VI | EN
36. Về hai tấm bia hiện được bảo quản tại nhà thờ họ Đào xã Xuân Thụ, Từ Sơn, Bắc Ninh. (TBHNH 2012)
36. Về hai tấm bia hiện được bảo quản tại nhà thờ họ Đào xã Xuân Thụ, Từ Sơn, Bắc Ninh. (TBHNH 2012)

VỀ HAI TẤM BIA HIỆN ĐƯỢC BẢO QUẢN TẠI

NHÀ THỜ HỌ ĐÀO XÃ XUÂN THỤ, TỪ SƠN, BẮC NINH

ĐỖ DANH HUẤN - NGUYỄN HỮU TÂM

Viện Sử học

1. văn bia số 1:

陶 族 寄 忌 碑 記 (Đào tộc ký kỵ bi ký / Bài ký trên bia ghi việc gửi giỗ của họ Đào)

Bia hin đưc dng ti bên phi nhà th h Đào, cao 88 cm, rng 53,5 cm, bia dy 11cm, gm 20 dòng ch Hán, mi dòng trung bình 21 ch, tng cng khong 802 ch bao gm chữ Hán và một số chữ Nôm về tên đất, tên người, ch viết chân phương, có mt s ch hơi m. Niên đi dng bia năm T Đc th 18 (1865).

 

Dch nghĩa:

BÀI KÝ TRÊN BIA GHI VIC GI GI CA H ĐÀO

Từ khi con người bắt đầu việc tu thân xử thế đến nay, đức hiếu lớn nhất của người con đối với cha mẹ là phải hết lòng với ba việc: phụng dưỡng, tang ma và thờ tự. Mà việc thờ tự kéo dài mãi các đời thì dựa vào người xuất thế mở mang cơ nghiệp, nếu không sự phụng thờ hàng năm phải gửi vào người con, mới có thể yên tâm giữ được tấm lòng.

Huyện ta ngày nay tên là Thụ Chương, vốn dựa vào tên xưa là Đậu Thôn, có một vị tăng họ Đào trù tính lo liệu hương khói trăm năm cho song thân, đã cùng gia tộc bàn định và khắc vào bia đá. Vị tăng đó nhờ anh em và con cháu trong dòng tộc (đại diện) là ông Đào Văn Lý kê cứu văn chương, nội dung viết rằng: dòng họ Đào ngày xưa có tổ đời thứ hai là cụ Quán Không đến trước cụ Phúc Viễn nhiều đời dựa vào đức độ và phẩm hạnh, thông Nho y và thành đạt trong con đường làm quan. Sau đó có người xuất gia làm tăng, ban đầu ở chùa, có học trò theo anh họ và cha mẹ chỉ có người con là (Đào) Văn Thành. Khi Văn Thành mới 12 tuổi đã xuất gia làm Thị giả(1) phục vụ Thiền sư trụ trì tại chùa Bình Đăng. Văn Thành rất đam mê say sưa với kinh điển Phật giáo, ngay từ nhỏ đã như vậy, nếu như muốn ngăn trở sự đam mê đó cũng không được. Khi Văn Thành 20 tuổi đã được thụ Thập giới(2)làm Sa di(3). Năm 27 tuổi, Thiền sư giao cho trụ trì chùa Đại Ân. Một hôm thỉnh mời các vị cao tăng lập đàn tràng thụ giới làm Tất đãng tăng. Văn Thành 37 tuổi, Thiền sư ở chùa Bình Đăng tạ thế, Văn Thành lại tiếp tục trụ trì tại chùa đó. Tuy thân đã ở chùa, nhưng Văn Thành vẫn không lúc nào không hoài niệm đến việc báo hiếu trong nhà.

Vào ngày tháng 3 năm thứ 30 triều vua Tự Đức (1877), Văn Thành tự xuất 60 quan tiền giao cho tộc trưởng, cùng với dòng họ tu bổ lại từ đường Đại tông. Cũng vào ngày tháng năm đó (1877), lại quy định giao số ruộng diện tích 1 mẫu, 2 sào cho dòng họ, trong đó 6 sào ruộng giỗ được dùng vào ngày giỗ hàng năm của song thân, giao 3 sào ruộng để chi dùng chung trong dòng họ, 2 sào ruộng khác được dùng vào lễ yết cáo trước một ngày, 1 sào ruộng nữa được dùng vào dịp tết Nguyên đán và lễ Thường tân (lễ Cơm mới). Hàng năm tiến hành tế tự song thân của sư Văn Thành vào mùa xuân, mùa thu được phối hưởng ở ban bên phải của từ đường, mọi người trong tộc họ đều thỏa thuận không có ý kiến gì khác, xin được ghi thành văn tự để lưu giữ mãi. Tôi nghĩ lòng thành như kẻ sĩ nói: đấy thật là chân tu. Người đã có công phu nhập thế cửa Thiền, ai mà chẳng như vậy, Cụ sư đã nghĩ đến vậy thì cũng như tình cảm của con người mà trung thành với mọi lễ vậy.

Từng nghe người xưa nói, tấm lòng chân thành và thiện tâm là đạo để vui vẻ vậy, cho nên tôi làm bài ký này.

Hoàng Tư Hiên tự là Chỉ Phong giữ chức Phụng Nghị đại phu, Giám sát Đô Ngự sử viện Đô sát đã nghỉ hưu, người ở làng bên biên soạn.

Hiển khảo (cụ ông) Đào công tự Vĩnh, hiệu là Phúc Bảo, giỗ vào ngày mùng 1, tháng 4.

Hiển tỷ (cụ bà), là vợ cả của Đào công tự Vĩnh, họ Lý, hiệu là Từ Hảo, giỗ vào ngày mùng 8, tháng 4.

Ruộng giỗ, một thửa tại Đồng Trước, diện tích 3 sào, 11 thước, 5 tấc. Một thửa tại xứ Bờ Đá, diện tích 2 sào, 6 thước.

Ruộng họ, một thửa tại Cửa Đình, diện tích 1 sào, 7 thước, 5 tấc. Một thửa tại xứ Chó Nằm, diện tích 1 sào, 12 thước.

Hai thửa ruộng lễ yết cáo ở Cửa Đình cộng lại, diện tích là 2 sào, 5 thước,

Một thửa ruộng dùng cho tết Nguyên đán, lễ Thường tân, tại Vườn Quân, diện tích 14 thước.

Ruộng giỗ hàng năm diện tích là 6 sào được dòng họ chiếu theo số tuổi giao cho luân canh cày cấy, mỗi một giỗ 3 sào ruộng, đều thu mỗi sào 2 thúng thóc, trừ đi phần nộp tô bằng tiền, còn lại dùng vào việc tế lễ.

Đến giỗ của mỗi người thì phải biện lễ gồm: hai cỗ xôi gà, mỗi con gà nặng 2,5kg, xôi 2 cỗ 5 đấu (gạo nếp), mỗi đấu 15 tiền, rượu 4 mạch tiền, trầu cau 40 khẩu, tiền vàng 2 trăm, tất cả đều sắp thành 2 lễ, 1 lễ cúng tiên tổ, 1 lễ tế các cụ hậu trong dòng họ. Khi đó, nam đinh từ 4 tuổi trở lên đều được tập trung về từ đường của dòng họ để tiến hành tế lễ, khi lễ xong, gia đình người làm lễ tùy nghi mà ăn uống.

Ruộng họ diện tích là 3 sào được dòng họ chiếu theo số tuổi giao cho luân canh cày cấy, đều thu mỗi sào ruộng 2 thúng thóc, trừ đi phần nộp tô bằng tiền, còn lại để chi dùng việc chung;

Ruộng lễ yết cáo và tết Nguyên đán, lễ Thường tân cộng lại là 3 sào, giao cho Trưởng họ canh tác, đều thu mỗi sào ruộng 2 thúng thóc, trong đó có 1 sào ruộng, Trưởng họ chi dùng các tết Nguyên đán và lễ Thường tân, còn lại 2 sào chi dùng vào Lễ yết cáo của hai ngày giỗ hàng năm. Trưởng tộc làm lễ, mỗi chi đều cử ra một viên Trưởng chi đến tham gia làm lễ.

Ngày 16, tháng 11, năm thứ 18 triều vua Tự Đức (1865).

Toàn họ cùng ký.

2. Văn bia số 2:

陶 族 譜 記 碑 (Đào tộc phả ký bi / Bia ghi phả tộc họ Đào)

Bia hiện được dựng tại bên trái nhà thờ họ Đào, cao 88cm, rộng 58cm, bia dầy 11cm, gồm 15 dòng chữ Hán, mỗi dòng trung bình 38 chữ, tổng cộng khoảng hơn 580 chữ bao gồm chữ Hán và một số chữ Nôm về tên đất, tên người, chữ viết chân phương, dễ đọc. Niên đại dựng bia năm Tự Đức thứ 34 (1881).

Dịch nghĩa:

BIA GHI TỘC PHẢ HỌ ĐÀO

Phần Tiền biên gia phả đại lược viết rằng: từ khi quân Ngô khởi binh(4) nhân dân bị tan hoang lưu tán, còn lại hai cụ người họ Đào và họ Nguyễn tên là Đào Quán Không và Nguyễn Vô Vi. Cụ họ Đào gặp thời buổi tao loạn, nhà cửa chưa định cư, gia thất chưa thành, sau đó lấy vợ là người thuộc huyện Đương Đạo xứ Sơn Tây. Cụ cùng với cụ họ Nguyễn chiếm riêng một khu đất đẹp tại huyện Đông Ngàn xứ Kinh Bắc. Khu đất này có hình thế như Phượng thành, dòng sông Tương giang nước tràn đầy, thế đất như hạt đậu đặt trên mâm bồng mà chỉ mình đứng cao. Cho nên các cụ đặt tên cho vùng đất này là thôn Đậu (豆村), phụ thêm hai thôn của Cẩm Chương. Cho đến sau này thời thế biến đổi, đặt riêng thành 1 xã, tên gọi của xã có khác đi mà tên của thôn không dám thay. Vì thế, mới thêm bộ thốn () vào bên trái, thêm bộ mộc () vào bên phải chữ đậu () hợp thành chữ Thụ (), để thuật lại ý ban đầu của tiền nhân. Người đời sau khi hiểu được ý nghĩa đó, sẽ biết được con cháu của họ Đào ta thịnh vượng, cũng bởi do cây lớn trồng được nơi đắc địa mới có thể đơm hoa kết trái, tuy có tới hàng chục triệu đời cũng không thể thay đổi vậy

Tính từ khi cụ tổ tên hiệu là Quán Không, có vợ họ Nguyễn, sinh được con trai tên hiệu là Phương Chính. Cụ Phương Chính có vợ họ Nguyễn, sinh được ba con trai. Con trai trưởng giữ chức Thiêm đô Chỉ huy đội Lực sĩ, con trai thứ hai là Giám sinh Quốc tử giám, tên là Xuân Bút, con trai út tên hiệu là Phúc Cao, được phụng mệnh giữ chức Tổng binh Thiêm sự xứ Cao Bằng. Cụ Phúc Cao có vợ họ Nguyễn tên hiệu là Từ Nhu, sinh được năm người con trai. Con trai trưởng giữ chức Thượng thư Bộ Hộ, con trai thứ hai tên hiệu là Đôn Phác, con trai thứ ba tên hiệu là Phúc Vị, con trai thứ tư giữ chức Chỉ huy đội Uy Dũng, con trai thứ năm giữ chức Thiêm sự Bộ Hộ.

Cụ trưởng tên hiệu là Phúc Hòa, vợ người họ Nguyễn tên hiệu là Từ Ái, sinh được người con trai tên hiệu là Phúc Lâm, từng giữ chức Tri huyện. Cụ có vợ người họ Ngô, tên hiệu là Từ Đức, sinh được người con trai tên hiệu là Phúc Khang. Cụ Phúc Khang giữ chức Thượng thư Bộ Lại. Cụ có vợ người họ Nguyễn tên hiệu là Từ An, sinh được một con gái tên húy là Biện, một con trai tên húy là Tịch, tên hiệu là Phúc Cơ. Cụ Phúc Cơ mất năm Quý Mùi, hưởng thọ 58 tuổi, giỗ ngày 28 tháng 7, vợ cụ người họ Nguyễn tên húy là Mậu, tên hiệu là Từ Hảo, mất năm Giáp Thìn, hưởng thọ 91 tuổi, giỗ ngày 24 tháng 2.

Cụ trước kia có tước hiệu là Lực sĩ Nhân Dương bá phụng nhận giữ chức ở xứ Thanh Hoa, sau sinh được 3 con trai. Con trưởng tên húy là Chẩm, con trai thứ hai tên húy là Đệ, con trai thứ ba tên húy là Đồ.

Thế thứ, tính danh các cụ thuộc chi trưởng như sau:

Cụ Đào công tên tự là Phúc Thuận, cụ bà tên hiệu là Từ Năng

Cụ Đào công tên tự là Phúc Nhẫn, cụ bà tên hiệu là Từ Khoan.

Cụ Đào công tên tự là Phúc Thuần, cụ bà tên hiệu là Từ Cẩn.

Cụ Đào công tên tự là Phúc Nghĩa, cụ bà tên hiệu là Từ Quang.

Cụ Đào công tên tự là Phúc Cần, cụ bà tên hiệu là Từ Tín.

Cụ Đào công tên tự là Phúc Minh, giỗ vào ngày 29, tháng 5. Cụ bà cả tên hiệu là Diệu Bằng, giỗ vào ngày 12, tháng 4. Cụ bà hai hiệu là Từ Phượng, giỗ vào ngày 17, tháng 8.

Cụ Đào công tên tự là Phúc Trực, cụ bà tên hiệu là Mỹ Chính.

Cụ Đào Văn Chấp tên tự là Trung Hiền.

Cụ Phúc Minh đã để lại ruộng cho dòng họ với diện tích 1 mẫu 2 sào, tại đồng Tam Lư, 8 sào tại địa phận của xã, 4 sào. Hàng năm (tộc họ) thu hoạch hoa lợi của ruộng, trừ tiền phải nộp tô, số còn lại lo biện vào hai dịp tế lễ Chạp tổ và Nguyên đán, hợp tế các vị tiên tổ tại nhà chi trưởng.

Ngày tốt, tháng 2, triều vua Tự Đức thứ 34 (1881).  


Chú thích:

(1). 侍者Thị giả: tăng chức Phật giáo, đảm nhiệm công việc phục vụ nhà sư trụ trì trong chùa viện. Có nhiều chức Thị giả: như Thiêu hương Thị giả (thắp hương cho sự trụ trì khi làm pháp sự), Thỉnh khách Thị giả (giúp sư trụ trì tiếp đón khách), Thang dược Thị giả (giữ việc ăn uống, chữa trị thuốc men trong chùa)... Lão Tử -Thịnh Lê: Từ điển Nho-Phật- Đạo, Nxb.Văn học, H, 2001, tr.1430.

(2). 十戒 Thập giới: mười điều răn giới của Phật giáo gồm: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói xằng, không uống rượu, không dùng nước hoa, trang sức lòe loẹt, không xem ca múa, không dùng giường to đẹp, không tích cóp vàng bạc, châu báu, không ăn khác thời. Lão Tử -Thịnh Lê: Từ điển Nho-Phật- Đạo, Nxb.Văn học, H, 2001, tr.1391.

(3). 沙 彌Sa di: chỉ con trai xuất gia từ 7 tuổi trở lên, 20 tuổi trở xuống, đã thụ "Thập giới", tục gọi là Tiểu Hòa thượng.

(4). Chúng tôi cho rằng người soạn muốn nhắc tới sự kiện Ngô Quyền chiến thắng quân xâm lược Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, giành lại độc lập tự chủ cho đất nước ta.

(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.307-313)

Đỗ Danh Huấn - Nguyễn Hữu Tâm
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm