4. Bút tích của Phó bảng Bùi Kỷ và bản dịch thơ của nhà văn Nguyễn Tử Siêu tại nhà thờ Hoàng giáp Lê Huy Trâm (TBHNH 2004)
BÚT TÍCH CỦA PHÓ BẢNG BÙI KỶ
VÀ BẢN DỊCH THƠ CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN TỬ SIÊU
TẠI NHÀ THỜ HOÀNG GIÁP LÊ HUY TRÂM
ĐẶNG BẰNG - LÊ LIÊM
Ban quản lý di tích Hà Tây
Bùi Kỷ (1887-1960) là một học giả nổi tiếng, hiệu Ưu Thiên, quê ở Chân Cầu, Thanh Liêm, Hà Nam, đậu Phó bảng năm 1910. Ông là người tinh thông Hán học, phục vụ trong ngành giáo dục, từng là Chủ tịch Hội Văn hóa kháng chiến. Năm 1959, ông hiệu đính tác phẩm văn học Trung Quốc đồ sộ Tam quốc chí của La Quán Trung, từng để lại bút tích ở nhiều nơi. Một trong số đó là nhà thờ Hoàng giáp Lê Huy Trâm, tại thôn Song Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai.
Trước cách mạng Tháng 8/1945, các nhà tư sản dân tộc của dòng họ là Hồng Khê, Đức Thành và Tổng Tư mời ông về thăm quê của mình. Cảm khái trước thanh danh, khoa hoạn của dòng họ này, ông đã nhận lời. Sau một tuần trà cùng trưởng tộc và các nhân vật có tiếng như nhà văn Nguyễn Tử Siêu, ông lật giở những đạo sắc phong và gia phả của dòng họ. Đến mục “Kỷ Hợi thịnh khoa Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân Lê tướng công” thì ông dừng lại và chăm chú khảo luận. Sau đó, ông xin phép thắp một tuần hương trước ban thờ tổ tiên, sửa sang lại y phục rồi kính cẩn chuẩn bị đề bút ba bài thơ Thuật lữ, Cảm hoài, Tư nụy của Hoàng giáp Lê Huy Trâm (1742-1802) đỗ năm 1780 viết về chí khí của kẻ làm tôi trước vận mệnh của đất nước. Những bài thơ toát lên vẻ thanh khiết tự tại của bậc hiền thần trước thời loạn lạc. Tuy hoàn cảnh rất bần hàn nhưng chí khí vẫn cao sáng, thung dung; mọi chức tước, phẩm hàm chỉ là ảo vọng, kẻ làm tôi cốt sao giữ được tấm lòng trung trinh mới là người cao khiết.
Sau khi chờ hết tuần hương, ông đề bút lên những cuốn thư gỗ đã được dòng họ chuẩn bị trước. Những nét chữ ông viết vừa rắn rỏi vừa mềm mại, thể hiện tính cách của một con người tài hoa, có nhân cách. Nguyên văn chữ Hán phiên âm như sau:
1. Thuật lữ
Táng loạn niên lai khứ ngụ sơn
Giảm biên tàm phú Thạc nhân khoan
Viêm lương nhậm thích hưng cư lý
Phong ước đô phong nhật dụng gian
Mễ hữu thời không vu thực trở
Ngư vô thường đắc giải đăng bàn
Nhân sinh đãn cử tâm vô quý
Thân ngoại hà phường mộng ảo khan.
2. Cảm hoài
Y phong mã tê cấp
Thất quần điểu thanh thương
Thú Dương cộng Triều Tiên
Hà nhật bất Ân Thương
Ngưỡng chỉ hữu cao sơn
Lý hành hữu cảnh hàng
Phong ê hề tuyết phi
Dư mỹ tạ hà phương
Đa thiểu ý trung sự
Thùy năng bất đoạn trường
Ta hồ du tử tâm
Khởi bất bi cố hương
Tình nghĩa nan lưỡng lập
Dư cố uý tư mang
Cần lao nhi tam tử
Biến yên bất cải thường
Vô nịch thích bất lai
Bất tỷ độc mang mang.
3. Tư nụy
Sách danh ủy trí đệ tương truyền
Khuất tri kim tàng nhị bách niên
Dịch diệp tư bồi gia khánh viễn
Lũy triều hâm dưỡng quốc ân toàn
Vãng hành nhàn tưởng do tâm mục
Thời sự na khan cư hải điền
Trung hiếu thử sinh hề điển trích
Thượng kỳ nhất tiết cộng trường sinh.
Khi Phó bảng Bùi Kỷ viết xong, nhà văn Nguyễn Tử Siêu(1) người có tiếng về văn thơ dịch thơ sang tiếng Việt. Bản dịch của ông như sau:
1. Kể việc đã qua
Năm loạn ta vào ở núi đây
Bên khe đọc phú thẹn lòng thay
Nghỉ ngơi nóng rét đều yên ổn
Ăn uống qua loa tính đủ ngày
Không rượu thì khoai bùi ngọt thế
Lấy cua làm cá béo thơm thay
Người ta quý ở lòng không thẹn
Danh lợi cuộc đời tựa đám mây.
2. Việc qua nhớ lại
Ngựa khi gió lạnh hí vang
Con chim vỡ tổ lạc đàn kêu thương
Nước Triều Tiên núi Thú Dương
Di Tề Cơ Tử Ân Thương nặng lòng
Ngửa trông mây núi vĩ hùng
Đường dài cảnh đẹp vô cùng lòng đau
Gió vi vu tuyết trắng phau
Biết vua ta ở nơi đâu mà tìm
Ít nhiều mong nhớ càng thêm
Ai không quặn ruột rộn tim ngại ngùng
Than ôi chẳng quản bình bồng
Nào ai là chẳng nặng lòng nhớ quê
Tình nhà cảnh nước đôi bề
Thôi thì đành hãy quên đi nỗi nhà
Các con khó nhọc cùng ta
Lòng không thay đổi đây là thanh cao
Không nên yên ở chốn nào
Chẳng nề khó nhọc biết bao công.
3. Tâm tư truyền lại
Nối dõi dòng nhà nức tiếng nhân
Tính tay đếm đốt hai trăm năm
Phúc dầy nhờ tổ mưu từ trước
Ơn nước lộc vua khắc để tâm
Thay đổi việc đời xem đã rõ
Bể xanh thành ruộng ấy không nhầm
Hiếu trung hai chữ làm nhân cách
Cùng với trời xanh vạn vạn năm.
Có thể nói rằng, hồn thơ thanh khiết của Hoàng giáp Lê Huy Trâm, nét bút rắn rỏi của Phó bảng Bùi Kỷ cùng với lời dịch thơ của nhà văn Nguyễn Tử Siêu đã trở thành một di sản văn hóa quý, đáng được trân trọng, gìn giữ.
Chú thích:
(1) Nguyễn Tử Siêu (1887-1965) tự là Trọng Khoát, hiệu Hoa Cương, Liên Tâm Lão Nhân, quê ở Hương Ngải, Thạch Thất; người có tiếng văn thơ, từng dạy học và nghiên cứu Đông y, chuyên tâm soạn sách, có lúc là Uỷ viên Ban chấp hành Hội Đông y Việt Nam./.
Thông báo Hán Nôm học 2004 (tr.28-32)