VI | EN
33. Tổng quan tài liệu mộc bản triều Nguyễn bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV và việc ứng dựng công nghệ thông tin trong quản lý và khai thác tài liệu (TBHN2007)
tb07

TỔNG QUAN TÀI LIỆU MỘC BẢN TRIỀU NGUYỄN

BẢO QUẢN TẠI TRUNG TÂM LƯU TRỮ QUỐC GIA IV VÀ VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC TÀI LIỆU


PHẠM THỊ HUỆ

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV

 

I. Vài nét về mộc bản triều Nguyễn

Mộc bản là bản gỗ khắc chữ ngược để in ra các sách được dùng phổ biến ở Việt Nam trong thời kỳ phong kiến (Từ điển tiếng Việt -1992).

Mộc bản triều Nguyễn là những bản khắc gỗ chữ Hán Nôm ngược để in ra các tác phẩm chính văn, chính sử của triều đình.

Mộc bản triều Nguyễn là một thành phần của Văn khố Hoàng triều. Mộc bản, châu bản và sách ngự lãm có mối liên hệ mật thiết với nhau: châu bản là căn cứ để biên soạn các sách - bản thảo các tác phẩm được khắc lên mộc bản - từ mộc bản in ra các sách. Do mối quan hệ “sinh thành” ấy, châu bản, mộc bản và các sách sử triều Nguyễn có thể bổ sung cho nhau khi có sự mất mát xảy ra đối với mỗi loại.

Mộc bản triều Nguyễn là một loại hình tài liệu lưu trữ đặc biệt quý hiếm, là nguồn sử liệu có giá trị cao, cung cấp cho giới nghiên cứu nguồn tư liệu phong phú và đáng tin cậy khi nghiên cứu lịch sử Việt Nam cận đại. Đồng thời nó còn là một chứng tích để nghiên cứu nền văn minh văn hóa Việt Nam.

Về mặt nội dung, tài liệu mộc bản triều Nguyễn gồm 3 nhóm chính:

1-Các chính sử triều Nguyễn.

2-Các tác phẩm văn chương chính thống của triều Nguyễn.

3- Các tác phẩm kinh điển của nho gia, các sách dùng để dạy và học trong thời kỳ phong kiến.

II. Lịch sử khối mộc bản triều Nguyễn

Dưới triều Gia Long, nhà Nguyễn cho soạn thảo bộ Hoàng Việt luật lệ và cho khắc in, ban hành năm Gia Long thứ 12 (1813).

Năm Minh Mạng thứ 1 (1820), nhà Nguyễn cho lập Quốc sử quán để biên soạn Quốc sử, thực lục các triều vua và các sách chuyên khảo về giáo dục, địa lý… Tháng 8/1820, Quốc sử quán được xây dựng xong, năm 1821 bắt đầu hoạt động. Quốc sử quán làm việc dựa trên các sách cổ và những tài liệu được hình thành trong quá trình hoạt động của triều đình và các bộ, nha, trấn, thành… như các chiếu, dụ, chỉ của nhà vua đã được đưa ra thi hành; các phiến, tấu, sớ, sách của các cơ quan và địa phương đã được vua phê duyệt và hầu bửu - bản chính của các văn bản trên được gọi là châu bản. Theo luật định, châu bản được giao cho Nội các sao chép lời ngự phê vào hai phó bản; khi sao chép và hầu bửu xong, Nội các gửi một phó bản cho Quốc sử quán để làm tài liệu biên soạn các sách.

Bản thảo sách sau khi biên soạn xong được kiểm tra, bổ sung, chỉnh sửa qua nhiều khâu, cuối cùng được chép “tinh tả” rõ ràng theo nguyên bản, kèm theo biểu dâng sách tiến trình Hoàng đế “ngự lãm”. Sau khi nhà vua xem xong và phê duyệt, bản thảo được giao cho thợ khắc in khắc lên những tấm gỗ (mộc bản) để in ra sách. Mộc bản sau khi in xong được đưa vào bảo quản ở Tàng bản đường phía sau Quốc sử quán.

Trong hơn một thế kỷ tồn tại, Quốc sử quán triều Nguyễn đã biên soạn nhiều bộ sách sử có giá trị như: Đại Nam thực lục, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí, v.v… Đồng thời, Quốc sử quán đã sản sinh ra một khối lượng lớn tài liệu mộc bản, chủ yếu là ván khắc in những tác phẩm chính văn, chính sử của vương triều Nguyễn.

Mộc bản triều Nguyễn không chỉ gồm những ván khắc in những tác phẩm do triều đình nhà Nguyễn biên soạn mà còn bao gồm cả những ván khắc in các sách kinh điển của nho gia dùng để dạy và học, một số ván khắc in được thu về từ Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội đưa vào Huế và lưu giữ ở Quốc tử giám dưới thời vua Minh Mạng và Thiệu Trị.

Bản gốc tài liệu Mộc bản đã chỉnh lý được bảo quản trong kho chuyên dụng của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV.

Trước năm 1960, Mộc bản triều Nguyễn được lưu giữ và bảo quản tại Huế.

Dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, năm 1960 mộc bản được khởi sự chuyển từ Huế lên Đà Lạt, do Chi nhánh Văn khố Đà Lạt quản lý. Số lượng 5.967 bó, ước chừng 50.000 tấm(1). Đến năm 1974, Mộc bản bị hư hỏng, còn khoảng 45.000 tấm(2).

Sau năm 1975, mộc bản chỉ còn khoảng 30.000 tấm được giao về Cục Lưu trữ Nhà nước (nay là Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước) do Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II quản lý.

Trước năm 1989, mộc bản được bảo quản tại tòa nhà Dòng chúa Cứu thế (nay là Phân viện Sinh học Đà Lạt).

Từ năm 1989, mộc bản được chuyển về bảo quản tại khu Biệt điện Trần Lệ Xuân: Số 2- Yết Kiêu- F.5- Thành phố Đà Lạt.

Đến năm 1995 được sự quan tâm của Chính phủ, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước triển khai thực hiện đề án “Cấp cứu châu bản, mộc bản”. Nhờ đó mà trên 30.000 tấm mộc bản do Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II quản lý được in dập ra giấy dó, phân loại, sắp xếp theo bộ, theo quyển và số hóa bằng phương pháp Scan, xây dựng phần mềm quản lý và phục vụ khai thác bản dập tài liệu mộc bản.

Từ tháng 10/2006, bản gốc tài liệu mộc bản được cho phép chỉnh lý khoa học, xây dựng phần mềm quản lý và phục vụ khai thác.

Hiện nay Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV đã hoàn thành việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và phục vụ khai thác bản gốc tài liệu mộc bản.

Bản gốc và bản dập sách Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ

III. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và phục vụ khai thác tài liệu mộc bản

1.Mục tiêu và yêu cầu xây dựng phần mềm

1.1.Đối với phần mềm bản dập tài liệu mộc bản

Như đã nói ở trên, sau khi thực hiện đề án “Cấp cứu châu bản, mộc bản” hơn 30.000 tấm mộc bản đã được in dập ra giấy dó thành trên 50.000 tờ và được phân loại thành 152 đầu sách, sắp xếp thành 9 chủ đề và phần tồn nghi theo thứ tự như sau: Lịch sử; Địa lý; Chính trị- xã hội; Quân sự; Pháp chế; Văn hóa- giáo dục; Tôn giáo- tư tưởng- triết học; Ngôn ngữ- văn tự; Thơ văn.

Toàn bộ bản dập đã được số hoá, đã xây dựng cơ sở dữ liệu nhằm mục đích ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và khai thác tài liệu mộc bản.

Tháng 9/2000, công trình bảo hiểm tài liệu mộc bản bằng công nghệ CD đã được triển khai. Hiện tại, bản dập tài liệu mộc bản được số hóa bằng phương pháp Scan tài liệu. Phần mềm quản lý và phục vụ khai thác bản dập tài liệu mộc bản đáp ứng được các yêu cầu sau:

- Yêu cầu về bảo mật: chỉ những người sử dụng đã đăng ký tài khoản và được cấp phép mới có thể truy cập và khai thác cơ sở dữ liệu của phần mềm.

- Yêu cầu về tra cứu: có thể tra cứu tài liệu xuyên suốt toàn bộ khối tài liệu mộc bản theo nhiều tiêu chí khác nhau như tra theo mục lục, theo chủ đề, theo tác giả, theo tác phẩm, theo ngôn ngữ, theo niên lịch v.v…

- Có thể đọc tài liệu trực tiếp trên máy, có thể phóng to, thu nhỏ theo ý độc giả.

- Khi độc giả muốn sao in các trang tài liệu sẽ đáp ứng được ngay và trên mỗi trang sao in có đầy đủ thông tin xuất xứ về bản in đó.

1.2. Đối với phần mềm bản gốc tài liệu mộc bản

Đối với bản gốc tài liệu mộc bản, năm 2006, nhà nước phê duyệt cho chỉnh lý khoa học và ứng dụng công nghệ thông tin để quản lý và phục vụ khai thác. Đây là khối tài liệu được khắc thủ công trên chất liệu gỗ, có nhiều kích cỡ khác nhau, độ dày mỏng của tài liệu cũng khác nhau và có tấm mộc bản được khắc một mặt, có tấm lại được khắc hai mặt. Đặc biệt có nhiều tấm mộc bản, hai mặt khắc là hai trang của hai tác phẩm khác nhau. Điều này đã gây khó khăn cho việc chỉnh lý.

Hiện nay, công việc chỉnh lý đã hoàn tất và chúng tôi đã tiến hành xây dựng phần mềm quản lý và phục vụ khai thác cho bản gốc tài liệu mộc bản.

Phần mềm quản lý và khai thác bản gốc tài liệu mộc bản đáp ứng được các yêu cầu sau:

- Hệ thống quản trị cơ sở dữ liệu, công cụ quản trị và khai thác dữ liệu đảm bảo thống nhất trong hệ thống thông tin lưu trữ.

- Đáp ứng khả năng quản lý, khai thác tài liệu thông qua hệ thống tra cứu trên mạng nhanh chóng, chính xác, không trùng lặp đồng thời đảm bảo yêu cầu về an ninh.

- Kết xuất dữ liệu chính xác, phù hợp với đặc điểm của tài liệu mộc bản.

- Cho phép tìm kiếm thông tin theo nhiều chiều, đáp ứng nhu cầu đa đạng của người quản lý, khai thác sử dụng.

- Dễ dàng quản lý hệ thống, phân quyền sử dụng, đơn giản và trực quan trong thao tác quản trị.

- Giải quyết được tất cả các yêu cầu đầu ra của dữ liệu, cho phép in các biểu mẫu đáp ứng yêu cầu quản lý và khai thác sử dụng.

- Phần mềm này còn được yêu cầu phải thiết kế theo hướng mở, có thể nâng cấp được trong tương lai.

2. Thực trạng của việc quản lý và khai thác tài liệu mộc bản trước khi ứng dụng công nghệ thông tin

Trước khi ứng dụng công nghệ thông tin, việc quản lý và khai thác tài liệu mộc bản gặp rất nhiều khó khăn, hầu như không phát huy được giá trị tài liệu lưu trữ đối với việc phục vụ xã hội. Việc quản lý tài liệu mộc bản, chỉ đơn thuần là đánh số mộc bản để quản lý số lượng. Tài liệu sắp xếp lộn xộn, không theo một trật tự hay một nguyên tắc nhất định; các bộ sách, các quyển sách nằm xen kẽ lẫn nhau. Muốn tìm một tấm mộc bản trong một quyển sách nhất định không thể tìm thấy được. Công tác thống kê tình trạng vật lý tài liệu (số bản lành, bản vỡ, bản mục) cũng không thể thực hiện được.

Thực tế trước khi thực hiện đề án “Cấp cứu châu bản, mộc bản” và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và khai thác tài liệu mộc bản, tình trạng quản lý tài liệu mộc bản hết sức tồi tệ, không thể biết được nội dung của tài liệu mộc bản vì tài liệu mộc bản là những bản khắc chữ Hán Nôm ngược, mà chữ Hán Nôm ngược không phải ai cũng đọc được.

Trong thời gian từ năm 1995 trở về trước (kể cả thời kỳ lưu trữ ở Huế và Chi nhánh Văn khố Đà Lạt), mộc bản luôn được đánh giá là tài sản quí giá của Quốc gia nhưng không được in dập để phục vụ khai thác, không phát huy được giá trị của nó đối với xã hội.

3. Kết quả việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và khai thác tài liệu mộc bản

Sau khi thực hiện đề án “Cấp cứu châu bản, mộc bản”, trên 30.000 tấm mộc bản chữ ngược đã được in dập ra giấy dó, khoảng trên 50.000 tờ tài liệu Hán Nôm, chữ xuôi có thể đọc dễ dàng hơn. Sau khi chỉnh lý khoa học bản dập theo từng bộ sách, từng quyển sách, đặc biệt là sau khi ứng dụng công nghệ thông tin để quản lý và khai thác bản dập và bản gốc tài liệu mộc bản đã làm tăng thêm giá trị tài liệu mộc bản phục vụ xã hội.

Với việc ứng dụng phần mềm chuyên dụng, các cán bộ lưu trữ có thể quản lý được tài liệu về mọi mặt, biết được số lượng chính xác của toàn bộ khối mộc bản, biết được trong khối mộc bản triều Nguyễn có bao nhiêu bộ sách. Trong mỗi bộ sách có bao nhiêu quyển sách, trong mỗi quyển sách có bao nhiêu tờ; biết được tên từng bộ sách, từng quyển sách; biết được mỗi bộ sách viết bằng chữ Hán hay chữ Nôm, hay chữ Hán-Nôm; bộ sách đó viết bằng chữ chân hay chữ thảo…; biết được trong khối mộc bản có bao nhiêu bộ sách viết bằng chữ Hán, bao nhiêu bộ sách viết bằng chữ Nôm và có bao nhiêu bộ sách viết bằng chữ Hán - Nôm, biết được trong khối mộc bản có bao nhiêu tác phẩm do vua Minh Mạng sáng tác, bao nhiêu tác phẩm do vua Thiệu Trị sáng tác, bao nhiêu tác phẩm do vua Tự Đức sáng tác, bao nhiêu bộ sách do Quốc sử quán biên soạn v.v… và đặc biệt biết được trong khối mộc bản này có bao nhiêu chủ đề, trong mỗi chủ đề có bao nhiêu tác phẩm cụ thể.

Và với phần mềm quản lý bản gốc tài liệu mộc bản, chúng ta có thể biết được trong khối mộc bản này có bao nhiêu tấm mộc bản lành, có tình trạng vật lý tốt, bao nhiêu tấm bị vỡ đôi, bao nhiêu tấm rạn nứt, bao nhiêu tấm vỡ vụn, mục mủn, và có thể biết được bao nhiêu tấm mộc bản khắc hai mặt, bao nhiêu tấm khắc một mặt. Đối với phần mềm quản lý bản gốc tài liệu mộc bản còn giúp ta biết được chính xác vị trí của từng tấm mộc bản trong kho và lấy được chúng dễ dàng và nhanh chóng theo ý muốn.

Sử dụng phần mềm này, cán bộ lưu trữ có thể duyệt tài liệu cho độc giả đọc ngay trên máy, tức là phân quyền cho độc giả.

Với phần mềm quản lý và khai thác bản dập tài liệu mộc bản, độc giả khai thác và tra cứu rất thuận lợi và nhanh chóng. Có thể xem thông tin tổng quát về toàn bộ khối tài liệu mộc bản, có thể tra cứu theo ý muốn một cách nhanh chóng như tra theo chuyên đề, theo tên tác phẩm, tên tác giả, theo niên lịch, theo ngôn ngữ… hoặc tra theo mục lục. Tóm lại, có thể tra cứu theo nhiều cách trên phần mềm. Và với phần mềm này, độc giả có thể đọc trực tiếp tài liệu được duyệt ngay trên máy vi tính, có thể phóng to hay thu nhỏ tài liệu khi cần thiết và khi cần có thể in ngay được tài liệu.

Như vậy, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý và khai thác tài liệu mộc bản đã đem lại kết quả rất tốt. Các nhà lưu trữ nắm chắc các thông tin để quản lý tài liệu và phục vụ khai thác rất khoa học. Các độc giả tra cứu tài liệu rất nhanh chóng, thuận lợi, hài lòng. Độc giả đọc tài liệu trên máy, không tiếp xúc trực tiếp với bản gốc và bản dập tài liệu mộc bản, tránh hư hỏng tài liệu lưu trữ. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và khai thác tài liệu mộc bản triều Nguyễn là biện pháp thiết thực và hiệu quả nhất góp phần phát huy giá trị tài liệu lưu trữ, nhất là đối với khối tài liệu mộc bản triều Nguyễn - loại di sản văn hóa đặc biệt quý hiếm của Việt Nam và của nhân loại.

Chú thích:

(1) Hồ sơ số 1055 - Phông Nha Văn khố Quốc gia - Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.

(2) Hồ sơ số 1055 - Phông Nha Văn khố Quốc gia - Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II./.

Phạm Thị Huệ
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm