VI | EN
4. Họ của người Trung Quốc (TBHNH 2011)
(TBHNH 2011)

HỌ CỦA NGƯỜI TRUNG QUỐC

NGUYỄN THỊ ANH

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Trên thế giới họ của các dân tộc xuất hiện tương đối muộn. Sớm cũng chỉ mấy trăm năm, còn muộn thì vài chục năm. Trong dòng chảy lịch sử mấy nghìn năm trước công nguyên, người phương Tây rất lâu mới có họ. Lịch sử về họ của các dân tộc khác còn muộn hơn, thậm chí một vài dân tộc đến nay vẫn chưa kết thúc lịch sử có tên mà không họ. Nhưng ở Trung Quốc, truyền thống văn hóa họ vào dạng lâu đời nhất trên thế giới. Họ hiện còn của người Trung Quốc, phần lớn vào thời kì Thương Chu cách đây 3000 năm. Chính vì thế trong văn hóa lâu đời của Trung Quốc đã ẩn chứa văn hóa họ tộc một cách rực rỡ. Ví như câu thành ngữ “張冠李帶Trương quan, Lý đai (râu ông nọ cắm cằm bà kia), 毛遂自荐Mao Toại tự tiến (tự khen mình), 徐娘半老Từ Nương bán lão (phụ nữ lớn tuổi mà đa tình)…

Trong Hán tự, chữ tính bên trái là nữ , bên phải là sinh hợp lại mà thành. Ý sơ khai của nó là: Đàn bà sinh ra con. Trong xã hội thị tộc mẫu hệ, người mẹ là đại biểu của thị tộc, đứa con chỉ biết mẹ của mình mà không biết cha là ai, cho nên nó theo mẹ. Lúc đó rất nhiều hiện tượng chưa có thể giải thích được như gió, mưa, sấm, chớp và một vài tai họa của thiên nhiên như ngập lụt, động đất, cháy rừng… rút cuộc do cái gì sinh ra, người ta đều không có cơ sở khoa học gì giải thích. Vì thế sinh ra tâm lí vừa thần bí, vừa sợ hãi, vừa vui mừng, vừa sùng bái. Họ mang tâm lí ấy và đi tìm lời giải đáp. Họ nhầm lẫn cho rằng mỗi thị tộc đều có quan hệ thân thuộc hoặc quan hệ một mặt nào đó với một loại động vật, thực vật hoặc một đồ vật vô sinh giống như núi, nước, đá, mây… cho nên họ đã lấy một loại để làm đối tượng sùng bái, hi vọng có thể được sự bảo vệ của đối tượng đấy. Đồ vật này họ gọi là Tô Tem 图腾. Tô Tem này thường thêm chữ nữ vào bên cạnh để tạo thành tên gọi của thị tộc. Đây là họ nghĩa sơ khai nhất. Căn cứ vào khảo chứng của các chuyên gia, tô tem của họ Khương cổ nhất ở Trung Quốc là Dê , tô tem của họ vân là Vân . Trong sách Kinh Thi có kể về một người con gái tên là Khương Nguyên, vì không có con, liền đi ra đồng, cầu trời cho bà đứa con. Bà dẫm vào bước chân người khổng lồ, trong lòng cảm động, có thai sinh ra người con trai. Người con trai này chính là tổ tiên của người Chu. Người Chu họ Cơ . Bên trái chữ Cơ là chữ nữ , bên phải là chữ ý. Nữ biểu thị người con gái tên là Khương Nguyên sinh ra. Hình trạng đầu tiên của chữ là dấu chân của con gấu, vì thế Tô Tem của nhà Chu là gấu.

Trong xã hội thị tộc Phụ hệ, thường thường có chế độ một vợ một chồng. Một người con trai chỉ được kết hôn với một người con gái. Lúc này đứa con không chỉ biết mẹ mình mà còn biết cả cha mình. Đứa trẻ có huyết thống với cha ngày càng rõ ràng. Sau đó những đứa trẻ cùng bố sinh ra lớn lên, kết hôn lại sinh ra những đứa con tạo thành gia đình riêng của mình. Lúc gia tộc ngày càng lớn mạnh, một vài đứa con đã thành gia đình mới, không thể không chia ra, đến miền đất mới sinh sống. Thường thì đứa con lớn sẽ giữ gìn và kế thừa tên họ và tài sản của bố mẹ. Những đứa con khác tách ra dù họ vẫn giữ gìn tên họ của thị tộc trước. Nhưng để có sự phân biệt với dòng họ của mình, họ đã tự mình đặt một tên gọi khác. Đó gọi là ngành họ. Rõ ràng, ngành họ vốn phụ thuộc vào họ, sau đó mới dần dần độc lập, cho nên qua mấy đời có đồng họ mà không cùng ngành họ. Trong xã hội Nô lệ, chỉ có quý tộc mới có họngành họ. Vào thời kì cổ đại chức năng của họngành họ không giống nhau: Chức năng của họ là đánh dấu quan hệ huyết thống, hạn chế hôn nhân, nếu nam nữ cùng họ không cùng ngành họ thì không thể kết hôn. Cùng ngành họ không cùng họ thì có thể thông hôn. Họ sơ khai nhất là lấy tên từ đất phong, tên quan chức cho nên họ còn là tiêu chí đánh giá địa vị xã hội.

Họ trong tiếng Hán hiện còn, hầu như mang bộ tiết. Đại bộ phận đều là tên nước, tên đất phong, hoặc tên thành thị, như Đặng , Hình , Lương , Quách , Trịnh … hay như Hoa , Tưởng , Mông , Cai, , Tô , Trần , Dương ... Những họ này đều là địa danh, ước khoảng trên nghìn họ. Trung quốc cổ đại các quan chức phụ trách công trình kiến thiết lấy tên chức Tư không 司空, phụ trách quản lý quân đội và tài vụ thì gọi là Tư mã 司馬, phụ trách công an, pháp luật, giám ngục gọi là tư khấu 司寇, phụ trách giáo dục công vụ là từ đồ 司徒… sau đó một vài chức quan đều biến thành họ. Đây là nguồn gốc của họ kép.

Sau Thời Tần, nô lệ được giải phóng thành dân tự do, từ đấy mọi người đều có họ. Trong cuộc sống thường nhật họ, ngành họ dần dần cũng không phân chia.

Các họ mới xuất hiện tương đối tùy tiện. Có người là công nhân đồ gốm () thì lấy chữ đào làm họ. Có người làm thầy mo 巫師 thì lấy vu làm họ. Có người sống tại ao đầm, vườn tược thì lấy họ là trì , là viên . Trung Quốc thời Đông Hán có tác gia nổi tiếng là Đông Phương Sóc, cha vốn họ Trương mất sớm, ba hôm sau khi sinh ông, mẹ cũng qua đời. Người hàng xóm nhìn thấy ông thật đáng thương, liền đem về nhà nuôi dưỡng thành người. Người ta nói khi ông sinh ra, vầng thái dương vừa mới mọc, nên lấy họ là Đông Phương. Tên đầy đủ là Đông Phương Sóc. Hiện tượng đổi tên cũng thường được phát sinh. Đặc biệt là tại xã hội phong kiến, người ta không cho phép gọi tên của vua và bậc trưởng bối. Lúc xưng hô phải tìm từ khác thay thế. Nếu không sẽ thể hiện sự không tôn kính, chưa biết chừng còn bị chém đầu. Một vị vua mới lên ngôi, nếu tên của vị vua đó trùng với tên họ của ai trong dân thì người dân mang họ đấy phải cải tên họ khác. Có thể cải thành một tên với ý nghĩa hoặc phát âm tương đồng hoặc có thể đổi sang chữ gần giống với chứ đó. Ví dụ thời Đông Hán vua Vũ Minh Đế họ Lưu, tên Trang . Lúc đó người có họ Trang đều dùng chữ Nghiêm với ý nghĩa gần giống nhau để thay thế. Ngay cả Trang Tử Lăng bạn đồng học của cha vua Minh đế cũng không thể không đổi thành Nghiêm. Sau khi triều Hán diệt vong, có người mới lấy lại được họ Trang, có người thì cứ theo họ Nghiêm.

Như vậy họ tộc của Trung quốc phát triển khá lâu đời và trở thành một nền văn hóa. Hi vọng trong bài viết lần sau có thể tìm hiểu thêm về tên của người Trung Quốc để thấy văn hóa họ tên của họ thực sự lâu đời và phát triển rực rỡ vào bậc nhất thế giới./.

(Thông báo Hán Nôm học 2011, tr.470-473)

Nguyễn Thị Anh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm