từ

Công dụng

Trang trong văn bản

1

Phù mạch(gạo mạch)(6)

Trừ nhiệt, ích khí.

28a

2

Đề bại (giống lúa có vị đắng)

vết thương do dao, kiếm; sát trùng vết thương; cầm máu.

28b

3

Bạch đậu

Bổ tạng, làm ấm bụng; tốt cho dạ dày và thận; mắc bệnh thận nên ăn để bồi bổ sức khoẻ.

28b

4

Hắc đậu đậu đen(7)

Muối nấu với đậu đen thì có tác dụng bổ thận.

28b

5

Diệp

Tiêu nóng, hạn chế tiểu tiện, làm cho mắt sáng.

29a

6

Đậu phấn

Tỳ vị hư không thể ăn nhiều.

29a

7

Diệp

Trị bệnh thổ tả; vắt nước hoà với dấm thì bệnh thuyên giảm.

29a

8

Ý dĩ

Dưỡng tim phổi; (có tác dụng) kiện tỳ, ích vị, bổ phổi, giải nhiệt, tránh phong, chữa thấp khớp, tiêu giảm phù thũng, chữa bệnh gân co rút, bệnh can thấp; chữa bệnh cước khí; uống lâu dài sẽ trừ được tà.

29b

9

Căn (rễ cây ý dĩ)

Trị bệnh bị rắn và côn trùng (cắn); nước của nó có thể làm sảy thai.

29b

10

Điển cố (hạt ý dĩ làm thành viên tễ)

Chữa bệnh sán, bệnh phổi thổ ra huyết, bẹnh giun đũa, đau tim, đau răng, phong thống, bệnh ho do lạnh

29b

11

Thái (rau)

Dùng điều phế, chữa các bệnh về phủ tạng và khí huyết hư tổn

65b

12

Hiện thái (rau dền)

Có nhiều loại: loại Bạch hiện có tác dụng bổ khí huyết; loại Trư hiện có thể chữa lị.

66a

13

Thủ cung cái mối

Trị trúng phong, lịch tiết thống, tiểu nhi cam lị cập kinh giản.

77a

14

Tàm dũng nhộng

Sao khô ăn thì chữa được bệnh phong, lao, gày ốm, giảm nóng, chữa bị rắn độc cắn và các bệnh trẻ con cam sài, gày yếu.

81b

15

Sào ti thang nước ươm tơ

Trị nhiệt, giải khát.

81b

16

Bạch cương tàm con tằm chết

Chữa bệnh cấm khẩu, phong hầu, bệnh sa đì, băng huyết, chữa khỏi các mụn nhọt.

81b

17

Tàm sa phân tằm

Chữa các bệnh phong thấp, tê buốt, các chứng nghiện, bệnh sởi, các khối u trong bụng, bệnh lậu huyết (chảy máu).

81b

18

Tàm kiển xác kén

Chữa bệnh băng huyết, cam sài, mụn nhọt.

81b

19

Thiền duyệt xác ve

Chữa các bệnh mụn nhọt, đau mắt, hoa mắt, chứng nóng.

81b

20

Phong mật mật o­ng

Trừ phong, lị, giảm đau, tiêu khử trùng.

81b

21

Phong lạp sáp o­ng

Làm tiêu mủ, ích cho tâm khí, xương cốt, chữa bệnh lị và có tác dụng an thai.

82a

22

Phong phòng tổ o­ng

Chữa các bệnh động kinh, trĩ, lị, liệt, các nốt sưng đỏ.

82a

23

Phong mật tử

Khử độc đồ ăn đồ cúng, có tác dụng đẹp da.

82a

24

Đại hoàng phong tử

Khinh thân, ích khí.

82a

25

Thanh phù cái cà cuống

Bổ trung ích khí, làm cho người ấm và vui vẻ, tinh thần bền vững, chữa bệnh bí tiểu tiện.

82a

26

Bích tiền bao trứng nhện

Chữa chảy máu cam, buồn, bệnh đản, bệnh tê.

82b

27

Tử quáng cánh kiến

Giảm đau, ích tinh, trừ mụn nhọt.

82b

28

Thiên mã bọ ngựa

Bệnh trẻ con kinh hãi.

82b

29

Tang phiêu sao tổ bọ ngựa

Trị bệnh sa đì, âm nuy, đau lưng, bệnh về đường tiết niệu.

82b

30

Ban miêu cái sâu đậu

Phá khối, thông lâm, trị cuồng khuyển, trị sang, hạ thai.

82b

31

Thuỷ điệt cái đỉa

Trị tích huyết. (tụ máu)

83a

32

Tào tề cái tằm đất

Phá huyết, thông kinh, chiết thương.

83a

33

Y ngư rệp sách

Chữa bệnh trẻ con bị phong, bệnh bướu cổ, động kinh.

83a

34

Ngô công cái rết

Trúng phong, ứ huyết, chư sang.

83a

35

Khâu dẫn cái giun

Trị thương hàn, bạo nhiệt, trùng cổ, kinh giản, phong cuồng.

83a

36

Thổ phong sào

Chữa bệnh phong, tiêu trừ ung nhọt, chữa bệnh thổ tả

84b

37

Lang chuyển ngõa

Chữa bệnh ung nhọt, thương hàn, hoàng thư, hoắc loạn và bệnh u phiền

84b

38

Nghị phong thổ đất kiến đùn

Chữa bệnh thai chết lưu, tiêu ung thũng.

84b

39

Bạch nghị nê đất tổ mối

Chữa trị các nốt ung nhọt, có thể làm tan các nốt nhọt bọc mủ.

84b

40

Khâu dẫn nê đất giun đùn

Chữa các nốt mụn nhọt, bệnh lị, có tác dụng cầm máu, hòa với nước có thể trị bệnh bị chó cắn.

84b

41

Đang hắc nhọ nồi

Chữa bệnh họng, giải độc, cầm máu, bệnh hoắc loạn, các vết nhọt tụ máu.

84b

42

Ô long vĩ mạng nhện

Có tác dụng cầm máu, an thai, chữa chứng đau bụng.

85a

 

Chú thích:

(1) Tác giả Trần Xuân Ngọc Lan cho rằng “Chỉ Nam ngọc âm chỉ có thể ra đời trong khoảng thời gian từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVII”. Xem Trần Xuân Ngọc Lan, Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa, Nxb. KHXH, H. 1985, tr.60.

(2) Nguyễn Văn San (1808 - 1883) tự là Hải Châu, hiệu Văn Sơn phủ quân, biệt hiệu Văn Đa cư sĩ, là Tú tài sáu khoa triều Nguyễn, Hội trưởng Hội Tư văn Thọ Quan. Ông sinh ngày mồng 9 tháng 6 nhuận năm Mậu Thìn (tức ngày 31/7/1808) trong một gia đình có nề nếp thi thư tại làng Đa Ngưu, tổng Đa Ngưu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh (nay là thôn Đa Ngưu, xã Tân Tiến, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên).

(3) Về điểm này, ĐNQN có nhiều điểm tương đồng với các bộ từ điển song ngữ Hán Nhật. Phải chăng tác giả ĐNQN đã có sự tham chiếu hệ thống từ điển song ngữ Setsuyoshu của Nhật Bản.

(4) Trùng: Đại Nam quốc ngữ phân biệt có: vũ trùng (chim, gà…), mao trùng (hổ, báo, voi, trâu…), lân trùng (rồng, rắn…), giáp trùng (rùa, cua cáy, hến…) và trùng trãi (còn gọi côn trùng, như tằm, o­ng, kiến…).

(5) Chúng tôi phân biệt 2 khái niệm: loài trùng nói chung (chỉ các giống được tác giả ĐNQN xếp vào loại có dùng chữ trùng ở sau) và côn trùng. Chi tiết xem chú thích 2 trang 3 của bài này.

(6) Chữ trong ngoặc: lời giải thích thêm của tác giả bài viết, văn bản không có.

(7) Chữ in nghiêng: là phần mục từ (ghi bằng chữ Hán), được in khổ chữ to trong văn bản; chữ in thng: phần giải thích (ghi bằng chữ Nôm), được in với co chữ nhỏ hơn trong văn bản.

 

Tài liệu tham khảo chính

A. Sách tiếng Việt

1. Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa, Trần Xuân Ngọc Lan phiên âm chú giải, Nxb. KHXH, H.1985.

2. Thơ văn Tự Đức, Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca, Phan Đăng phiên âm, Nxb. Thuận Hóa, Huế.1996.

3. Đại Nam quốc ngữ - phiên dịch, giải thích, sách dẫn, Lã Minh Hằng chủ biên, Tokio Gakugei daigaku Kojisho kenkyuukai, Japan, 2007.

4. Danh nhân Hưng Yên, phần giới thiệu về tác gia Nguyễn Văn San, Sở Văn hóa - thông tin, Hội Văn học nghệ thuật Hưng Yên, 1997.

B. Sách Hán Nôm

5. Đại Nam quốc ngữ, kí hiệu AB.106, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

6. Trùng san chỉ Nam bị loại các bộ dã đàm đại toàn, kí hiệu AB.372, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

7. Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca, kí hiệu VHv.626/1-4, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

8. Nam phương danh vật bị khảo, kí hiệu AB.106, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

9. Thực vật bản thảo khúc, kí hiệu VNv.105, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

10. Nhật dụng thường đàm, kí hiệu VHc.1921, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

(Thông báo Hán Nôm học 2009, tr.391-405)

Lã Minh Hằng
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm