VI | EN
33. Bước đầu tìm hiểu Bác Hồ với học thuyết của Nho gia (TBHNH 1996)
(TBHNH1996)

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU BÁC HỒ VỚI HỌC THUYẾT CỦA NHO GIA

Lê Văn Quán

Đại học KHXH&NV Quốc gia

Trong một số cuộc thảo luận khoa học, có ý kiến cho rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyên chở chủ nghĩa Mac-Lênin vào Việt Nam bằng cỗ xe Nho giáo. Cũng có ý kiến ngược lại: Hồ Chủ tịch lên án Nho giáo một cách gay gắt(1). Chính vì những lẽ đó, trong bài này chúng tôi bước đầu chứng minh học thuyết Nho giáo ảnh hưởng đến Bác Hồ như thế nào?

Nho giáo có ảnh hưởng rất mạnh đến các nước Phương Đông, nhất là các nước Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên... Ở Việt Nam, thời phong kiến, Nho giáo được xem như là kim chỉ nam cho việc tổ chức quốc gia, quản lý đất nước, cũng như mọi quan hệ xã hội. Học thuyết Nho gia có một thời gian dài chi phối hệ tư tưởng phong kiến Việt Nam và chiếm địa vị thống trị, trở thành tư tưởng chính thống ở tất cả các mặt, đặc biệt là tư tưởng chính trị, kinh tế, đạo đức. Nho giáo có điểm hay, nhưng có nhiều đều không đúng mà ở xã hội ta hiện nay không thể chấp nhận được. Nói như vậy, không có nghĩa chúng ta gạt bỏ hết thảy học thuyết của Nho gia. Bác Hồ đã nói: “Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng, song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học...

... Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những điều hiểu biết quý báu cảu các đời trước để lại”. Lê-nin dạy chúng ta như vậy”(2).

Xuất phát từ quan điểm ấy, Bác Hồ đã chọn lọc những điều hay của học thuyết Nho gia, vận dụng vào những vấn đề có liên quan đến xã hội.

1. Nói về vấn đề giáo dục, Bác nhắc nhủ thanh niên Việt Nam là phải học. Bác nói: “Nếu có đức mà không có tài ví như ông bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người” (Sđd, t.8, tr.126). Trong lẽ sống của con người, “học không biết chán dạy không biết mỏi” cũng như “hiếu học” là lẽ sống quí báu để nên người. Bác xác định cho người học cái mục đích “học là để làm người”, “học là để phục vụ nhân dân”. Nhưng người cán bộ muốn phục vụ nhân dân thì phải “cần kiệm liêm chính chí cong, vô tư”. Học phải đi đôi với hành, quý trọng lao động chân tay. Bác nói: “Trước kia thì đào tạo thành các cậu tú, cô tú xem khinh lao động. Bây giờ thì phải yêu lao động, thực sự lao động... Trước kia có câu: “Vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao”. Câu ấy có nghĩa: tất cả mọi ngành đều ở dưới, duy có việc học là cao... Đó là thời phong kiến, học tốt để làm quan. Ngày nay phải vừa học vừa lao động” (Sđd, t.8, tr.469).

Đây là điểm yếu của nhà Nho. Nhà Nho trước kia rất coi thường lao động. Nhà Nho không thấy được lao động sáng tạo cuộc sống loài người và cải tạo thế giới chung quanh mình. Trí thức sâu rộng, chí khí kiên cường, tình cảm trong sáng, đầu tiên đều bắt nguồn từ lao động. Bước ban đầu của lao động là lao động chân tay. Nhưng Khổng Mạnh rất khinh lao động chân tay. Phàn Trì học trò của Khổng Tử, xin học nghề cày cấy, xin học nghề làm vườn, Khổng Tử mắng Phàn Trì: “Phàn Trì là gã tiểu nhân. Người trên chuộng lễ thì dân không ai dám không tôn kính, người trên chuộng nghĩa thì dân không ai dám không phục tùng, người trên chuộng tín thì dân không ai dám không tỏ lòng thành thực. Làm được như vậy thì dân bốn phương sẽ bồng bế con cái mà đến với mình, cần gì phải học cày cấy? “Luận ngữ, Tử Lộ”.

