36. Những nhân tố làm khởi phát khuynh hướng khảo chứng học thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX (TBHNH 1996)
NHỮNG NHÂN TỐ LÀM KHỞI PHÁT KHUYNH HƯỚNG KHẢO CHỨNG HỌC THẾ KỶ XVIII NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX
Nguyễn Kim Sơn
Đại học Quốc gia Hà Nội
1- Thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX nở rộ nhiều thành tựu khảo chứng, là hiện tượng đáng lưu ý trong lịch sử học thuật Trung đại Việt Nam. Phần lớn các Nho sĩ có tên tuổi, có tầm tri thức học vấn uyên bác nhất của thời đại đã tham gia vào công việc khảo chứng như Nguyễn Nghiễm, Lê Quý Đôn, Nguyễn Huy Oánh, Đặng Thái Phương, Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Bùi Huy Bích, Phạm Đình Hổ, Bùi Dương Lịch, Nguyễn Văn Siêu, Phan Huy Chú… Các tác phẩm khảo chứng của họ xuất hiện trên nhiều lĩnh vực, từ những tác phẩm loại thư có tầm bách khoa, đến những tác phẩm khảo chứng kinh điển Nho gia, khảo chứng cổ sử, địa lý, phong tục, điển chế, phương chí, tùy bút, tạp luận, ký chí…
Sự khởi phát khảo chứng học thành một vấn đề học thuật nổi bật của thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX. Bài viết này không nhằm mô tả diện mạo, đánh giá ưu nhược, định nấc cao thấp của thành tựu mà chỉ đề cập tới một khía cạnh, tức đi tìm hiểu xem do đâu mà các nhà Nho bị cuốn hút vào công việc khảo chứng đến như vậy? Những nhân tố nào đã tham gia vào việc làm khởi phát khảo chứng học thời kỳ này? Hiểu rõ những nhân tố thúc đẩy khảo chứng học (KCH) phát triển cũng là điều kiện để hiểu đặc điểm nội dung, lý giải được những hạn chế của KCH thời kỳ này.
2- Sự khởi phát của KCH do rất nhiều nhân tố, có nhân tố nội tại nền học thuật Việt Nam, như những đường hướng quan tâm, năng lực và hứng thú của kẻ sĩ, bối cảnh chính trị xã hội, kinh tế đương thời và cả những nhân tố do giao lưu văn hóa đem lại. Những nhân tố đó hợp thành một tổng thể nguyên hợp, phức tạp, đan xen. Chúng ta khó có thể tính được một cách cặn kẽ mọi nhân tố và cân nhắc nặng nhẹ để xếp thứ bậc theo tầm quan trọng. Ở đây người viết chỉ cố gắng nhận diện và trình bầy ra những nhân tố tương đối rõ và ít nhiều có chứng cứ.
3- Thế kỷ XVIII lịch sử đầy biến động. Kẻ sĩ bị phân hóa mạnh theo nhiều hướng ứng xử khác nhau. Nho gia vốn là học thuyết cứu đời chống loạn. Lý tưởng thái bình thịnh trị yêm ấm là lý tưởng cao nhất. Thời này, lý tưởng kinh tế ở những kẻ mang thân vào vòng khoa giáp bươn trải trên đường hoạn lộ bị thôi thúc từ nhiều phía. Có nhiều nguy cơ đe dọa sự tồn tại của thể chế chính trị vua chúa tồn tại không chính thống: Chúa Nguyễn Đàng Trong, tàn dư nhà Mạc, khởi nghĩa nông dân, trộm cướp, dân phiêu tán, những thế lực mang lý tưởng phò Lê diệt Trịnh, đời sống kinh tế của dân chúng khó khăn… Để tồn tại, để phò vua giúp chúa, kinh thế tế dân, họ buộc phải suy nghĩ, hành động, lựa chọn một cách tích cực hơn hẳn với bối cảnh yên bình thịnh trị. Trong khi đó tinh thần thực học, khinh thế trí dụng lại đang ảnh hưởng rộng lan tràn mạnh ở các nước đồng văn Đông Á (sẽ đề cập cụ thể ở sau). Do các nhà Nho trong triều đình Lê - Trịnh muốn khinh thế cho có hiệu quả, mớ từ chương không giúp rập được mấy cho hoạt động thực tiễn, họ buộc phải có thực học, phải có kiến văn rộng và kinh lịch của cá nhân trở nên cần thiết. Tri thức của nhà Nho, thực tài thực học đối với nhà Nho lại không phải gì khác ngoài mở tri thức kinh sử. Cái có thể dạy cho họ quản lý tốt, kinh thế tốt không phải gì khác, đó chính là cổ sử Trung Hoa và Việt Nam. Ngay từ đầu thế kỷ XVIII, một số nhà Nho rập rịch các hoạt động cải cách như Đặng Đình Tướng, Nguyễn Công Hãng, Lê Anh Tuấn đều đã phải chú ý tới việc hướng chuyển mối quan tâm của kẻ sĩ tới cái thiệt thực hữu dụng, kinh thế tế dân. Họ đã chú ý tới cải cách giáo dục, khoa cử, Nho phong sĩ khí, tinh thần học thuật, tư tưởng văn chương… Dùng học thuật để vãn hồi thái bình thịnh trị, cứu chữa thời thế đã hướng các nha sĩ đi vào nhiều lĩnh vực học thuật ngoài việc rèn rũa thơ phú văn chương, trong đó có khảo chứng học.
Các nhà Nho đã đi vào kinh học vào khảo bình cổ sử, ghi chép kiến văn, khảo cứu sưu tầm, soạn thuật điển chế, phương chí… Các sản phẩm học thuật này nhìn chung đều gắn liền với mục tiêu kinh thế và mục đích chính trị. Khảo chứng học không phải được đặt ra thành một mục tiêu trực tiếp chính diện, khảo chứng để khảo chứng, để phục vụ đấu tranh học phái, tranh biện học thuật, nhưng lại là cái tất yếu phải làm khi nhà Nho đi vào soạn thuật các tác phẩm kinh, sử, ký, chí. Những người làm công việc khảo cứu hy vọng tìm hiểu di sản quá khứ để châm chước thực thi vào hiện tại, để giữ thịnh phòng suy, để ngăn ngừa bạo loạn… Lê Quý Đôn đã nói rõ mục tiêu chính trị của mình khi viết Thư kinh diễn nghĩa: “… sách này cũng có thể để nhà vua xem luôn bên cạnh, dùng làm công cụ lấy đức trị dân”(1). Còn Ngô Thì Nhậm viết “Xuân thu quản kiến” trong những năm lánh nạn cũng đã bày tỏ mục tiêu viết sách của mình: “Người học giả nếu biết giảng cứu về lẽ ấy (vi ngôn đại nghĩa - tư tưởng chính trị của Kinh Xuân Thu, nhận rõ lẽ ấy, đến khi ra giúp đời có thể cầm cân nảy mực trong nước, xây dựng pháp đô…”(2). Như vậy có thể thấy, từ lý tưởng chính trị, học thuật đã có một trong những lý do quan trọng để hưng khởi, mà học thuật đó đã lấy khảo chứng làm một biện pháp, một phương tiện.
4- Thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX có nhiều dấu hiệu rõ nét về một xu thế chấn hưng Nho học. Các nho sĩ học giả thời kỳ này cho rằng, sở dĩ đời suy đạo yếu, loạn lạc, đạo thống không được tôn trọng, luân thường đảo lộn, nho phong sỹ khí kém cỏi là do nội dung học thuyết Nho giáo không được thấm nhuần, không được lĩnh hội đầy đủ và sâu sắc. Giáo dục và khoa cử nhiều tệ đoan, tầm trích học vẹt, hư văn sáo rỗng làm cho hệ lý luận của Nho không có đường để tỏa rạng mà thành kim chỉ nam cho hành động của kẻ sĩ. Vì vậy chấn hưng Nho học, đề cao cái học Khổng Mạnh, chấn chỉnh giáo dục khoa cử được xem là nhiệm vụ quan trọng. Đi theo hướng này, kinh học được chọn làm lĩnh vực tiên phong. Các nhà Nho đã đem “đại toàn” thay cho tóm tắt đề cương, truyện chú. Họ bắt tay vào thảo luận bình giảng kinh điển một cách chủ động và cố gắng làm cho những người đi học hiểu sâu hơn, chủ động hơn tư tưởng Nho gia từ kinh điển. Họ chuyển Nôm, diễn Nôm nhiều tác phẩm kinh, coi kinh học không chỉ của người Trung Quốc, người Việt cũng có thể tham dự, cần làm và phải làm kinh học để phục vụ cho công cuộc vãn hồi thái bình thịnh trị, hy vọng lại được thấy một thời Nho học huy hoàng như thời Hồng Đức. Rất nhiều nhà Nho đã đi vào kinh học bằng cả huấn hỗ và thảo luận nghĩa lý. Lê Quý Đôn viết Thư kinh diễn nghĩa, Dịch kinh phu thuyết, Phạm Nguyễn Du viết Luận ngữ ngu án, Ngô Thì Nhậm viết Xuân thu quản kiến, Đặng Thái Phương viết Chu dịch quốc âm giải nghĩa cùng nhiều tác phẩm kinh học của Nguyễn Huy Oánh, Bùi Huy Bích, Nguyễn Văn Siêu…Những tác phẩm kinh học nêu trên không phải là những tác phẩm khảo chứng học thuần túy tương tự như một số tác phẩm khảo chứng học đời Thanh, Trung Quốc. Họ không quan tâm tới Kim văn hay Cổ văn, không đấu tranh học phái, tranh biện tư tưởng, không biện ngụy… Nhưng trong quá trình bình luận, giảng giải, khảo cứu những công việc khảo chứng lại thường xuất hiện như một nhu cầu tất yếu. Để giảng giải nghĩa lý cho sâu, để ý kiến nhận thức của mình đưa ra có sức thuyết phục, họ buộc phải so sánh dị bản, khảo chứng về điển chương chế độ, quan chế, phong tục, địa lý, nhân vật… Điều đó tạo ra một bình diện khảo chứng phổ biến trong các tác phẩm kinh học.
5- Nhà Nho vốn trọng sử. Hệ thống tín sử của nước ta từ thế kỷ X tới thế kỷ XVIII không thực phong phú đồ sộ. Một loại sử biên niên khó bao quát được những vấn đề quan trọng của bộ mặt quá khứ. Trong điều kiện cổ sử còn nhiều chuyện u u minh minh hay quá vắn tắt, trước sự thôi thúc của lý tưởng kinh thế, niềm say mê hào hứng do nhiều nhân tố mang lại, với tinh thần cầu thị và duy lý cao, muốn loại bỏ những nhầm lẫn sai sót, các nhà Nho tìm thấy đây là một lĩnh vực hấp dẫn, nơi có thể thi thố tài năng học vấn. Hơn thế nữa, tinh thần trọng sử lại gắn chặt với mục đích kinh thế, nó phối hợp với kinh học để truy tìm nguồn gốc của đạo sĩ. Nhà Nho đi vào sử học rầm rộ theo hai hướng:
- Bình sử, thảo luận, đánh giá về những sự kiện, những nhân vật, những vấn đề, những án của cổ sử Trung Quốc và Việt Nam để tìm những bài học thực tế hữu ích.
- Khảo cứu để đính chính, sửa chữa sai sót, những chỗ nhầm lẫn của cổ sử, truy tìm bộ mặt thực của lịch sử một cách duy lý.
Cả hai hướng này không tách rời nhau và đều dẫn đến công việc khảo chứng. Vì trong khi bình luận, biện bác công việc khảo chứng tất yếu được huy động. Tương tự như trong khảo chứng kinh học, các nhà Nho khảo chứng sử học cũng cần khảo chứng điển chế qua chức nhân vật, địa lý phong tục… Những chỗ cần thay đổi cách hiểu, cách đánh giá, thay đổi một quan niệm, không có cách gì khác ngoài khảo chứng tư liệu. Trong các tác phẩm bình sử, việc so sánh tư liệu giữa các thời, các dị bản, so sánh tư liệu của ta và của Trung Quốc… thường xuyên được huy động. Đồng thời cũng trong công việc khảo chứng cổ sử các thao tác sưu tập, xử lý tư liệu ở mọi dạng, văn bia, phả ký, dã sử, thơ văn… cũng được áp dụng. Nội dung và phương pháp khảo chứng ở các tác phẩm Quần thư khảo biện, Lê triều thông sử của Lê Quý Đôn, Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ, Việt sử bị lãm của Nguyễn Nghiêm đã nói điều đó.
6- Những kế hoạch của triều đình có lợi cho khảo chứng học.
Những hoạt động của Nhà nước, chủ trương của triều đình có ảnh hưởng khá lớn tới khảo chứng học. Ở ta không có những kế hoạch đồ sộ tập hợp hàng ngàn nhà Nho uyên bác để làm những công trình như Tứ khố kế hoạch, Cổ kim đồ thư tập thành mà những kế hoạch đó trở thành những trung tâm, những đại bản doanh của khảo chứng học đời Thanh. Tuy nhiên dưới thời của một vài vị chúa có khát vọng đại định và ý chí tự cường đầu thế kỷ XVIII, nhiều chủ trương chấn hưng học thuật đã được thực thi. Chẳng hạn chủ trương tổ chức khắc in và ban bố nhiều sách vở, từ vị do nhóm Phạm Khiêm Ích đôn đốc, chủ trương mua sách Trung Quốc, nhiều lần lệnh cho sưu tập sách vở dân gian phục vụ cho việc biên soạn quốc sử, chủ trương cho soạn Hội điển (mặc dù công việc này do Bùi Huy Bích chỉ đạo vẫn dở dang). Việc lập thư viện trong phủ Chúa với nhiều quan chức được bổ nhiệm vào việc soạn thuật tu chình sách vở. Ngoài ra tư liệu còn cho thấy, một số hợp tuyển thơ văn thời kỳ này do cá nhân Nho sĩ tiến hành, nhưng cũng được thực thi theo chỉ dụ của hoàng đế. Ngoài ra, những chủ trương chấn chỉnh giáo dục và khoa cử, một vài thay đổi ở Quốc tử giám… đều gián tiếp tác động tới khảo chứng học.
8- Thế kỷ XVIII đầu thế XIX, xuất hiện nhu cầu tổng kết văn hiến dân tộc sau một chặng đường dài phát triển. Tinh thần tập đại thành xuất hiện ở những Nho sĩ ưu tú và uyên bác nhất. Với tinh thần tự nhiệm và say mê, nhiều người đã sưu tập văn hiến cổ, điển chương chế độ của các triều tập hợp lại trong những bộ sách lớn. Lê Quý Đôn viết một số sách thuộc loại này như Đại Việt thông sử, Kiến văn tiểu lục, Vân đài loại ngữ và hai hợp tuyển một thơ, một văn Toàn Việt thi lục và Hoàng Việt văn hải. Một vài công trình trong số đó đã biên soạn theo lối loại thư, có quy mô bách khoa. Trong quá trình tập hợp tư liệu, sắp xếp tu chỉnh kiến văn phục vụ cho công việc đại thành đó, công việc khảo chứng cũng tất yếu xuất hiện.
9- Điều kiện thư tịch
Đối voíư khảo chứng học, tư liệu vừa là phương tiện vừa là đối tượng, không có tư liệu không có khảo chứng học. Trong sự khởi phát của khảo chứng học thế kỷ 18 nửa đầu thế kỷ 19, điều kiện tư liệu thư tịch có đóng góp phần rất lớn. Thời kỳ này nguồn thư tịch được bổ sung đáng kể từ nhiều nguồn:
- Sách mới được biên soạn, in ấn.
- Những đợt thu gom truy tìm sách của triều đình.
- Nguồn sách Trung Quốc sang, đặc biệt là sách làm đời Thanh do nhiều nguồn truyền sang Việt Nam.
- Thế kỷ 18 hình thành nhiều dòng họ đại khoa, nhiều đời đỗ đạt trở thành những trung tâm chứa sách, chẳng hạn gia đình họ Nguyễn ở Trường Lưu (Nguyễn Huy Oánh) trong nhà có hàng vạn quyển sách(3).
- Thư viện phủ Chúa Trịnh tập hợp được nhiều sách… Điều kiện thư tịch có khởi sắc tạo điều kiện thuận lợi cho khảo chứng. Tuy nhiên sự khởi sắc này cũng không bù đắp được sự trống vắng của nguồn cổ thư tịch nước nhà đã vì nhiều lý do khác nhau mà thất tán mất. Tình hình tư liệu thư tịch như vậy chắc chắn có làm hạn chế nhiều tới thành tựu đạt được của KCH thời kỳ này.
10- Tiếp nhận ảnh hưởng của KCH đời Thanh Trung Quốc:
Thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX, ảnh hưởng bên ngoài vào Việt Nam chủ yếu vẫn là Trung Quốc. Đời Thanh khảo chứng học rất phát triển, để lại nhiều thành tựu học thuật to lớn.
Thế kỷ XVIII, quan hệ Việt - Trung có những nét đặc thù. Đây là thời kỳ chiến tranh, loạn lạc, chính trị xã hội bất ổn định, nhưng quan hệ bang giao hai nước lại không bị gián đoạn. Thanh triều vốn gốc là người ngoài Hoa hạ vào làm chúa Trung Nguyên. Phải hết sức vất vả triều Thanh mới đàn áp được sự phản kháng của người Hán. Do đó triều Thanh không chỉ cần sự thần phục của người Trung Hoa mà còn cần cả sự thừa nhận, thần phục tôn trọng của phên dậu, lân bang bằng cách cống nạp, nhận mệnh. Họ muốn có một sự ảnh hưởng văn hóa mang dấu ấn Đại Thanh ra lân bang. Việc ban một số bộ sách mới soạn đời Thanh cho triều đình Lê - Trịnh là trong ý đồ này (Chẳng hạn năm 1723 nhà Thanh ban cho nhà Lê 1 bộ Uyên giám loại hàm, gồm 4509 quyển phân làm 43 bộ, gồm 1536 mục nhỏ. Bộ này làm xong năm 1710. Năm 1761 Lê Quý Đôn đi sứ lại mang về được bộ sách này). Hơn nữa nhà Thanh cần phối hợp nhà Lê - Trịnh để dẹp trừ tàn dư những kẻ nổi loạn bài Thanh phục Minh còn hoạt động ở vùng biên giới, Trịnh cần Thanh để dẹp tàn Mạc… Những mối quan tâm lớn đó khiến hai phía đều có sứ thần đi lại liên tục đều đặn. Theo thống kê của chúng tôi, trong khoảng thời gian gần 100 năm 1682 đến 1780, phía Việt Nam có trên 20 phái đoàn đi sứ nhà Thanh. Như vậy cứ bình quân gần 5 năm lại có 1 chuyến đi sứ. Trong số trên 20 chuyến đi đó có 63 vị chánh phó sứ và họ đều là những người có ít nhiều để lại tên tuổi trong lĩnh vực học thuật thế kỷ 18. Khi họ đi sứ về hầu hết đều mang theo sách Bắc sứ thông lục của Lê Quý Đôn còn ghi lại rõ ràng về việc mua sách mang về của các sứ thần Việt Nam. Trong số sách họ mang về có nhiều cuốn là thành tựu của KCH đời Thanh. Ngoài ra triều đình Lê - Trịnh còn có chủ trương mua sách từ Trung Quốc mang về. Một số cựu thần nhà Minh chạy loạn sang vùng Bắc Hà, thương nhân qua lại đều có thể dẫn tới việc di chuyển thư tịch từ Trung Quốc sang, nhưng số này hiện ta khó khảo cứu được.
Qua nghiên cứu nội dụng các trước tác thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, đều thấp thoáng chỗ này hay chỗ khác các tác phẩm khảo chứng học đời Thanh. Chẳng hạn trong Thư kinh diễn nghĩa Lê Quý Đôn nhiều lần nhắc tới, trích dẫn hoặc tỏ ý tán thành với việc khảo chứng của Cố Viêm Võ, với một ông tổ của KCH đời Thanh. Lê Quý Đôn trích nhiều đoạn trong Nhật tri lục của Cố Viêm Võ. Sau Lê Quý Đôn, đến tác phẩm Đại Việt địa dư toàn biên, ta thấy Nguyễn Văn Siêu trích lại toàn bộ cả một thiên An Nam cương vực bị lục trong tác phẩm Thiên hạ quận quốc lợi bệnh thư nổi tiếng của Cố Viêm Võ… Trong Xuân thu quản kiến, việc phê phán gay gắt Tả truyện cổ văn của Ngô Thì Nhậm là dấu hiệu rõ rệt việc tiếp nhận ảnh hưởng của cuộc đấu tranh kim - cổ văn trong KCH đời Thanh…
Rõ ràng KCH đời Thanh đã tác động khá mạnh tới Nho sĩ Việt Nam. Nó kích thích, thôi thúc các nhà Nho Việt Nam với tinh thần “vô tốn Trung Hoa” muốn làm được như người Trung Hoa. Những bộ loại thư đồ sộ thúc giục ý định tập đại thành, làm loại thư ở Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú. Khảo chứng học đời Thanh chỉ ra hàng loạt cái sai, cái ngụy của kinh điển Nho giáo, của cổ sử khiến các nhà Nho ta cũng mạnh dạn hơn trong việc đi vào khảo chứng kinh, sử. Những thay đổi do khảo chứng đời Thanh mang lại cũng buộc các Nho sĩ Việt Nam phải suy nghĩ lại nhiều chuyện, “thiên kinh địa nghĩa” có chỗ cũng phải sửa sang chấn chỉnh lại. Đồng thời các tác phẩm khảo chứng đời Thanh cũng cung cấp cho các nhà Nho Việt Nam thêm nhiều tư liệu và ảnh hưởng tới họ cả về phương pháp khảo chứng và tổ chức tác phẩm.
Kết luận
- Nhà Nho Việt Nam ít làm công việc học thuật như huấn hỗ, khảo chứng. Không khí học thuật chung của nhiều thế kỷ là tiếp thu những thành tựu Nho học của người Trung Quốc. Nhà Nho Việt Nam mang thuộc tính văn nhân hơn là học giả. Đến thế kỷ XVIII, rất nhiều nhân tố khác nhau đã cùng hợp lực thúc đẩy các nho sĩ hứng thú với công việc khảo chứng. Kết quả của niềm say mê khảo chứng ở họ đã làm thay đổi ít nhiều bộ mặt học thuật của thời đại, đồng thời nó cũng đã có đóng góp không nhỏ vào lịch sử văn hiến nước nhà.
- Sự khởi phát của KCH thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX là kết quả của sự kết hợp nhiều nhân tố, cả do chính sự vận động nội tại của Nho học Việt Nam lẫn do giao lưu văn hóa.
- Khó có thể nói bài viết này đã bao quát được hết những nhân tố quan trọng có đóng góp lớn tới việc làm khởi phát khảo chứng học. Cũng khó có thể cân nhắc được mức độ quan trọng và sức đóng góp của nó đối với khảo chứng học. Phân tách chúng ra thành các nhân tố khác nhau chỉ là hết sức tương đối. Giữa các nhân tố kể trên rất có thể chúng còn nguyên nhân và kết quả của nhau, trong tác thúc đẩy lẫn nhau.
- Những nhân tố đem lại sự khởi phát của khảo chứng học như chúng tôi đã sơ lược mô tả ở trên cũng đã báo hiệu mức độ của thành tựu, đường hướng phát triển, cũng như những hạn chế của khảo chứng học thời kỳ này.
Chú thích:
1. Tựa Thư kinh diễn nghĩa
2. Tựa Xuân thu quản kiến
3. Theo Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch.
Thông báo Hán Nôm học 1996 ( tr.350-361)