VI | EN
35. Một bộ tự điển chữ Nôm mới vừa được biên soạn xong (TBHNH 2012)
35. Một bộ tự điển chữ Nôm mới vừa được biên soạn xong (TBHNH 2012)

MỘT BỘ TỰ ĐIỂN CHỮ NÔM MỚI

VỪA ĐƯỢC BIÊN SOẠN XONG

NGUYỄN QUANG HỒNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Tại diễn đàn “Thông báo Hán Nôm học - 2012” này, chúng tôi xin được giới thiệu và chia sẻ với quý vị đồng nghiệp một công trình biên soạn mới mà chúng tôi đã theo đuổi nhiều năm và vừa mới hoàn thành, hiện đang trong quá trình chuẩn bị xuất bản. Công trình này mang tên Tự điển chữ Nôm dẫn giải, theo dự kiến, sách dày khoảng 1800 trang in, khổ 16x24cm, cỡ chữ 12. Đây là một bộ tự điển chữ Nôm kiểu mới, mới về cách trình bày, mới về dung lượng và cũng mới về nội dung khoa học.

Cho đến hiện nay, công cuộc nghiên cứu và biên soạn về chữ Nôm đã đạt được nhiều thành tựu khả quan. Để giản tiện, chỉ xin điểm qua hai bộ tự điển chữ Nôm xuất hiện trong những năm gần đây và có liên quan nhiều hơn cả với bộ Tự điển chữ Nôm dẫn giải này của chúng tôi:

(A). Tự điển chữ Nôm. Công trình biên soạn tập thể của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, do Nguyễn Quang Hồng chủ biên. Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2006. Sách dày 1546 tr., khổ 16x24cm. Đây là tự điển chữ Nôm đầu tiên trong đó mỗi đơn vị chữ được nêu những câu dẫn cụ thể từ tác phẩm Nôm (gần 50 văn bản). Nó đã được bạn đọc đánh giá cao trong mấy năm qua. Số lượng chữ cũng nhiều hơn các tự điển có trước. Với mỗi chữ đều cho giải nghĩa và phân tích cấu trúc của chữ, song cũng có chỗ chưa được chính xác, chưa thật hợp lý. Trong điều kiện lúc đó, nhóm biên soạn đã không dẫn được nguyên văn chữ Nôm, mà chỉ phiên âm theo chữ Quốc ngữ. Các phiếu chữ Nôm viết tay do nhiều người làm, để lại nhiều lầm lẫn và sai lệch.

(B). Tự điển chữ Nôm trích dẫn. Công trình biên soạn tập thể của Viện Việt học tại Hoa Kỳ (gồm 7 đồng tác giả). Viện Việt học ấn hành. In tại Đài Loan, 2009, dày 1708 trang, khổ 19x26cm. Các tác giả đã thu nhập dữ liệu trực tiếp bằng máy tính, lần đầu tiên trích dẫn các câu theo nguyên văn chữ Nôm (với phông chữ Nôm tự tạo khá chuẩn xác) và kèm theo phiên âm chữ quốc ngữ. Số lượng văn bản Nôm được dùng nhiều hơn (gồm 69 văn bản). Gọi là tự điển, nhưng công trình này không hề giải nghĩa cho các chữ Nôm và hầu như không phân tích cấu trúc của từng chữ, và đây hẳn là khiếm khuyết dễ thấy ở tự điển này...

Kế thừa có chọn lọc những điểm khả thủ và khắc phục những hạn chế và sai sót trong các công trình biên soạn có trước, áp dụng những cách tiếp cận và xử lý mới mà chúng tôi nhận thức được, chính là đòi hỏi bức thiết dẫn dắt chúng tôi đi vào biên soạn công trình Tự điển chữ Nôm dẫn giải, với mong muốn cống hiến cho xã hội một bộ tự điển chữ Nôm kiểu mới, với dung lượng lớn hơn và chất lượng cao hơn trước.

Về phần nhận thức đối tượng, chúng tôi có chuyên luận Khái luận văn tự học chữ Nôm (Nguyễn Quang Hồng, Nxb. Giáo dục, Tp. Hồ Chí Minh, 2008) làm chỗ dựa. Trong chuyên luận này, chúng tôi đã xác định được những đặc điểm của chữ Nôm theo cách nhìn lịch đại và đặc biệt là đưa ra cách phân loại mới và quan niệm mới về cấu trúc của chữ Nôm (phân biệt cấu trúc hình thể và cấu trúc chức năng, cấu trúc chiều sâu và cấu trúc bề mặt), và cả về môi trường hành chức của chữ Nôm. Đó là những gì rất cần thiết cho việc xử lý các vấn đề về lựa chọn văn bản, về giải nghĩa và phiên âm, về phân tích và xếp loại cấu trúc chữ Nôm trong tự điển này. Hệ thống lý thuyết văn tự này chưa hình thành đầy đủ khi chúng tôi chủ biên tự điển (A) nói trên, và đây là lần đầu tiên được áp dụng vào công việc biên soạn bộ chữ Nôm dẫn giải này.

Về phần tư liệu, chúng tôi hầu như không thừa hưởng được gì từ các công trình có trước, mà phải trực tiếp bắt tay làm lại từ đầu công việc sưu tầm các văn bản chữ Nôm. Từ đó lựa chọn ra 116 đơn vị văn bản, (gấp bội so với các tự điển có trước) thuộc nhiều thời kỳ khác nhau, thuộc nhiều lĩnh vực văn hóa xã hội khác nhau, và thuộc nhiều loại hình văn bản khác nhau. Với những tác phẩm Nôm nổi tiếng, chúng tôi sử dụng không chỉ 1, có khi là 2 thậm chí 3 văn bản khác nhau. Tác giả đã tự mình thực hiện công trình này trên máy tính trong tất cả các khâu (trừ một số khâu ở phần hậu kỳ). Điều này cũng sẽ giúp cho việc khắc phục nạn “tam sao thất bản” và sai lệch nào đó khi phải qua bàn tay của quá nhiều người.

Trong nội dung chính của tự điển này, người đọc trước hết tìm kiếm chữ Nôm theo âm đọc (đã biết trước hoặc theo dự đoán). Tương ứng với từng âm tiết Tiếng Việt hiện đại, sẽ có từ một đến hàng chục chữ Nôm khác nhau. Mỗi chữ là một đơn vị miêu tả, theo 2 cột: (a) Cột Chữ Nôm xác nhận hình chữ, âm đọc và ký mã của chữ (theo Unicode hoặc Vcode). (b) Cột Dẫn giải bao gồm: Phân tích cấu trúc của chữ. Tiếp đến là giải nghĩa chữ. Tương ứng với mỗi nghĩa dẫn ra một số câu trích từ các văn bản định trước (có chú nguồn dẫn đến số trang). Trong mỗi cụm câu dẫn theo một nghĩa nào đó, thì thứ tự các câu dẫn trước sau trên đại thể là theo niên đại tác phẩm được dẫn. Với các câu dẫn, đôi khi có phụ chú thêm về nghĩa hoặc về âm cho một vài chữ, nếu thấy cần thiết. Các mục chữ có nội dung như thế sẽ được sắp xếp từng cụm theo thành tố biểu âm và theo thứ tự ít nét trước, nhiều nét sau. Tất cả các chữ Nôm tương ứng với một âm tiết thì nằm chung trong một “khuôn viên” nhất định. Cuối cùng, các âm tiết khác nhau (tương ứng với một hoặc một số chữ Nôm) sẽ được sắp xếp theo thứ tự ABC của chữ Quốc ngữ.

Khi gặp những chữ lạ, mà người đọc không biết chắc và không dự đoán được âm đọc của nó, thì có thể tra tìm chữ đó ở Bảng tra chữ Nôm theo bộ thủ, rồi lần giở đến trang có âm đọc được ghi nhận cho chữ đó.

Trong quá trình biên soạn, tác giả đã sử dụng các bộ phông chữ Nôm và cả chữ Hán hiện có, chuyên dùng cho máy tính, mà chủ yếu là bộ phông Nom Na Tong. Bộ tự điển này thu nạp được gần 9500 hình chữ Nôm khác nhau, trong đó có tới 2290 chữ Nôm tự tạo chưa hề có mặt trong các tự điển và các phông chữ Nôm hiện dùng. Công việc vẽ bổ sung những chữ Nôm “mới” này, lập bảng tra cứu chữ Nôm theo bộ thủ, cũng như thực hiện một loạt các thao tác kỹ thuật khác ở giai đoạn hậu kỳ để hoàn thiện chế bản in ấn cho công trình này, đã nhận được sự tài trợ vô tư về nhân lực và cả vật lực của Hội Bảo tồn Di sản chữ Nôm (Hoa Kỳ). Tại đây, soạn giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới quý Hội (http:// www. nomfoundation.org) và với cả các đồng nghiệp trong nhóm Nôm Na thuộc Văn phòng của Hội tại Hà Nội.

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp của mình tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Khoa Văn học Trường Đại học KH XH&NV Hà Nội, đã nhiệt tình cung cấp cho tác giả một số tư liệu chữ Nôm quý hiếm, góp phần bổ sung và làm phong phú thêm nguồn tư liệu cho công trình tự điển này.

Hy vọng rằng độc giả sách này không chỉ là các nhà nghiên cứu thuộc nhiều thế hệ trong lĩnh vực Hán Nôm, mà có lẽ (thậm chí trước hết) là tất cả những ai muốn tìm về hình bóng của ngôn ngữ và chữ viết, văn chương và văn hóa người Việt trong quá khứ rất đỗi xa xôi, mà cũng vô cùng gần gũi với cuộc sống hôm nay.

Để quý vị có thể hình dung rõ nét hơn về bộ tự điển mới này, xin đính kèm theo đây một phụ lục về “Thể lệ biên soạn Tự điển chữ Nôm dẫn giải.

Phụ lục:

THỂ LỆ BIÊN SOẠN Chữ Nôm dẫn giải

1.Đây là một bộ tự điển chữ Nôm được trình bày theo dạng bảng tra từ cột CHỮ NÔM đến cột DẪN GIẢI. Ở cột “Chữ Nôm” ghi rõ hình chữ Nôm, âm đọc và ký mã quốc tế Unicode (theo quy định của ISO) hoặc Vcode (là nội mã của Việt Nam). Ở cột “Dẫn giải” cung cấp các thông tin về cấu tạo chữ, nghĩa chữ và những câu trích dẫn từ nhiều tác phẩm và văn bản khác nhau. Tự điển này thu nạp hơn 9500 chữ Nôm được ghi nhận trực tiếp từ 115 văn bản tác phẩm Nôm đã được lựa chọn và khảo sát. Tự điển chữ Nôm dẫn giải chủ yếu tra theo âm đọc (dưới dạng chữ Quốc ngữ), là cách tra chữ quen thuộc của độc giả ngày nay. Song cuối sách cũng có đính kèm một Bảng tra theo bộ thủ, nhằm thỏa mãn nhu cầu tra chữ theo bộ, cũng như một số nhu cầu khác liên quan với sự đối chiếu qua lại giữa hình chữ và âm chữ, vốn rất quan hệ đến việc giải đọc văn bản Nôm.

2.Trong tự điển, lấy chữ Nôm làm đơn vị mô tả. Những từ ngữ Tiếng Việt liên quan với chữ Nôm đang xét cũng được ghi nhận và giải thích ở phần “Dẫn giải”. Những chữ Nôm có cùng âm đọc (phân biệt theo chữ Quốc ngữ), được sắp xếp vào cùng một “khuôn viên”, ngăn cách với nhóm các chữ có âm đọc khác bằng một đường kẻ ngang. Các nhóm chữ được sắp xếp lần lượt theo trật tự chữ cái ABC của chữ Quốc ngữ. Trong nội bộ một nhóm chữ cùng âm, những chữ có phần biểu âm giống nhau thì được xếp gần nhau theo thứ tự từ ít nét đến nhiều nét. Khi ghi nhận các hình chữ Nôm vào cột “Chữ” cũng như khi trích các câu dẫn từ văn bản cụ thể vào phần “Dẫn giải”, soạn giả cố gắng phản ảnh sát đúng hình thể vốn có của chúng trong điều kiện kỹ thuật cho phép.

3.Thông tin về cấu tạo chữ là nội dung đầu tiên ở phần “Dẫn giải”. Thông tin này được đánh dấu bằng các ký hiệu #{}, trong đó trình bày về cấu trúc chức năng (biểu âm, biểu ý) và cả cấu trúc hình thể của chữ, như:

(phải trái),

(trên dưới),

(ôm bên),

(che trái),

(che phải),

(bọc trên),

(bọc kín),

v.v. Có khi, với

một chữ Nôm nào đó ta có thể ghi nhận tình trạng “lưỡng khả”: #{}|{}, nghĩa là cả hai cách phân tích đều có phần hợp lý, tạm thời chưa nên quyết đoán một bề. Cũng có khi cấu trúc chức năng của một chữ Nôm không thể hiện ở bề nổi trực giác, mà ẩn ngầm trong chiều sâu của nó, như cấu trúc thực sự của chữ 𨑮 mười không phải là {F2: xước thập}, mà phải là {F1: mại 邁>迈> thập}. Khi gặp một thành tố biểu âm hay biểu ý là một chữ Nôm, thì âm đọc chữ Nôm này được in nghiêng. Những ký hiệu chữ cái như A1,A2, B, C1,C2, D1,D2, E1,E2, F1,F2, G1,G2 là đại diện cho các loại cấu trúc chữ Nôm, theo mô hình tổng quát được áp dụng trong tự điển này.

4.Thông tin tiếp theo ở phần “Dẫn giải” là giải nghĩa một cách ngắn gọn cho chữ Nôm đang xét. Với những chữ có nhiều câu dẫn khác nhau, cần phải phân biệt các câu dẫn mà trong đó chữ đang xét có phân biệt ít hoặc nhiều vầ nghĩa chữ. Dấu dùng để mở đầu và ngăn cách giữa các nhóm câu dẫn mà nghĩa chữ đó hoàn toàn khác nhau. Dấu dùng để ngăn cách giữa các nhóm câu dẫn mà nghĩa chữ đó ít nhiều có nét giống nhau. Trong nội bộ nhóm này, dấu là để ngăn cách các câu dẫn mà chữ đang xét có nghĩa hoàn toàn như nhau. Nếu có nhiều câu dẫn như thế, thì thứ tự của chúng trên đại thể căn cứ vào niên đại sớm muộn của tác phẩm được trích dẫn. Để tránh rườm rà, với cùng một nghĩa thì mỗi văn bản Nôm nói chung (trừ vài trượng hợp cần thiết) chỉ được trích dẫn một câu mà thôi.

5.Các câu dẫn được đưa vào tự điển dưới dạng nguyên văn chữ Nôm (qua chế bản vi tính) và được phiên chuyển sang chữ Quốc ngữ hiện hành. Khi phiên âm, đôi khi gặp những trường hợp “lưỡng khả”, soạn giả xin ghi nhận một cách và cách còn lại thì ghi trong ngoặc đơn () để độc giả tiện bề lựa chọn sử dụng. Với một số trường hợp mà về mặt âm đọc hay nghĩa chữ có phần khúc mắc, soạn giả cố gắng ghi chú thêm tại chỗ trong ngoặc vuông [] (cỡ nhỏ) cho dễ hiểu hơn. Dấu * chỉ báo hình thức tái lập âm đọc cổ, và dấu > chỉ báo sự diễn biến từ hình thức này sang hình thức kia (áp dụng cho cả hình chữ, âm chữ và nghĩa chữ).

6.Với một ngữ tố (từ đơn tiết hoặc hình tiết) Tiếng Việt có thể được thể hiện trên văn tự bằng nhiều dị thể (xét theo “cấu trúc chức năng” gồm những ký tự biểu âm biểu ý khác nhau) hoặc nhiều biến thể (xét theo “cấu trúc hình thể” khác nhau) của chữ. Trong tự điển này tất cả các dị thể và biến thể văn tự đều được ghi nhận. Nếu cần ghi nhớ một vài hình chữ đại diện cho một ngữ tố nào đó, độc giả có thể tự lựa chọn lấy theo các tiêu chí như sau: (a) Ưu tiên lựa chọn hình chữ là chữ Nôm tự tạo. (b) Ưu tiên lựa chọn hình chữ có cấu trúc chức năng hợp lý và cấu trúc hình thể gọn gàng, cân đối. (c) Ưu tiên lựa chọn hình chữ được sử dụng phổ biến hơn (có nhiều câu dẫn trong các văn bản khác nhau).

(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.299-306)

Nguyễn Quang Hồng
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm