37. Quốc sử tiểu học lược biên của Phạm Huy Hổ - Một cuốn sách lịch sử có giá trị (TBHNH 2012)
37. Quốc sử tiểu học lược biên của Phạm Huy Hổ - Một cuốn sách lịch sử có giá trị (TBHNH 2012)
QUỐC SỬ TIỂU HỌC LƯỢC BIÊN CỦA
PHẠM HUY HỔ - MỘT CUỐN SÁCH LỊCH SỬ CÓ GIÁ TRỊ
ĐÀO THỊ HUỆ
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Việc biên soạn lịch sử theo truyền thống thường được các soạn giả dựa vào một số nguyên tắc đó là soạn theo biên niên: “nghĩa là năm nào tháng nào có chuyện gì quan trọng thì nhà làm sử chép vào sách”(1); biên soạn theo kỷ truyện: tức biên soạn theo các triều đại và cuối cùng là biên soạn theo cương mục. Còn với Quốc sử tiểu học lược biên của tác giả Phạm Huy Hổ tuy vẫn còn các dấu ấn của việc biên soạn lịch sử theo truyền thống như: soạn theo kỷ truyện, cương mục… nhưng đã có tính đổi mới đáng lưu ý mà trong các bộ chuyên sử trước đây như: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt thông sử, Lịch triều hiến chương loại chí… hay ngay cả bộ sử Khâm định Việt sử thông giám cương mục mà Phạm Huy Hổ dựa vào để biên soạn đều không có.
Quốc sử tiểu học lược biên do Phạm Huy Hổ biên tập vào mùa đông Duy Tân năm thứ nhất Đinh Mùi (1907), tóm tắt sơ lược lịch sử Việt Nam từ thời Hồng Bàng đến thời Gia Long dựa theo bộ sử Quốc triều khâm định Việt sử thông giám cương mục (gọi tắt là Cương mục) là bộ chính sử của nhà Nguyễn do Quốc sử quán triều Nguyễn soạn thảo vào khoảng năm 1856-1881. Nhưng cuốn sách đã được tác giả biên tập thêm bốn phần nữa đó là: Quốc sử, Quốc hiệu, Quốc dân, Quốc giới để thuận tiện cho người mới học, đọc sử nắm bắt được những chỗ quan trọng. Và hơn nữa, Quốc sử tiểu học lược biên chính là sách dạy lịch sử dành cho hệ Tiểu học nằm trong chương trình cải lương giáo dục khoa cử đầu thế kỷ XX.
Hiện Quốc sử tiểu học lược biên đang được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm kí hiệu A.1327; là một bản viết tay gồm 3 chương (hay 3 quyển), dày 286 trang, kích thước 29x15,5cm và 1 phàm lệ. Mỗi chương trong cuốn sách lại được chia thành các tiết, mỗi tiết đều có tên đề mục và được ghi ở đầu trang, tổng cộng cả 3 quyển là 204 tiết. Cụ thể cho từng quyển là: Quyển 1: gồm 56 tiết; Quyển 2: gồm 79 tiết; Quyển 3: gồm 79 tiết. Ví dụ: tiết 1 của Quyển 1 có đề mục là: “經 陽 我 越 首 君”(Kinh Dương Vương ngã Việt thủ quân - Kinh Dương Vương là vị vua đầu tiên của nước Việt ta).
Tác giả Phạm Huy Hổ đã dựa vào cuốn sách Quốc sử tiểu học lược biên để biên tập Tiểu học quốc sử lược biên là sách dạy lịch sử Việt Nam (từ thời Hồng Bàng đến thời Gia Long), soạn cho chương trình Tiểu học, gồm 205 tiết, có phần nói về quốc hiệu, tên đất và giới hạn. Tiểu học quốc sử lược biên do Đỗ Văn Tâm hiệu đính cũng đang được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm kí hiệu A.329; là 1 bản chép tay, dầy 248 trang, kích thước 29x15, gồm 1 bài tựa; 1 phàm lệ; 1 dẫn.
Còn về phần tác giả Phạm Huy Hổ chúng tôi đã tiến hành khảo cứu qua các cuốn sách để tìm hiểu thân thế, sự nghiệp của ông, nhưng không tìm thấy những ghi chép gì về tác giả, chỉ biết rằng Phạm Huy Hổ sống vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, và có một số bài viết trên Tạp chí Nam Phong như:
1. Việt Nam ta biết chữ Hán từ đời nào?11/1919, tr.416 - 419.
2. Mấy nghĩa nên bàn lại, 1/1921, tr46 - 55.
Trong bài viết này chúng tôi chỉ xin trích dịch phần quốc hiệu của cuốn sách Quốc sử tiểu học lược biên. Đây là một trong những điểm đổi mới trong việc biên soạn lịch sử của tác giả Phạm Huy Hổ.
國號
凡人同地而居,同祖所出,同文同風,則謂之同爲一國.旣有國,則無大無小無强無弱,莫不各有其國號以分別之.我越距今
(維新丁未元年)四千七百八十六年;始我鴻龐氏經陽王受帝明封居五嶺,未有國名;二傳貉龍君徙宣光,號貉龍國;三傳雄王来峯州,號文郎國;至蜀安陽王號改甌貉國.然于距今四千二百六十年間,越裳交南等名號已出現於北國史(帝堯史戊申五年,越裳氏来獻白龜,書堯典:堯命羲叔宅南交,理南).越裳者,雄王所設十五部中之一.南交者,南方之交阯也.故自此北人稱呼或本國自號.昔倣因之總不外越南交三字.春秋戰國辰,北人稱我爲百粵(粵越通).秦置三郡號嶺南.趙佗稱帝辰,號南越.漢武帝置九郡號交阯.漢獻帝號交州.吴孫皓割合浦以南四郡亦號交州.唐高宗置十二州號安南都護府.逯我吴王權立國後丁先皇號大瞿越.李聖宗號大越.李英宗號安南.黎太祖仍號大越.國朝世祖高皇帝嘉隆初號越南;聖祖明命號大南.今屬貴法國保護,遵用嘉隆年號越南,而内分爲三:曰南圻(邊和以南諸省),曰中圻(自平順至清化),曰北圻(寧平以北諸省)合與高綿哀牢二國,總號東洋五處,而爲阿彌南之一最大國之.中國書譯爲亞细亞州.當改本國譯爲阿彌.
Dịch nghĩa:
Phàm con người sống trên cùng mảnh đất, cùng nơi tổ tiên sinh ra, cùng văn hóa, cùng phong tục đều gọi là cùng một nước. Đã có nước, không kể lớn nhỏ, không kể mạnh yếu, không có nước nào là không có tên nước để phân biệt. Nước Việt ta đến nay (năm Đinh Mùi niên hiệu Duy Tân năm thứ nhất) đã trải qua 4786 năm. Đầu tiên họ Hồng Bàng ta Kinh Dương Vương vâng nhận Đế Minh phong cho ở Ngũ Lĩnh, chưa có tên nước. Tiếp theo truyền rằng: Lạc Long Quân đến Tuyên Quang, tên nước là Lạc Long. Sau nữa truyền rằng: Hùng Vương đến Phong Châu, tên nước là Văn Lang. Đến Thục An Dương Vương, tên nước đổi thành Âu Lạc. Do đó đến nay khoảng 4260 năm, những cái tên gọi như Việt Thường, Nam Giao đã xuất hiện ở sử nước Bắc (Sử Đế Nghiêu Mậu Thân năm thứ năm họ Việt Thường đến dâng Bạch Long, sách Nghiêu điển có viết: Nghiêu lệnh cho Nghĩa Thúc ở Nam Giao sửa là Nam Ngoa). Việt Thường là một trong mười năm bộ mà Hùng Vương đặt. Nam Giao là Giao Chỉ ở phía Nam. Cho nên từ đó người phương Bắc gọi hoặc nước ta tự gọi. Xưa phỏng đoán dựa vào tất cả đó mà không ngoài ba chữ: Việt, Nam, Giao. Thời Xuân Thu Chiến Quốc người phương Bắc gọi ta là Bách Việt (chữ 粵dùng thông với chữ 越). Thời Tần đặt làm ba quận gọi là Lĩnh Nam. Thời Triệu Đà xưng đế gọi là Nam Việt. Thời Hán Vũ Đế đặt làm chín quận gọi là quận Giao Chỉ. Thời Hán Hiến Đế gọi là Giao Châu. Thời Ngô Tôn Hạo cắt Hợp Phố làm quận Nam Tứ cũng gọi là Giao Châu. Thời Đường Cao Tông đặt làm 12 châu gọi là An Nam Đô Hộ Phủ. Đến thời Ngô Vương Quyền ta dựng nước, sau thời Đinh Tiên Hoàng gọi là Đại Cồ Việt. Thời Lý Thánh Tông gọi là Đại Việt. Thời Lý Anh Tông gọi là An Nam. Thời Lê Thái Tổ vẫn gọi là Đại Việt. Thời quốc triều Thế tổ Cao Hoàng đế Gia Long ban đầu gọi là Việt Nam. Thời thánh tổ Minh Mệnh gọi là Đại Việt. Nay thuộc sự bảo hộ của quý nước Pháp, thì dùng theo tên gọi năm Gia Long là Việt Nam, mà cả nước chia làm ba là: Nam kỳ (Biên Hòa đến các tỉnh phía Nam), Trung kỳ ( từ Bình Thuận đến Thanh Hóa), Bắc kỳ (Ninh Bình đến các tỉnh phía Bắc) hợp với hai nước Cao Miên, Ai Lao, gọi chung là năm xứ Đông Dương, trở thành nước lớn nhất ở phía Nam châu Á. Nói rằng: sách Trung Quốc giải thích là châu Á Tế Á(2), nay thay đổi theo bản quốc giải thích là Châu Á.
Phần quốc hiệu được tác giả giới thiệu một cách khái quát nhất tên nước ta qua các đời để tiện cho người đọc nắm bắt được những điểm quan trọng. Và đặc biệt hơn cả là Phạm Huy Hổ đã liệt thêm những tên gọi do Pháp đặt khi nước ta trở thành thuộc địa của thực dân Pháp: đó là tên gọi Đông Dương, chia nước ta ra làm 3 khu gọi theo thứ tự từ Bắc vào Nam: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ.
Trên đây là những khảo sát bước đầu về cuốn sách Quốc sử tiểu học lược biên nhằm cung cấp nhưng thông tin về tình hình văn bản, tác giả biên soạn và một phần nào đó giá trị nội dung mà cuốn sách muốn truyền tải.
Chú thích:
(1). Theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2005, tr.5).
(2). Á Tế Á là Asean tức là Châu Á, đó là cách phiên âm từ tiếng Anh sang tiếng Trung Quốc.
(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.314-318)