34. Siêu lộ cao tốc thông tin là gì? Chúng ta tham gia xây dựng và sử dụng nó như thế nào? (TBHNH 1997)
SIÊU LỘ CAO TỐC THÔNG TIN LÀ GÌ? CHÚNG TA THAM GIA XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG NÓ NHƯ THẾ NÀO?
NGÔ THẾ LONG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
I - Giới thiệu chung:
Khái niệm Siêu lộ cao tốc thông tin (SLCTTT) do Tổng thống Mỹ Bin Clintơn và Phó tổng thống Mỹ A.Gore đưa ra từ năm 1993 sau khi họ bước vào Nhà trắng. Năm 1994, Bin Clintơn nêu rõ: “Nước Mỹ sẽ xây dựng xong SLCTTT trong vòng từ 10 đến 15 năm tới”, và đã quyết định đầu tư khoảng 200 tỷ đô la để triển khai SLCTTT ở Mỹ(1).
Các nước khác xung quanh ta cũng đầu tư mạnh mẽ cho việc xây dựng SLCTTT của mình(2). Bởi vì đây là chiếc cầu nối để nhân loại chuyển từ xã hội hậu công nghiệp sang xã hội Thông tin, là tiền đề cho sự hình thành một nền văn minh toàn cầu.
Mạng toàn cầu INTERNET là một công cụ chính của SLCTTT toàn thế giới. Về vật lý, hiện đường truyền được dùng xen kẽ sợi cáp quang và vệ tinh, sắp tới, hàng nghìn vệ tinh sẽ được phóng lên, làm cho mạng hoạt động nhanh hơn, mạnh hơn, chất lượng tốt hơn, và rẻ tiền hơn (người ta tính rằng để nối cáp quang tới khắp mọi nơi trên thế giới thì cần chi khoảng 300 tỷ đô la. Nhưng nếu phóng 1500 quả vệ tinh, đảm bảo giải thông rộng ngang với cáp quang, phủ sóng khắp mọi nơi thì chỉ tốn 9 tỷ đô la. Như vậy, dùng vệ tinh thì giá thành hạ đi rất nhiều. Tất nhiên, các nhà thiết kế vẫn đảm bảo bí mật thông tin cho khách hàng).
Không phải ngẫu nhiên mà các quốc gia thi đua nhau nối vào mạng INTERNET. Năm 1995 chỉ mới có vài chục nước. Giữa năm 1997 tăng lên 154 nước. Giữa năm 1998 có 175 quốc gia và vùng lãnh thổ nối vào mạng toàn cầu. Nguyên nhân của sự tăng đột biến này là vì người ta thấy lợi ích to lớn của nó đối với sự phát triển kinh tế và văn hóa của mọi quốc gia.
Vì, nhờ có mạng toàn cầu hết sức tiện lợi cho việc trao đổi thông tin các dạng khác nhau, khiến cho “ở bất kỳ góc nào của thế giới phát minh ra cái gì mới là mọi nơi khác trên thế giới đều có thể biết”. Các dân tộc, các quốc gia đều muốn sử dụng tri thức và kinh nghiệm của nhân loại theo hướng có lợi cho mình. Các nước giàu thì càng muốn giàu thêm. Các nước nghèo càng muốn nhanh chóng thoát khỏi đói nghèo và vươn lên.
Các hãng tin học và truyền thông lớn trên thế giời đã thi nhau cải tiến kỹ thuật để đáp ứng nhu cầu đó, dẫn đến kết quả là người học sử dụng rất dễ dàng…
Nói về sự tham gia xây dựng mạng INTERNET thì công việc chính đặt trên vai ngành Bưu chính viễn thông, còn chúng ta chỉ tham gia một việc thuộc phần mềm của hệ thống này là xây dựng bộ mã chuẩn cho truyền thông bằng ký tự: bảng mã ISO-10646, trong đó có chữ Nôm, chữ Quốc ngữ và chữ viết của các dân tộc khác. (Theo thông báo của Ban điều hành mạng INTERNET thế giới thì từ nay đến năm 2000, mạng INTERNET sẽ dùng bảng mã ISO-10646 thay thế hẳn cho bảng mã ASCII của Mỹ hiện nay – Xem cuối trang 13, tạp chí PCWORLD Việt Nam số tháng 12/1997, bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Trần Lưu Chương, trưởng Ban Kỹ thuật Ban Chỉ đạo CNTT quốc gia. Chính vì vậy mà năm nay là năm cuối để chúng ta tranh thủ đưa hết số chữ Nôm còn lại vào bản mã đó).
Các nhà thiết kế SLCTTT dự kiến đến năm 2001, SLCTTT sẽ được đưa vào hoạt động. Lúc đó sẽ xảy ra bùng nổ về trao đổi thông tin ở cấp độ toàn cầu. SLCTTT ra đời sẽ làm thay đổi nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội của loài người, ví dụ như:
a, Mọi người trên thế giới đều có thể liên lạc với nhau bằng âm thanh, tiếng nói và hình ảnh(3) (nếu ai kém về ngoại ngữ thì họ tạm vui lòng sử dụng hình ảnh, biểu tượng, và “nhấn chuột” theo hướng dẫn để trao đổi thông tin trên máy, và sử dụng các chương trình dịch ngữ trên máy!). Đường biên giới giữa các quốc gia sẽ không còn ý nghĩa gì nữa đối với việc truyền thông tin. Không cần phải xuất dương, xuất cảnh, ngồi ngay tại nhà, bạn cũng có thể đọc được các tài liệu khoa học và báo chí nước ngoài ngay khi họ vừa công bố. Chỉ trong chốc lát, Bạn có thể tới vài kho chứa thông tin ở các nước khác nhau trên thế giới mà lấy tin miễn phí.
b, Đa số cán bộ viên chức có thể làm việc chuyên môn tại nhà, từ xa, hoặc từ rất xa. Số người đến công sở làm việc giảm đi rõ rệt, từ đó giảm mật độ đi lại trên đường, tiết kiệm được nhiên liệu và phương tiện giao thông, tiết kiệm được diện tích công sở, giảm bớt tai nạn giao thông, bảo vệ môi trường và sức khoẻ (Một số sở giao dịch của thị trường chứng khoán hoạt động náo nhiệt là thế, mà nay cũng có thể thay bằng một địa chỉ WEB trong máy tính. Người ta có thể “thuê một văn phòng giao dịch để kinh doanh” trên một địa chỉ WEB, không cần nhà cửa, bàn ghế gì…).
c, Tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế rất thuận lợi, các thành viên tham dự không còn lo đi muộn nữa (vì ở mọi nơi đều có thể tham luận và nghe nhìn người khác phát biểu và trình diễn. Như vậy giảm hẳn phí tổn đi ra nước ngoài).
d, Trên mạng này, các nhà nghiên cứu khoa học kỹ thuật, các nhà giáo dục, đào tạo, các nhà doanh nghiệp có thể trao đổi thông tin với nhau hoặc truy cập thông tin của nhau về các công trình, lĩnh vực nghiên cứu mới nhất về các hình thức giáo dục, đào tạo, và các thông tin kinh tế thị trường, giá cả một cách nhanh chóng, thuận tiện, dễ dàng… để giúp họ suy nghĩ, đề ra các biện pháp nhạy bén, kịp thời, thuc đẩy kinh tế, văn hóa khoa học phát triển, tránh được những rủi ro, xáo động.
e, Việc xây dựng SLCTTT quốc gia và khai thác các thông tin về khoa học công nghệ do các nhà khoa học thế giới nghiên cứu phát minh ra và được đặt sẵn trên mạng để sử dụng cho nước mình, cho đơn vị mình, là một thời cơ tốt, đồng thời là một thách thức đối với tầng lớp trí thức của những nước đang phát triển như nước ta. Chúng ta có sử dụng tốt các kinh nghiệm và tri thức của nhân loại để làm ra cái gì có ích không? Hay chỉ làm tăng thêm tình trạng “tái sản xuất thiếu hụt” của “xã hội tiêu thụ”? (bóc ngắn cắn dài). Chúng ta đang có điều kiện tiếp cận với kho kiến thức khổng lồ của nhân loại viết bằng chữ tượng hình, ở đó người ta dạy cách nuôi trồng những cây, những con, những hoa, những quả, dạy xây dựng xã hội mới với những điều kiện gần giống như đất nước ta. Vậy chúng ta có học được bài học gì để làm cho nhà, cho nước mình giàu mạnh thêm không? Tôi chắc chắn là có.
f, Hàng triệu người quen biết nhau hoặc không quen biết nhau ở các nơi rất xa nhau có thể bàn bạc, tranh luận với nhau về một đề tài bất kỳ… Mạng toàn cầu cho phép mọi người có thể đọc lướt qua hàng nghìn thư viện. Từ thư viện Quốc hội Mỹ đến viện Bảo tàng Louvre của Pháp. Có chiếc máy tính trong tay, nối được với INTERNET, bạn có thể tới bất kỳ thư viện lớn nào trên thế giới đã tin học hóa, lấy đủ thứ thông tin (văn học, nghệ thuật, âm nhạc, điện ảnh, tài liệu dạng văn bản hoặc các dạng khác nhau…). Nó càng ngày càng dễ sử dụng hơn, ngay cả với những người không hiểu biết gì về kỹ thuật.
Vì vậy mới gọi là “thời kỳ chín muồi về công nghệ”, cần trang bị phổ cập cho mọi người làm việc, theo lối “chiến tranh nhân dân bằng vũ khí hiện đại” để tăng nhanh tốc độ hiện đại hóa; chúng ta không chủ trương chỉ bó hẹp cho một số ít người được sử dụng máy tính như một thứ đặc quyền đặc lợi; hoặc là ngăn cản, bóp nghẹt, không tạo điều kiện cho nhiều người sử dụng thành quả của khoa học công nghệ. Đây chính là dân chủ hóa khoa học công nghệ, phát huy nội lực và tiềm năng của trí thức Việt Nam, đem lại lợi ích cho cộng đồng và nâng cao đời sống vật chất cho mỗi người bằng con đường chính đáng. Công việc này không trái với chủ trương đường lối của lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta.
Một ví dụ cụ thể ở ngay nước ta vừa qua: Phó tiến sĩ Lê Trường Tùng, trong tạp chí Tin học và Đời sống số tháng 10-11 năm 1997 (trang 81) thông báo rằng ông truy nhập mạng INTERNET tại địa chỉ http://www.Simtelnet đặt ở tận bên Mỹ, ở đó có thể lấy được các tài liệu như Thơ Hồ Xuân Hương, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Quang Dũng, Chinh phụ ngâm… Ông cũng cho biết rằng ở Thư viện đó có rất nhiều thứ quý giá như: Các chương trình phần mềm máy tính chạy dưới hệ điều hành DOS, WINDOWS 3.x, WIN 95 thuộc đủ các lĩnh vực khác nhau như về Thiết kế kỹ thuật, Thiết kế bản đồ địa lý, Hóa học, Thiên văn học, Sinh vật học, Địa chất học, Âm nhạc, Giáo dục, Thiết kế mạch điện, Kinh doanh, Tài chính kế toán, Thực phẩm, Y tế, Từ điển, phần mềm dạy học ngoại ngữ, Thể thao… Thư viện đó cũng có các tạp chí Tin học dạng điện tử cùng nhiều tài liệu giá trị khác, mà người ta cho truy nhập lấy về miễn phí… Trong bài viết của mình, tác giả còn hướng dẫn cho mọi người cách làm thủ tục đăng kí tham gia mạng và nói rõ giá cả từng khoản…
Như vậy chúng ta thấy rằng cuộc “Cách mạng Thông tin” mới chỉ bắt đầu nhưng nó đang sắp sửa lấn át chúng ta. Đặc tính làm cho mọi ngành tăng năng lực, tăng giá trị của nó đang vượt xa khả năng đương đầu của ta (nếu quả là ta chỉ muốn đương đầu mà không biết khai thác, lợi dụng sức mạnh của nó). Nó sẽ nhanh chóng làm lỗi thời các luật pháp, gây biến đổi các phong tục tạp quán, bài trí lại nền kinh tế, sắp xết lại các vấn đề cần ưu tiên, xác định lại nơi làm việc của chúng ta, đặt các thể chế vào tình trạng nguy ngập, làm thay đổi các khái niệm của chúng ta về thực tại, và buộc chúng ta phải suy nghĩ lại nhiều vấn đề…
II. Ta có thể làm gì với mạng INTERNET và INTRANET
- Mạng INTERNET là mạng toàn cầu như ta đã biết. Còn mạng INTRANET làm mạng nội bộ của một ngành. INTRANET giống INTERNET ở chỗ nó dùng hoàn toàn các kỹ thuật của INTERNET để xây dựng, kết nối, trao đổi thông tin. Vì đặc tính phổ cập toàn cầu, mà các hãng tin học lớn đã đầu tư không tiếc sức để cải tiến nhanh chóng, nhằm tranh thị trường, khiến cho loại mạng này rất dễ học, dễ sử dụng, dễ khai thác. Có thể gọi là một “bước nhảy vọt bất ngờ”, khác hẳn với trước đây khoảng 2 năm.
Nhà nước ta đã chính thức khai trương mạng INTERNET Việt Nam vào ngày 19/11/1977 (một vài tờ báo đã vào mạng thử từ trước, có số đọc giả đến 4,5 vạn. Đặc biệt báo “Quê Hương” của Uỷ ban Việt Kiều đã có số độc giả trên mạng là 13 vạn người đọc mỗi số).
Riêng Trung Tâm KHXH và NVQG của chúng ta có một mạng máy tính trang bị đạt tiêu chuẩn cho một mạng nội bộ mạnh, trị giá khoảng 4 tỷ đồng VN, xứng đáng dùng làm mạng INTRANET chung của ngành KHXH trong cả nước, nhưng chưa có kế hoạch và kinh phí để hoạt động trao đổi thông tin.
Theo như PTS Lê Trường Tùng nói thì thủ tục vào INTERNET để lấy thông tin không khó và không đắt lắm: chỉ cần mỗi người tham gia có một máy tính, có MODEM, có dùng máy điện thoại của Bưu điện (trị giá cả thảy chưa đến 1000 USD), với một ít lệ phí là vào được. Nhưng đó là một cá nhân, vào để lấy thông tin mà người ta miễn phí. Còn như lập ra một mạng máy tính cho nhiều mục đích khác nhau thì có những đòi hỏi khác về thiết bị mà ta cần phải chú ý… Tuy vậy, theo các chuyên gia cho biết thì mạng của Trung Tâm KHXH và NVQG là đủ tiêu chuẩn để lập một INTRANET chung cho cả ngành KHXH rồi.
Nếu có một mạng INTRANET như của Trung Tâm KHXH và NVQG trong tay, hiện nay ta có thể làm gì? (tôi nói hiện nay, là chú ý tình hình tiến bộ kỹ thuật đến nay, còn sau này, các phần mềm và phần cứng tiến bộ hơn, có thể đặt ra những yêu cầu cao hơn).
Theo tôi nghĩ khả năng của mạng INTRANET cho phép như sau:
a, Nối với mạng INTERNET toàn cầu khi cần (để xuất thông tin ra ngoài hoặc mở ra mạng toàn cầu để “kều” thông tin về như ông Lê Trường Tùng đã làm).
b, Tổ chức các Diễn đàn khoa học trên mạng (Cần có máy chủ to, mạnh để chứa thông tin). Các Diễn đàn có thể bàn thảo với các chủ đề Văn học, Sử học, Triết học, Ngôn ngữ học, Hán Nôm học… Các nhà khoa học ở xa Hà Nội có thể dùng máy tính soạn bài, dùng máy tính gửi thư qua mạng với Tổng biên tập, để họ biên tập, rồi gửi qua mạng tới hộp thư Diễn đàn. Ai muốn đọc và phát biểu ý kiến tranh luận thì cũng làm như vậy. Đặc điểm của máy chủ là nó có sức chứa lớn và có chương trình phần mềm tìm giúp thông tin rất nhanh, thậm chí Bạn có thể yêu cầu cung cấp riêng cho Bạn những thông tin mới cập nhật trong khoảng thời gian nào đó…
c, Các nhà khoa học tham gia mạng này có thể gửi thư riêng cho nhau qua hòm thư tại máy chủ. Thư sẽ được chuyển nhanh về máy nhận trong vài phút, và được giữ bí mật không cho ai xem vào. Giá chuyển rất rẻ, chỉ độ chưa tới 100 đồng một thư. Lấy thư ở máy chủ xong. Bạn có thể xóa hết đi… Trừ những gì cần thông báo công khai thì để ở khu vực Diễn đàn hoặc nơi thông báo công cộng.
d, Có thể cho một nhóm 3 người trở lên, ngồi ở nhà, hẹn giờ nhau cùng làm việc trên mạng để trao đổi ý kiến với nhau trên cùng một tài liệu, góp ý, sửa chữa cho nhau. Đó gọi là làm việc theo nhóm. Điều này máy điện thoại không bao giờ làm được, vì điện thoại chỉ cho phép 2 người đối thoại, và không cho một người thứ 3 thâm nhập vào đường dây nối 2 người đang làm việc.
Tóm lại làm mạng cho phép ta làm được nhiều việc có lợi và rất tiết kiệm.
Chúng tôi rất thông cảm với những người quản lý một hệ thống mạng, có giá trị giá đắt tiền như vậy nhưng chưa phát huy được tiềm năng của nó. Bởi vì muốn cho nó làm được những điều như vừa kể trên còn cần thêm nhiều yếu tố khác nữa, đặc biệt là về nội dung thông tin đưa ra trao đổi trên mạng. Cần có kinh phí để cho các nhà khoa học cộng tác với mạng viết bài, cần làm ra các thông tin để nhiều người tham khảo dễ dàng trên máy, và phải tính ngay cả đến vấn đề cộng tác viên lấy đâu ra tiền để trả phí bưu điện khi họ đăng ký nhập mạng, ngồi hàng giờ trên máy tính.
Nếu ta chỉ trang bị cho ít người có máy tính thì dữ liệu sẽ không nhiều, và người đọc cũng không nhiều. Như vậy, mạng vẫn còn thưa vắng lâu. Vì vậy, chúng tôi thấy nên tập trung sức nhiều Viện lại, sử dụng ngay cái mạng này. Giai đoạn đầu hãy dùng nó nối với INTERNET để quảng cáo, giới thiệu các chương trình hoạt động, các công trình khoa học của các Viện, và tìm đối tác. Ngoài ra đưa lên một số dữ liệu, kể cả các dữ liệu tổng hợp kiểu công cụ, để tra cứu và tập dượt cho quen việc khai thác dữ liệu trên mạng bằng các thủ tục của INTERNET…
Còn chúng ta: những người nắm trong tay một kho dữ liệu trên giấy chưa được điện tử hóa, chính là kho di sản văn hóa thành văn của tổ tiên. Ta đang cần điều kiện trang thiết bị để bảo tồn và khai thác kho di sản này. Những thiết bị này là thích hợp cho công việc ấy. Việc chính hiện nay là sản xuất các dữ liệu điện tử hóa để có thể đưa vào máy chủ.
Chúng tôi hình dung rằng nếu được chuẩn y cho làm cái việc “hiện đại hóa” công tác bảo tồn và khai thác, thì cũng phải trang bị máy tính đồng loạt cho khoảng 50 người, để ngày đêm gõ vào các bản dịch ra Quốc ngữ, và vài máy quét (Scanner) để quét các nguyên bản chữ Hán, rồi phần thì lưu trữ trên CD; phần thì đưa lên mạng mà giới thiệu quảng cáo ra thế giới, trên mạng INTERNET như đã nói. Dữ liệu muốn có giá trị vừa phải dịch đúng, vừa phải trình bày bên cạnh nguyên văn chữ Hán Nôm… 50 cái máy cho cán bộ vừa dịch chú, vừa gõ và sửa ngày đêm liên tục trong 3 năm may ra mới có thể xong được kho sử liệu cổ Việt Nam, đưa vào tra cứu trên máy. Những cái đó đòi hỏi kinh phí thích đáng, nhưng cũng sẽ tạo ra những sản phẩm có giá trị (bởi vì một khi dữ liệu đã đưa vào máy tức là đã “điện tử hóa” thì lập tức nó có khả năng “cất cánh” bay đến mọi nơi, xuyên qua đại dương…, đến với mọi người, khác hẳn với cách bảo tồn lưu trữ cổ điển trên giấy). Những sản phẩm này chính là những thứ mà ta mong muốn vì nó vừa làm được chức năng bảo tồn lâu dài kho di sản, vừa phục vụ việc khai thác trước mắt và lâu dài về sau.
Nếu chì có một vài máy như hiện nay thì tình hình sẽ như thế nào, các vị đã biết rồi! (Chúng tôi hình dung đội ngũ chuyên gia khoa học sử dụng máy tính làm công việc này như những “đoàn xe ngày đêm ra chiến trường”. Có những đoàn xe như vậy ắt cần những đội viên kỹ thuật Tin học chuyên môn “đảm bảo giao thông cho xe ra trận”, mới mong được việc. Chúng tôi chỉ xin làm “đội quân đảm bảo giao thông” ấy thôi!).
Chính vì suy nghĩ như vậy, cho nên tôi thấy cần phải yêu cầu Nhà nước đầu tư cho đồng bộ các khâu công việc: không chỉ là trang thiết bị, mà còn cần đào đạo và sản xuất dữ liệu chuyên ngành. Thấy rõ được yêu cầu đó là chính đáng và tất yếu phải như vậy, nên Ban chỉ đạo Quốc gia về CNTT đã đặt trọng tâm hoạt động của các dự án chuyên ngành từ năm 1998 là “xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia” (đối với chúng ta là Dữ liệu chuyên ngành, mà cũng là của quốc gia)… Bởi vì có dữ liệu thì khoa học mới hoạt động được, và Tin học mới hoạt động có hiệu quả…
III - Kết luận
Hiện nay điều kiện khách quan về công nghệ đã chín muồi, cho phép chúng ta có thể làm được việc bảo tồn và khai thác kho di sản của Tổ tiên một cách tiết kiệm nhất trong hoàn cảnh hiện nay và sắp tới.
Chúng tôi mong mỏi các vị có trách nhiệm và các nhà khoa học hãy chú ý suy nghĩ đóng góp cho chủ đề này. Cùng nhau chung sức chung lòng, hợp tác rộng rãi chuyên gia ngành khoa học công nghệ, văn hóa, để bảo tồn, giới thiệu, làm “rực sáng” những tinh hoa, những giá trị của văn hóa của Ông Bà tổ tiên mà chúng ta đang có trách nhiệm gìn giữ. Chúng ta muốn trình độ văn hóa khoa học của nước ta không bị tụt hậu, mà phát triển đi lên, phủ hợp với xu thế của thời đại, đem lại nhiều lợi ích cho xã hội, trong đó có lợi ích của chính chúng ta. Và, như đã trình bày ở trên, trong bối cảnh hiện nay, thực hiện việc này cũng không phải là điều gì quá khó!
Chú thích:
1. Xem: Vũ Ngọc Cừ, Mai Anh INTERNET và INTRANET, NXB Giao thông vận tải, Hà Nội tháng 10/1997 (Tiến sĩ Mai Anh hiện là Tổng thư ký Hội Tin học Việt Nam). Khi viết bài này chúng tôi đã xin ý kiến, được Tác giả cho phép trích dẫn lại các đoạn văn trong sách trên.
2. Theo sách đã dẫn, Nhật Bản đầu tư 400 tỷ USD, Liên họêp châu Âu: 150 tỷ; Anh quốc: 38 tỷ bảng Anh; Pháp 150-200 tỷ Frances; Hàn Quốc: 55,3 tỷ, các nước Braxin, Achentina, Paragoay, Urugoay cũng đang khẩn trương triển khai các mạng khu vực. Các nước Đông Nam Á như Singapore, Philippin, Malaysia, Indonesia, HongKong đều tích cực phát triển mạng truyền thông của mình… Xem thêm bài của Đỗ Văn Lộc (Ban chỉ đạo quốc gia về CNTT đăng trên PCWORLD Việt Nam số tháng 12/1997, trang 150 nói rõ).
3. Vũ Ngọc Cừ, Mai Anh, sách đã dẫn trang 53-54. Sắp tới, mạng sẽ được chuyển tiếp bằng hàng nghìn vệ tinh nên giá cả sẽ rẻ hơn, chất lượng hình ảnh, âm thanh và tốc độ sẽ tốt hơn hiện nay.
Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr.347-358)