VI | EN
32. Giá trị của Thiên Nam hành ký (Từ Minh Thiện) trong nghiên cứu bang giao giữa triều Trần (1226 - 1400) và triều Nguyên (1260 - 1368) (TBHNH 2012)
32. Giá trị của Thiên Nam hành ký (Từ Minh Thiện) trong nghiên cứu bang giao giữa triều Trần (1226 - 1400) và triều Nguyên (1260 - 1368) (TBHNH 2012)

GIÁ TRỊ CỦA THIÊN NAM HÀNH KÝ (TỪ MINH THIỆN) TRONG NGHIÊN CỨU BANG GIAO GIỮA TRIỀU TRẦN (1226 - 1400) VÀ TRIỀU NGUYÊN (1260 - 1368)

NGUYỄN THU HIỀN

Đại học Sư phạm Hà Nội

lịch sử đã chứng kiến sự biến động đầy kịch tính trong hoạt động bang giao giữa triều Trần và triều Nguyên. Để tái hiện lại chân thực bang giao của hai vương triều phong kiến này cần khảo cứu nhiều nguồn tư liệu khác nhau. Một trong những nguồn tư liệu quan trọng đó chính là ghi chép của các sứ thần từng qua lại giữa hai nước. Thiên Nam hành ký do Từ Minh Thiện - sứ thần triều Nguyên biên soạn vào khoảng cuối thế kỷ XIII có nhiều ý nghĩa đối với việc nghiên cứu bang giao giữa triều Trần và triều Nguyên giai đoạn 1288 - 1289.

Từ Minh Thiện đã từng đến kinh đô Thăng Long vào năm 1289. Thiên Nam hành ký không ghi lại những tâm tư của sứ thần Từ Minh Thiện trong chuyến đi sang Đại Việt(1) như sứ thần Trần Phu với An Nam(2) tức sự sau này. Điểm đặc biệt của Thiên Nam hành ký chính là những ghi chép(3) về văn thư trao đổi giữa vua Trần Nhân Tông và vua Nguyên Thế Tổ trong các năm 1288, 1289 và 1290 mà không có lời bình thể hiện ý kiến cá nhân của tác giả.

Giá trị đầu tiên của Thiên Nam hành ký trong nghiên cứu bang giao giữa triều Trần và triều Nguyên là cung cấp thông tin về thời gian sứ bộ từ triều Nguyên sang triều Trần và nghi thức tiếp đón của Đại Việt đối với sứ thần triều Nguyên. Tại tờ 4a, Từ Minh Thiện chép rằng hành trình đi sứ của đoàn sứ bộ triều Nguyên là từ ngày 26 tháng 11 năm Chí Nguyên thứ 25 (1288) đến Đại Việt vào ngày 28 tháng 2 năm Chí Nguyên thứ 26 (1289). Như vậy, tổng số thời gian của đoàn sứ bộ là hơn 90 ngày. Bên cạnh đó trong Thiên Nam hành ký, tác giả đã mô tả chi tiết tuần tự các công việc Đại Việt tiến hành đón tiếp sứ thần triều Nguyên. Đầu tiên là Thái sư dâng hương nghênh đón sứ thần lên ngựa đến quán dịch. Tại quán dịch, vua Trần Nhân Tông đích thân mở cửa giữa, vái chào rồi mời sứ thần bước vào. Sang ngày kế tiếp, vua Trần tổ chức nghi lễ tiếp nhận chiếu thư của vua Nguyên tại điện Tập Hiền với cờ quạt, tán vàng cùng trống kèn. Vua Trần Nhân Tông dâng hương, vái hai vái trước khi sứ thần triều Nguyên kính cẩn đọc chiếu thư của vua Nguyên. Nghi lễ tiếp nhận chiếu thư được thực hiện xong, nhà vua tổ chức yến tiệc mời sứ giả trong hai ngày. Nghi thức đón tiếp sứ thần triều Nguyên cho thấy thái độ trọng thị của Đại Việt. Đại Việt dù vừa giành thắng lợi trước quân Nguyên nhưng vẫn không hề khinh suất khi đón tiếp sứ thần. Điều này càng chứng tỏ thành ý của vua Trần Nhân Tông trong việc xây dựng và củng cố quan hệ bang giao hòa hảo với triều Nguyên. Thực tế lịch sử, từ sau năm 1288 đến năm 1368, bang giao giữa hai nước diễn ra trong thời gian hoàn toàn hòa bình.

Giá trị thứ hai của Thiên Nam hành ký là bổ sung thêm nguồn tư liệu lý giải về nguyên nhân xung đột giữa hai nước vào năm 1288. Mỗi bên đều đưa ra những lập luận và quan điểm riêng của mình về sự kiện trên. Về phía vua Trần Nhân Tông cho rằng việc Đại Việt tổ chức kháng chiến chống lại đại binh triều Nguyên cũng chỉ là hành động bất đắc dĩ do bị dồn vào đường cùng. Còn vua Nguyên Thế Tổ lại đưa ra 3 lý do khởi binh đánh Đại Việt. Thứ nhất là do vua Trần không thân vào chầu vua Nguyên- điều bắt buộc các nước chư hầu phải thực hiện đối với thiên triều. Thứ hai là Đại Việt đã không tiếp ứng người và lương thực, không cho quân Nguyên mượn đường tấn công Chiêm Thành. Thứ ba là Đại Việt tùy ý giết người vua Nguyên cử tạm giữ việc nước của Đại Việt là Trần Di Ái. Xem xét các lý lẽ mà vua Nguyên đưa ra rõ ràng đó chỉ là lời biện hộ mà thôi. Điều đó không thể che lấp được mục đích mở rộng, bành trướng lãnh thổ của triều Nguyên.

Giá trị thứ ba của Thiên Nam hành ký khi nghiên cứu hoạt động triều cống trong bang giao giữa triều Trần và triều Nguyên là ở số lượng cụ thể cùng chủng loại đa dạng của các hiện vật Đại Việt dâng lên triều Nguyên vào năm 1289. Từ Minh Thiện đã dành nhiều trang để ghi chép về các lễ vật triều cống từ cuối tờ 8a đến tờ 10a. Đây là nguồn tài liệu duy nhất phản ánh nhiều nhất về các lễ vật triều cống của Đại Việt trong quan hệ với triều Nguyên. Trong tờ 8a tác giả chép có 15 loại hiện vật (nhóm lễ vật thứ nhất), từ cuối tờ 8a đến tờ 10a tác giả chép 47 loại hiện vật (nhóm lễ vật thứ hai). Lễ vật triều cống được xếp theo thứ tự giảm dần về giá trị. Nhóm lễ vật thứ nhất: hiện vật xếp đầu tiên là một đôi hoãn đeo tai dây bằng vàng kết hạt trân châu, hiện vật xếp cuối cùng là 50 cánh chim thúy. Nhóm lễ vật thứ hai: hiện vật xếp đầu tiên là một hộp đựng biểu bằng gỗ sơn son thiếp vàng viền bạc và chìa khóa, lễ vật xếp cuối cùng là 01 đôi chim vẹt. Xét các hiện vật bằng vàng bạc và đá quý của nhóm lễ vật thứ nhất có 9/15 hiện vật(4), nhóm hiện vật thứ hai có 22/47 hiện vật(5). Những phân tích trên là bằng chứng thuyết phục củng cố luận điểm cho rằng triều cống là một gánh nặng kinh tế đối với Đại Việt trong bang giao với triều Nguyên.

Như vậy, dù Thiên Nam hành ký là tập ghi chép của sứ thần triều Nguyên nhưng đã thể hiện tính khách quan của tác giả. Cùng với nhiều nguồn tư liệu khác, Thiên Nam hành ký thực sự là một nguồn tài liệu tin cậy, bổ sung cứ liệu cụ thể khi nghiên cứu về bang giao triều Trần - triều Nguyên. Hạn chế duy nhất của Thiên Nam hành ký là ở giới hạn về thời gian biên chép nội dung bang giao giữa hai nước chỉ trong hai năm 1288 và 1289.  


Chú thích
:

(1). Quốc hiệu của Việt Nam dưới triều Trần.

(2). Tên gọi thường dùng của triều Nguyên cũng như nhiều triều đại phong kiến Trung Quốc khác khi đề cập đến Đại Việt.

(3). Tư liệu tác giả tham khảo đã sao lưu ghi chép của Từ Minh Thiện thành 10 trang (tờ). Mỗi trang lại được chia tách thành hai đoạn bên trái và bên phải. Để tiện theo dõi, người viết sử dụng ký hiệu tờ a cho ghi chép ở bên phải và tờ b cho ghi chép ở bên trái. Ví dụ tờ 1a là ghi chép của Từ Minh Thiện tại trang 1 phía bên phải.

(4). Gồm có: 1. Một đôi hoãn đeo tai dây bằng vàng kết hạt trân châu, 2. Một chiếc áo chầu màu đỏ có cẩn ngọc trai và vàng, 3. Một hộp bằng bạc để đựng vật dụng, 4. 16 hạt châu màu (4 hạt màu nâu, 4 hạt màu tía, 4 hạt màu biếc, 4 hạt màu thạch lựu), 5. 276 hạt trân châu (2 hạt to, 4 hạt vừa, 70 hạt nhỏ, 200 hạt dáng như đá minh hoành), 6. Một đôi khuyên trân châu trang trí bằng vàng (nặng 1 lạng vàng, 10 hạt châu), 7. Một bộ chén mời rượu bằng vàng (vàng nặng 4 lạng 5 tiền), 8. Một đĩa vàng đựng chén hoa tê (vàng nặng 3 lạng), 9. Một chén có nắp đậy bằng vàng (vàng nặng 9 lạng 6 tiền).

(5). Gồm có: 1. Một hộp đựng biểu bằng gỗ sơn son thiếp vàng viền bạc và chìa khóa, 2. Một bộ yên nạm vàng gồm cả bành (vàng nạm nặng 10 lạng), 3. 5 quả cầu bằng da con tê ngưu có nạm vàng bạc (tổng cộng nặng 14 lạng 5 đồng cân), 4. 7 chiếc vòng đồng mạ vàng, 5. Một chiếc mâm đá hoa, dát vàng mạ bạc để nhà vua dùng, 6. Một đôi bình lưu ly cùng nắp đậy bằng vàng (tổng cộng vàng nặng 1 lạng 6 đồng cân), 7. Một đôi đế cắm nến bằng vàng nặng 14 lạng, 8. Một chiếc khay bằng ngà con tê dát vàng mạ bạc, 9. Một chén bằng trầm hương bít vàng đế có nắp, 10. Một đĩa hình hoa sen bằng vàng (6 lạng 6 đồng cân) có đế bằng vàng (3 lạng 7 đồng cân), 11. Một đĩa hình lá sen bằng vàng (5 lạng), 12. Một đĩa hình quả dưa bằng vàng (6 lạng 8 đồng cân), 13. Một cái bầu bằng vàng (7 lạng), 14. Một chiếc đĩa bằng sừng tê bít vàng (4 lạng), 15. Đũa vàng (1 lạng 3 đồng cân), 16. Một đôi xiên thịt bằng vàng (7 tiền), 17. Một bộ bàn cờ bằng xương voi nước, ô trên bàn cờ bằng chỉ vàng (kim tuyến 1 lạng), 18. Một chiếc hộp bằng bạc cẩn vàng có khóa (25 lạng), 19. 3 chiếc sừng hoa tê, 3 chiếc đế bịt vàng cẩn bạc (đế nặng 10 lạng 8 đồng cân), 20. 5 bộ thanh la bằng vàng (tổng cộng nặng 100 lạng), 21. 10 bộ thanh la bằng bạc (tổng cộng nặng 300 lạng), 22. 3 chiếc bình bằng bạc đựng dầu tô hợp hương (đều nặng 163 lạng, bình nặng 79 lạng).

(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.273-277)

Nguyễn Thu Hiền
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm