39. Trình diễn nghi thức tế Thành hoàng làng qua tấm bia cổ (TBHNH 2011)
TRÌNH DIỄN NGHI THỨC
TẾ THÀNH HOÀNG LÀNG QUA TẤM BIA CỔ
ĐẶNG VĂN LỘC
Tạp chí Văn hóa - Thể thao Du lịch Hải Dương
Nghi thức tế nữ Thành hoàng làng, người ở ngay quê quán (thôn Phương Khê, xã Hồng Hưng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương), làm quan tới chức Chiêu nghi, “lương” chỉ dưới Tể tướng 1 bậc, được triều đình ban qui chế tế lễ ghi trong văn bia vẫn còn đó. Đây là địa chỉ du lịch hấp dẫn trên các phương diện dân tộc học, địa phương học, phong tục tập quán, di tích, lễ hội, lịch sử ngôn ngữ, văn tự, thư pháp, chế độ sử dụng ruộng đất, phương pháp gìn giữ di sản văn hóa của người dân bản địa.
Bản khai sự tích Thành hoàng làng của chính quyền thôn Phương Khê, xã Phương Xá, tổng Phương Xá, huyện Gia Lộc (nay là thôn Phương Khê, xã Hồng Hưng, huyện Gia Lộc) năm 1938 ghi: sự tích ngài có bia ghi tiểu sử, công trạng, quy chế tế lễ, lễ vật, ruộng tế và 2 đạo sắc phong.
Văn bia về Thành hoàng làng Phương Khê (văn bia Chiêu nghi tự sự bi kí) dựng trong nhà bia 4 cột 8 mái kiểu chồng diêm ở cánh đồng Bia, cách nhà văn hóa thôn chừng 100m đường chim bay. Văn bia là một khối đá trụ hình vuông, chóp hình mái vòm đặt trên bệ đá giật tam cấp. Bia có chiều cao 147cm, phần thân bia cao 115cm, rộng 71cm. Rèm bia để trơn. Đoạn thân bia giáp chóp bia tạo đường rèm khắc hoa văn hình mái ngói âm dương, trên mặt các viên ngói khắc hình hoa cúc cách điệu. Nghệ thuật tạo dáng bia đẹp hài hoà về kích cỡ, kiểu dáng, hoa văn không rườm rà nhưng giàu chất gợi cảm. Chữ Hán Nôm khắc trên bốn mặt bia dùng loại chữ thảo, cỡ chữ chừng 1cm, nét khắc sâu. Chữ viết trên trán bia, dùng loại chữ lệ, cỡ chữ 15 cm. Thứ tự các mặt ghi: mặt 1: Chiêu nghi tự sự bi kí (Bia ghi việc tế lễ Chiêu nghi); mặt 2: vĩnh tự khoán văn (khoán văn (bản hợp đồng của làng Phương Khê) về việc tế lễ muôn đời); mặt 3: Tế vật nghi tiết lệ (qui định thể lệ nghi thức tế lễ, văn tế và lễ vật dâng tế); mặt 4: Tế điền trục phân xứ sở (ruộng tế lễ ở các cánh đồng).
Đây là văn bia của triều đình ban tặng cho bà Đặng Thị Cúc tháng 2 năm 1675. Việc tổ chức tế lễ bà Cúc được triều đình ban quy chế (tạo lệ). Tính đến năm 2011 bia có tuổi thọ hơn 336 năm.
Bà Cúc sinh giờ Mùi ngày 9/6/1610, mất ngày 2/5/1668, 14 tuổi (ÂL) vào Vương phủ làm Thị nội cung tần. Làm việc 45 năm trong triều đình, mất khi đương chức Chiêu nghi. Đến đời Nguyễn được phong làm Thành hoàng 3 làng: Phương Khê, Thị Xá, Nhân Lý (Sắc phong ngày 8 tháng 10 năm Khải Định 1- 1916). Theo sách Từ điển chức quan Việt Nam, chức Chiêu nghi là chức quan thời phong kiến, dưới chức Hoàng hậu, có nhiệm vụ giúp việc cho Tham tụng (Tể tướng), hàm Chánh nhị phẩm. Được truy phong 1 đời, cha phong Đô đốc Đồng tri, mẹ phong Thuận nhân.
Văn bia được Tiến sĩ, Đông các Đại học sĩ Hồ Sĩ Dương, làm Bồi tụng, chức Thượng thư Bộ công soạn bài kí, biên tập các mục khác.
Học vị Đông các Đại học sĩ, theo chính sử ghi, người đã đỗ học vị Tiến sĩ có điểm ở tốp đầu được dự thi Đông các đại học sĩ. Chế độ quan chế thời Lê Trung hưng qui định: Bồi tụng, Thượng thư, tương đương chức Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng hiện nay.
Bài viết này, chúng tôi gửi tới bạn đọc kết quả bước đầu nghiên cứu nghi thức trình diễn tế Thành hoàng làng ngày giỗ 2.5 và ngày chạp 12.12 (ÂL) ghi trong văn bia.
Nghi thức tế Thành hoàng làng qui định theo trình tự 3 bước: 1- sơ hiến lễ, 2- á hiến lễ, 3- chung hiến lễ. Trong 2 ngày tế lễ (ngày giỗ, ngày chạp). Có qui định chung và qui định riêng.
Qui định chung: bước 1- sơ hiến lễ, thực hiện tuần tự 10 động tác. Bước 2- á hiến lễ, thực hiện tuần tự 5 động tác. Bước 3- chung hiến lễ, thực hiện tuần tự 8 động tác.
Điểm khác nhau ở nghi thức tế ngày ngày 12, tháng 12: sau khi đứng trước ban thờ thắp hương, (cúi đầu) lễ thần 4 lễ (giống nghi thức tế ngày 2 tháng 5), thực hiện động tác đứng ngay người lại (động tác này không thực hiện ở ngày tế giỗ, mồng 2 tháng 5) rồi mới thực hiện trình tự nghi thức 3 bước như tế ngày 2 tháng 5.
Văn tế trong 2 ngày, giỗ, ngày chạp cũng có điểm chung giống nhau và điểm riêng.
Văn tế ngày giỗ viết 84 chữ, văn tế ngày chạp viết 87 chữ. Hai bài văn tế có 66 chữ cùng ghi thông tin về niên hiệu triều vua, ngày tháng năm (ngày 2 tháng 5; ngày 12 tháng 12), ghi theo số đếm và ghi theo can chi; ghi địa chỉ: thôn xã huyện; ghi thành phần dự tế (quan viên hương trưởng), vật tế (hàn âm, thanh chước, hân bàn: gà, cả con; rượu cúng; mâm xôi); ghi chức vụ (Chiêu nghi), tên người (ghi họ: Đặng và chữ: quí thị) và tên thuỵ (Diệu Hộ) của người được cúng tế; ghi lời mời cung kính ở chữ cuối của văn tế.
Những chữ còn lại của văn tế ngày giỗ, mồng 2 tháng 5 có 18 chữ, thể hiện nghĩa: đến ngày giỗ, lòng thành thương nhớ, kính dâng lễ mọn, xin thần nhận lễ. Kính lạy.
Dưới đây là phiên âm; dịch nghĩa nghi thức tế (nghi tiết) và văn tế (tế văn).
Phiên âm (nghi thức tế (nghi tiết) và văn tế (tế văn) ngày 2 tháng 5):
Nghi tiết: Tự lập./ Phần hương./ Tham thần tứ bái.
Sơ hiến lễ: Quị./ Chước tửu./ Phủ phục./ Hưng./ Bình thân./ Quị./ Độc chúc./ Phủ phục./ Hưng./ Bình thân.
Á, hiến lễ: Quị/ Chước tửu./ Phủ phục./ Hưng./ Bình thân.
Chung hiến lễ: Quị./ Chước tửu./ Phủ phục./ Hưng./ Bình thân. / Từ thần, tứ bái./ Phần chúc./ Lễ tất.
Tế văn.
Duy: Hoàng hiệu mỗ niên, tuế thứ, mỗ can chi, thập nhị nguyệt, mỗ can chi, sóc việt thập nhị nhật, mỗ can chi. Gia Phúc huyện, Hoa Xá xã, Ổi Lỗi thôn. Quan viên hương trưởng cự tiểu đẳng, cẩn dĩ hàn âm thanh chước, hân bàn đẳng vật, kiện cảm chiêu cáo vu:
Tiền tặng Chiêu nghi Đặng quý thị, thụy Diệu Hộ. Vị tiền viết: tự lịch điệt canh nhật lâm húy kị, tâm phụng ai tư, lễ trần bạc phỉ. Phục duy. Thượng hưởng.
Phiên âm nghi thức tế (nghi tiết) và văn tế (tế văn) ngày 12 tháng 12:
Nghi tiết: Tự lập./ Phần hương./ Tham thần tứ bái./ Hưng./ Bình thân.
Sơ hiến lễ: Quị./ Chước tửu./ Phủ phục./ Hưng./ Bình thân./ Quị./ Độc chúc. / Phủ phục./ Hưng./ Bình thân.
Á hiến lễ: Quị./ Chước tửu./ Phủ phục./ Hưng./ Bình thân.
Chung hiến lễ: Quị./ Chước tửu./ Phủ phục./ Hưng./ Bình thân./ Từ thần tứ bái./ Phần chúc./ Lễ tất.
Tế văn.
Duy
Hoàng hiệu mỗ niên, tuế thứ, mỗ can chi, thập nhị nguyệt, mỗ can chi, sóc việt, nhị thập nhật, mỗ can chi. Gia Phúc huyện, Hoa Xá xã, Ổi Lỗi thôn. Quan viên hương trưởng cự tiểu đẳng, cẩn dĩ hàn âm thanh chước hân bàn đẳng vật, kiện cảm chiêu cáo vu:
Tiền tặng Chiêu nghi Đặng quý thị, thụy Diệu Hộ. Vị tiền viết: dịch mại nhật thoa (toa) cự lai tuế lạp, tận thử kính thành, nguyện kì hâm nạp. Phục duy. Thượng hưởng.
Dịch nghĩa:
Do văn bản nghi tiết và văn bản tế văn ngày 2 tháng 5 (ngũ nguyệt mỗ sơ nhị nhật, mỗ can chi) và ngày 12 tháng 12 (thập nhị nguyệt, mỗ can chi, sơ việt thập nhị nhật, mỗ can chi) có những chữ viết lặp lại, chúng tôi xin được giải nghĩa bài văn tế và nghi thức tế ngày12 .12 (ÂL) ghi trong ngoặc đơn ở sau mỗi từ, ngữ chữ Hán. Phần giải nghĩa 18 chữ "còn lại" của văn tế ngày giỗ, mồng 2 tháng 5 đã ghi ở trên, không ghi trong phần dịch nghĩa này.
Nghi tiết (nghi thức tế):
Tự lập (cung kính đứng trước ban thờ), phần hương (thắp hương), tham thần tứ bái (lễ thần 4 vái).
Sơ hiến lễ (nghi thức dâng lễ bước 1),
Quị (quì: để đầu gối chạm chiếu tế, để 2 bàn chân dựng đứng, ngón chân chạm chiếu tế, 2 gót chân sát với mông, giữ lưng ngay, đầu thẳng)./ Chước tửu (rót rượu)./ Phủ phục (quì xuống, để đầu cúi chạm chiếu tế; hai bàn tay để úp, sát với đầu)./ Hưng (ngồi ngay lại)./ Bình thân (đứng dậy, giữ tư thế ngay ngắn, trang nghiêm)./ Quị./ Độc chúc (quì, đọc văn chúc)./ Phủ phục (quì xuống, để đầu cúi chạm chiếu tế; hai bàn tay để úp, sát với đầu)./ Hưng (ngồi ngay lại)./ Bình thân (đứng lên, giữ tư thế ngay ngắn, cung kính).
Á, hiến lễ (nghi thức dâng lễ bước 2).
Quị (quì: để đầu gối chạm chiếu tế, để 2 bàn chân dựng đứng, ngón chân chạm chiếu tế, 2 gót chân sát với mông, giữ lưng ngay, đầu thẳng)./ Chước tửu (rót rượu)./ Phủ phục (quì xuống, để đầu cúi chạm chiếu tế; hai bàn tay để úp, sát với đầu)./ Hưng (ngồi ngay lại)./ Bình thân (đứng lên, giữ tư thế ngay ngắn, cung kính).
Chung hiến lễ (nghi thức dâng lễ bước 3).
Quị (quì: để đầu gối chạm chiếu tế, để 2 bàn chân dựng đứng, ngón chân chạm chiếu tế, 2 gót chân sát với mông, giữ lưng ngay, đầu thẳng)./ Chước tửu (rót rượu)./ Phủ phục (quì xuống, để đầu cúi chạm chiếu tế; hai bàn tay để úp, sát với đầu)./ Hưng (ngồi ngay lại)./ Bình thân (đứng lên, giữ tư thế ngay ngắn, cung kính)./ Từ thần tứ bái (lễ thần 4 vái)./ Phần chúc (đốt chúc văn).
Lễ tất (xin thần kết thúc nghi thức tế lễ).
Tế văn (văn tế, ngày 12 tháng12).
Duy (tiếng đệm): Hoàng hiệu mỗ (tên niên hiệu triều vua), niên tuế thứ mỗ (ghi năm thứ mấy theo từng niên hiệu triều vua), can chi (ghi tên năm tế lễ theo can chi), thập nhị nguyệt (tháng 12), mỗ can chi (ghi tên tháng tế lễ theo can chi), sóc việt thập nhị nhật (ngày 12), mỗ can chi (ghi tên ngày tế lễ theo can chi). Gia Phúc huyện (huyện Gia Phúc), Hoa Xá xã (xã Hoa Xá), Ổi Lỗi thôn (thôn Ôỉ Lỗi). Quan viên hương trưởng cự tiểu đẳng (các vị chức sắc gồm: quan viên, trưởng làng), cẩn dĩ (cung kính dâng) hàn âm (gà) thanh chước (rượu cúng), hân bàn (mâm xôi) đẳng vật (các lễ vật), kiện cảm chiêu cáo vu (thành kính báo cáo thần):
Tiền tặng Chiêu nghi Đặng quý thị, thụy Diệu Hộ (được triều đình tặng chức Chiêu nghi, tên gọi là: Đặng quý thị, tên thụy là Diệu Hộ). Vị tiền viết: (đứng trước ban thờ cung kính thưa), dịch mại nhật thoa (toa) cự lai tuế lạp, tận thử kính thành nguyện kì hâm nạp. Phục duy. Thượng hưởng. (Đến ngày tế chạp, lòng thành thương nhớ, kính dâng lễ mọn, xin thần nhận lễ. Kính lạy).
Những chữ Hán Nôm ghi về trình diễn nghi thức tế, văn tế Thành hoàng làng còn đầy đủ trong tấm bia. Chịu tác động của mưa nắng, của thời cuộc đã qua hơn 336 năm mà vẫn “còn đây cùng tuế nguyệt”.
Ông Phạm Xuân Triển, thành viên câu lạc bộ Hán Nôm tỉnh Hải Dương, sinh năm 1925, hiện ở số 2, ngõ 101 đường Bình Minh, thành phố Hải Dương, cho biết, ông được xem lễ hội bà Cúc. Vào năm 11, 12 tuổi, lúc đó đang học tiểu học (năm 1936, 1937), được ông nội Phạm Xuân Tích (đỗ Cử nhân Nho học khoá 1912) cho đi xem lễ hội bà Chiêu nghi. Hội có nghi thức rước kiệu, nhà thờ bà Chiêu nghi gỗ lim bề thế, là hội to trong vùng. Quê ông cách làng Phương Khê chừng 3 km. Mặc dù ông Triển không nói về nghi thức tế lễ bà Cúc nhưng lễ hội, nhất là lễ hội to trong vùng thì không thể thiếu nghi thức tế lễ.
Lời trong ca dao ghi: trăm năm bia đá thì mòn, nhưng lời văn trong văn bia do Tiến sĩ, Đông các đại học sĩ Hồ Sĩ Dương, một vị trọng quan của triều đình, quê ở Hoàn Hậu, Quỳnh Lưu, Nghệ An soạn, biên tập, tạc trong văn bia đã qua hơn 336 năm vẫn còn đầy đủ. Công trạng với triều đình, nếp sống về ứng xử văn hóa với dân làng của người phụ nữ Hải Dương, (làm quan tới chức Chiêu nghi, “lương” chỉ dưới Tể tướng 1 bậc), được triều đình ban qui chế tế lễ ghi trong văn bia vẫn còn đó. Văn tế đo triều đình qui định, có số chữ chưa đến 100 chữ, động tác trong nghi thức tế vừa phải. So với nghi tiết và văn tế ở các lễ hội dân gian được sách Lễ hội dân gian tỉnh Hải Dương phản ánh thì chỉ đạt mức khiêm tốn về chữ dùng và động tác thực hiện. Điều ấy như nhắc ta tìm đến 1 địa chỉ du lịch hấp dẫn trên các phương diện dân tộc học, địa phương học, phong tục tập quán, di tích, lễ hội, lịch sử ngôn ngữ, văn tự, thư pháp, chế độ sử dụng ruộng đất, phương pháp gìn giữ di sản văn hóa của người dân bản địa. Đây là văn bia cổ cần được bảo vệ theo Luật Di sản văn hóa.
Những gợi ý của người viết về giá trị của di sản đã hơi nhiều nhưng có lẽ là chưa đủ bởi đây là hiện vật gốc, khám phá mãi vẫn thấy điều mới, hữu ích./
(Thông báo Hán Nôm học 2011, tr.761-767)