Điều này càng chứng tỏ, ngày xưa nhà Nho chỉ biết dùi mài kinh sử để chờ khoa thi, thi đỗ làm quan, hưởng bổng lộc, được mọi người kính nể, không cần biết gì đến lao động chân tay, lao động sản xuất. Chính vì thế, Bác Hồ nói: “Nhất tử thu quân ngâu, toàn gia tề thiên lộc”. Nghĩa là một người con mà làm nên, được vua dùng, thì cả nhà được nhờ ăn lộc trời. Vì người đi học thi đỗ thì một người làm quan, cả họ được nhờ”. (Sđd, T.7, tr.679-680).

2. Nói về luân lý đạo đức, Bác Hồ nói:

“Muốn có đạo đức cách mạng phải có 5 điều sau đây:

Trí - tín - nhân- dũng - liêm” (Sđd, t.4, tr.434).

Ở phần “Sửa đổi lối làm việc, khi nói đến tư cách và đạo đức cách mạng, Bác nói:

“Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có 5 điều: Nhân nghĩa, trí, dũng, liêm” (Sđd, T.5, tr.125).

Trước khi qua đời, trong lời Di chúc, Bác viết: “Đảng ta là Đảng cầm quyền. Mỗi Đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”. (Sđd, t.10, tr.834).

Qua đó ta thấy, Bác Hồ không hoàn toàn dập khuôn theo lễ giáo của Nho giáo phong kiến. Vì cơ sở luân lý xã hội của Nho gia là đạo đức. Ý nghĩa luân lý bao hàm quan hệ giữa con người với nhau, do những quy phạm xã hội và chế độ ràng buộc mối quan hệ đó. Tiêu chuẩn đạo đức là tuân theo lễ giáo phong kiến, mọi người làm đúng theo những lời giáo huấn, những kỷ cương, những nghi thức và thực hiện những quan hệ “tam cương ngũ thương” “tam tòng tứ đức...” của đạo Nho. Các nhà Nho mỗi khi nói đến đạo đức của con người thường gắn liền với “lễ” trong ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín). Nguyên lý về lễ, theo Thuyết văn giải tự giải thích, “là bước đi chắc chắn, là điều kính thần cầu phúc”, phản ánh quan hệ người và thần. Nó kết hợp với chính trị thần quyền, phát triển thành sự phân chia trên dưới, giàu nghèo, thân sơ theo chế độ quý tộc đẳng cấp rất chặt chẽ. Vì vậy, ở sách Tả truyện - Trang Công năm thứ mười tám viết, “Danh vị khác nhau thì lễ cũng có khác nhau”.

Ngay ở Chu Dịch cũng rất coi trọng ngôi vị. Dịch truyện, Hệ từ thượng nói: Trời cao đất thấp, kiền khôn đã định; thấp cao bày ra thì định được ngôi sang hèn”.

Dịch truyện nhấn mạnh ngôi vị cũng là để nhầm mạnh “lễ”, cần dựa vào lễ để đạt đến sang hèn có đẳng cấp, giài nghèo có phân biệt.

Như vậy, “lễ” đức là danh phận của đẳng cấp phong kiến. Trong các tầng lớp thống trị “lễ” cũng không thoát khỏi điều đó. “Lễ” trở thành công cụ chính trị mạnh mẽ, là một phương pháp trị nước trị dân đắc lực của thời đại vua quan phong kiến. Chính vì thế, trong Hồ Chí Minh toàn tập (10 tập với tổng số 7053 trang)(3), Bác Hồ không hề nhắc đến chữ “lễ” có trong ngũ thường theo quan niệm của Nho gia phong kiến. Nói đến đạo đức cách mạng, Bác chỉ đề cập đến những điều sau đây:

NHÂN; NGHĨA; TRÍ, TÍN; DŨNG, TRUNG; CẦN KIỆM LIÊM CHÍNH; CHÍ CÔNG VÔ TƯ.

Duy chỉ có một trường hợp, khi nói về tư cách người công an cách mạng, Bác Hồ yêu cầu người công an thực hiện 5 điều, trong đó có một điều Bác nhắc đến từ “lễ phép”:

“Đối với nhân dân phải kính trọng, lễ phép” (Sđd tập 5, tr.75).

Ở đây, chữ “lễ” trong từ “lễ phép” mà Bác Hồ vận dụng mang ý nghĩa ứng xử giữa con người với con người, “Công an phải kính trọng, lễ phép nhân dân”, không phân biệt mình là cán bộ rồi lên mặt hách dịch với nhân dân. Đôi bên phải tôn trọng lẫn nhau.

Trong lễ giáo của Nho gia có những điều không thích hợp với thời đại, Bác đã sửa đổi lại. Chẳng hạn, lễ giáo Nho gia phong kiến thường nói đến con người ta phải “trung với vua, hiếu với cha mẹ”. Nhưng ngày nay chữ trung không thể quan niệm một cách sai lệch chỉ có trung quân; chữ hiếu không chỉ bó hẹp là hiếu với cha mẹ mình. Cho nên khi nói đến đạo đức cách mạng, Bác viết:

Nhận rõ phải trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước, tận hiếu với dân” (Sđd, t.8, tr.239).

Rõ ràng, Bác đã chỉ ra cho mọi người nhận thức đúng về chữ trung và chữ hiếu. Một vài cứ liệu chúng tôi đã dẫn ở trên cũng đã đủ chứng minh rằng Bác Hồ vận dụng học thuyết của Nho gia một cách có chọn lọc. Chính vì vậy, Bác nói: “Chúng ta muốn xây dựng một xã hội mới, một xã hội tự do bình đẳng, một xã hội cần, kiệm, liêm, chính, cho nên chúng ta phải tẩy cho sạch hết những thói xấu của xã hội cũ” (Sđd, t.6, tr.271).

3 - Nói về vấn đề phụ nữ, trong hội nghị thảo luận dự thảo hôn nhân và gia đình, Bác nói:

Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người” (Sđd, t.8, tr.498).

Bác đặc biệt nhấn mạnh: “Phải kính trọng phụ nữ. Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy bình quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền nhau”. (Sđd, tr.471).

Phụ nữ chưa được giải phóng tức là tư tưởng phong kiến còn tồn tại. Sự nghiệp giải phóng dân tọc của Bác Hồ là nhằm giải phóng toàn thể nhân dân Việt Nam thoát khỏi gông cùm của chế độ thực dân phong kiến. Cuộc cách mạng không chỉ chống áp bức và bất công trong xã hội, mà còn chống lại những “nhu cầu dung tục”, những “dục vọng thô lỗ”, xây dựng con người thực sự biết thương yêu nhau, quý trọng phụ nữ. Bác giáo dục nhân dân xóa bỏ lễ giáo hủ bại của Nho gia phong kiến đã ăn sâu vào con người như những bệnh kinh niên, trói buộc kìm hãm người phụ nữ. Hiện nay ở Việt Nam ta, nhất là ở nông thôn, trong cuộc sống hàng ngày lễ giáo hủ lậu của Nho gia chưa hẳn đã xóa hết. Vấn đề trọng nam khinh nữ vẫn đang là vấn đề nhức nhối trong ta. Trong gia đình, nhiều người còn ngược đãi vợ và ép duyên con, hết thẩy mọi việc đều phải nghe theo người chồng, người cha, lối sống gia trưởng vần còn tồn tại trong các gia đình. Tư tưởng trọng nam khinh nữ “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (một con trai là con, mười con gái là không) của Nho gia phong kiến vẫn còn trong ý thức của mọi người. Ở các gia đinh gia tộc nặng đầu óc phong kiến, con trai lấy vợ, sinh đẻ không có con trai thì đổ lỗi cho vợ, rồi sinh ra cảnh vợ cả, vợ hai. Điều này dẫn đến bao gia đình đau khổ, con lìa cha, vợ mất chồng. Đúng như Bác Hồ đã nói: “vì trọng trai khinh gái là một thói quen mấy nghìn năm để lại”, đã “ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội” (Sđd, t.6, tr198).

Bao nhiêu công việc vất vả, khó nhọc trong gia đình đều đổ lên đầu người phụ nữ, con hư cũng đổ tại mẹ. Nhưng thực ra họ có muốn cho phụ nữ học nên người đâu! Trình độ văn hóa thấp, nhiều chị em đọc sách còn phải đánh vấn, làm sao có đủ kiến thức để lý giải, truyền thụ cho con những điều hay lẽ phải của đạo làm người, và những nếp sống văn minh của xã hội. Đó là hậu quả của lối suy nghĩ của các nhà Nho thuở xưa: Khổng Tử đào tạo hơn ba ngàn học trò và trong đó có 72 bậc hiền tài, nhưng không có một phụ nữ bởi chế độ phong kiến xưa kia không cho con gái đi học. Nông thôn ta bây giờ cũng đang lập lại quan niệm đó. Họ chưa tạo điều kiện thuận lời cho con gái ăn học, các cháu gái chưa học hết cấp một đã phải vừa học vừa bế em thì làm sao học giỏi được. Theo quan niệm của họ, con gái không cần học nhiều, ở nhà giúp đỡ cha mẹ công việc đồng ruộng, học ăn học làm để chuẩn bị lấy chồng. Nếu không thấy những điều độc hại ấy chính là tàn dư của lễ giáp Nho gia, thì chúng ta không thoát ra khỏi cảnh nghèo nàn và lạc hậu. Đúng như Bác Hồ đã nói: “Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” (Sđd, t.8, tr498).

4. Nói về cốt cách của con người cách mạng, từ thuở ra đi tìm đường cứu nước đi khắp năm châu, bốn biển, Bác Hồ vẫn nêu cao khí phách tốt đẹp của đạo Nho.

Giàu sang không thể quyến rũ,

Nghèo khó không thể chuyển lay,

Uy lực không thể khuất phục (Sđd, t.6, tr.53).

Cốt cách của người cách mạng, của con người cộng sản không sợ đầu rơ máu chảy, đấu tranh cho độc lập tự do, đem lại quyền lợi cơm no áo ấm cho dân. Khí phách của Bác Hồ đã được rèn luyện qua bao nhiêu năm đèn sách tại gia là để phân biệt điều thiện và điều ác, tìm ra đạo lý chân chính của con người. Bác suốt đời một lòng vì dân vì nước. Với cương vị Chủ tịch nước, Bác nói:

“... Chính phủ từ Hồ Chủ tịch cho đến các vị ủy ban đây, rồi các bộ trưởng, đến các cán bộ thôn, xã, gọi là chính quyền, gọi là chính phủ, đều là đầy tớ của nhân dân, không phải như khi trước nói hoàng đế, bệ hạ rồi có những quan này, quan khác cao cao tại thượng” (Sđd, t.7, tr.647).

Bác xác định mình là “đầy tớ của nhân dân”. Cán bộ không phải là “quan cách mạng”. Đấy là điều Bác Hồ khác bọn quan lại phong kiến, cũng là điều Bác khác với tư tưởng Nho gia. Vì dưới chế độ phong kiến, bọn vua quan đều là xuất thân từ lớp Nho sĩ. Họ đi học thi đỗ cốt là để làm quan, hưởng bổng lộc (trừ một số nhà Nho yêu nước). Khi làm quan, nắm quyền hành trong tay thì họ quan liêu, hách dịch, hà hiếp quần chúng. Bác phê phán và gạt bỏ tất cả những thói hư tật xấu, những danh hoa phú quý, những điều trong học thuyết của Nho gia có tổn hại và cản trở đến lẽ sống và bước tiến lên của xã hội loài người.

Ngày nay, trong thời đại mới, Bác đề ra cho nhân dân ta tiến lên trên con đường chính nghĩa:

“Không có gì quý hơn độc lập tự do”

Đó là một chân lý vĩnh hằng cho mỗi một dân tộc nói chung và mỗi con người Việt Nam nói riêng phải vươn lên bằng chính sức mình, chống mọi lực lượng thù địch để giành cho được những điều kiện sinh sống hợp với nhân cách.

Trong phong cách, phẩm chất và tư tưởng của Bác Hồ có đầy đủ yếu tố văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Chính Bác Hồ đã kết hợp nhuần nhuyễn yếu tố Nho giáo với truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và tạo nên một bản sắc độc đáo của nhà Mác-xít Lênin-nít vĩ đại được nhân dân tiến bộ trên thế giới ngưỡng mộ. Không phải ngẫu nhiên cách đây ngót hai chục năm, tại Pa-ri nhà sử học Giăng xét xnô đã nói: “Cụ Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng xuất thân từ Khổng học, các bài viết cảu cụ đầy những dấu ấn đạo Khổng, chẳng hạn trong việc đề ra đạo đức cách mạng. Điều đó không có nghĩa cụ là một người sùng cổ, mà chỉ chứng tỏ rằng cụ đã biết kết hợp truyền thống với đấu tranh cách mạng ngay trong bản thân cụ”(4).

Chú thích:

1. Hồ Sĩ Vịnh: Đạo đức Hồ Chủ Tịch và triết học của tam giáo ở Việt Nam - Văn hóa vì con người, Nxb. Văn hóa và tạp chí Văn hóa nghệ thuật xuất bản, Hà Nội, 1993, tr.428.

2. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb. Sự thật, t.5, tr.368.

3. Nxb. Sự thật, H. 1980, 1989.

4. Đào Phan: Hồ Chí Minh danh nhân văn hóa. Kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, H. 1989, tr.128.

Thông báo Hán Nôm học 1996 ( tr. 328-337)

Lê Văn Quán
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm