HY MINH VỚI NGUYỄN HUY LƯỢNG CÓ QUAN HỆ NHƯ THẾ NÀO?
VIỆT ANH
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Nguyễn Huy Lượng (1759 - ?) vốn quê ở làng Phú Thị, Gia Lâm (xưa thuộc Bắc Ninh, nay về Hà Nội), là một tác gia văn học nổi tiếng nước ta, nhất là về thơ phú Nôm với các bài Lượng như long phú, Tụng Tây Hồ phú, diễn Nôm phỏng theo Chinh phụ ngâm khúc, 100 bài thơ Nôm Cung oán. Từ xưa tới nay, từng có nhiều nhà nghiên cứu về Nguyễn Huy Lượng, trong đó rất nên kể tới các vị Bùi Hạnh Cẩn, Nguyễn Hữu Sơn - với những chuyên luận có thể coi là tập hợp phong phú và đầy đủ, mới mẻ hơn cả về tác gia Hán Nôm này. Theo các tư liệu đã công bố và lời nhận xét của tác giả Nguyễn Hữu Sơn, việc xác định Bạch Liên Am là một tên hiệu của Nguyễn Huy Lượng là bước phát hiện đáng kể của tác giả Bùi Hạnh Cẩn.
Mới đây, giữa một trong số nhiều tập trước tác của họ Trần ở Vân Canh, chúng tôi tìm thấy một chút tư liệu có liên quan tới Nguyễn Huy Lượng mà trước đó, hầu như chưa được nhắc tới.
Đó là một bài tựa về bản thiết kế một kiểu xe tự hành nhờ sức gió, mà sự tiện lợi của nó được ví ngang với phát minh mộc ngưu lưu mã (trâu gỗ ngựa lăn) xưa của Khổng Minh Gia Cát. Tác giả bài tựa là Trần Bá Lãm, Tiến sĩ năm 1779 đời Lê Chiêu Thống. Tác giả bản thiết kế là một vị họ Nguyễn, hiệu Hy Minh.
Sau đây, xin giới thiệu bản dịch nghĩa bài tựa này.
BÀI TỰA VỀ MÔ HÌNH MỚI CỦA XE LĂN BẰNG SỨC GIÓ
(Sách Hán Nôm, ký hiệu A.526)
Nguyễn Hy Minh là bạn cũ của tôi, thành thị lâm tuyền quen với nhau đà hơn chục niên. Mùa thu năm Bính Thìn (1796), tôi gặp thánh sinh, lên thành thị, được gặp ông ở chốn khách xá. Khi ấy, ông đã lãnh chức Hữu thị lang Hộ tào, Chương Lĩnh hầu là tước đó.
Tôi nhẩn nha hỏi:
- Lấy Chương làm danh, là chọn nghĩa nào?
Ông đáp:
- Tiên nhân nhà tôi giữ chức Thượng thư bộ Hộ, tước có chữ Triệu, vậy riêng muốn phỏng theo đó.
Tôi trầm ngâm hỏi lâu, nói rằng:
- Vậy thì Chương chưa chắc đã hay bằng Củng.
Ông nói:
- Phải chẳng ý ông muốn nói do tiên công triệu tạo, để mong cho mỗ này củng cố đó ư!
Tôi đáp:
- Chưa chắc. Đấy chỉ là một nghĩa thôi. Chữ Triệu theo bộ Hộ, chữ Củng theo bộ Công, Công - Hộ hai đầu sánh nhau. Bác có tâm tư tinh xảo hợp với công việc chế tạo khí cụ cho thiên hạ mà làm tỏ rõ đó.
Ông gật gù mấy lần, rồi vẫy tay từ biệt.
Năm sau, tôi gặp nạn, trả chức quan, về lại vườn xưa. Năm Mậu Ngọ (1798) tháng 8, tôi nghe tin ông vào chầu kinh thành Phú Xuân, bèn cất công tới tiễn. Đến nơi thì ông chưa đi. Vì thế tôi hỏi duyên cớ. Ông đáp:
- Theo hầu thành phiên, chuyến này theo quan Thượng thư họ Vũ ở Mộ Trạch, làm nổi rõ ý nghĩa chữ Củng theo bộ Công, nên cần phải chế ra một dụng cụ để lợi dụng. Do vậy đã cùng với em họ là Nguyễn Huỳnh bàn tính, nhọc hết tâm tư, tổn hết tâm tư. Đợi đến lúc thành, sau khi vào triều sẽ tâu lên.
Rồi nhân đó lấy từ tay áo ra một bản vẽ đưa cho. Mở ra xem, thì là cách thức của xe chạy bằng sức nước và sức gió. Xe này: bánh xe, trục xe, guồng xe đẩy chở dài ngắn có mức, nhẹ nặng có cân, đại để dựa theo quy luật, căn cứ theo tinh sảo, cốt yếu không vượt tinh ý của các bậc cổ thánh hiền. Tôi lấy làm kỳ lạ về tài trí của ông, cùng vui mừng về lòng trung của ông, nhân đó mà rằng:
- Quả chẳng ngoài dự liệu của tôi! Đương lúc khẩn cấp thế này, có việc gì lớn hơn việc vận chuyển nữa!
Ông nói:
- Tôi tự thẹn thô thiển, suông hưởng lộc việc mình, cho nên cũng tuỳ thích nghi thời vụ trong chức phận, những mong dùng một chút kỹ nghệ để tự gắng, chứ chưa từng xét xem liệu có dùng hợp hay không.
Nhân đó gọi trẻ mang chiếc xe thành phẩm dạng nhỏ ra. Tôi baỏ hãy thử đi. Chiếc xe chở vật, nhờ gió mà chuyển dời, vòng lăn tự động, không mượn trâu co ngựa kéo, cũng không dùng sức người tác động.
Tôi càng kinh ngạc mà rằng:
- Thần thế nhỉ! Quỷ thế nhỉ! Khiến người ta sao mà lường được! Chả trách thời xưa khen trâu ngựa là sáng tạo kỳ diệu, trong các bậc chuyên giúp trị nước vậy lại tôn Khổng Minh là cao siêu nổi trội. Ngày nay, phép tạo xe chạy bằng sức gió, công bỏ ra không quá tổn, mức chở lương lại khá nhiều: so với trâu gỗ ngựa lăn, giản tiện hơn nhiều. Bác thực chẳng thẹn với tên gọi Hy Minh đó!
Rồi cho cất xe, cùng nhau nâng chén. Tôi đặt nguyên bản cách chế tạo xe lên bàn tay, nâng niu không thôi. Trong khi mê mải, bất giác vừa gõ vừa múa. Rồi lấy bút mà đề tựa mấy lời này.
Cách hành văn gãy gọn, sáng nghĩa của bài tựa cho thấy ngay: vị Hy Minh này từng giữ chức Hữu thị lang Hộ tào, có tước là Chương Lĩnh hầu. Những thông tin này đều phù hợp với lai lịch của Nguyễn Huy Lượng trong các chuyên luận về ông trước đó. Bên cạnh đó, theo lời của Hy Minh trong bài tựa, một vị tổ tiên của ông từng nhậm chức Thượng thư bộ Hộ, tước là Triệu Quận công; đối chiếu vào gia phả họ Nguyễn Huy ở Phú Thị, vị tổ tiên này chính là Nguyễn Huy Nhuận (1678 - 1758) Tiến sĩ khoa Quý Mùi 1703 đời Lê Hy Tông.
Thêm nữa, từ tên hiệu Hy Minh gợi mối liên hệ tới Nguyễn Huy Lượng, chúng tôi lật lại những trang thơ chữ Hán trong Hy Minh thi tập (sách có tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm). Hầu như, tên người viết tập thơ này trước nay chưa được xác định rõ. Trong tập thơ chữ Hán của Hy Minh, không ít bài xướng hoạ, gửi trao, tiễn tặng với bạn tri âm là Hiếu Đức, Đức Ninh, Bùi Tướng công... Qua tra cứu có thể biết, Hiếu Đức là Phạm Nguyễn Du (hay còn có tên là Phạm Vĩ Khiêm) (1740 - 1786) Hoàng giáp khoa Kỷ Hợi 1779 đời Lê Hiển Tông, tác giả Đoạn trường lục; Đức Ninh là Nguyễn Hàn (hoặc Hấp) (1747 - ?) Tiến sĩ khoa Kỷ Hợi 1779, quê Phú Thị, Gia Lâm; Bùi Tướng công rất có thể là Bùi Huy Bích (1744 - 1802) Hoàng giáp khoa Kỷ Sửu 1769 đời Lê Hiển Tông... Các vị này đều là bạn với Nguyễn Huy Lượng.
Mặc dù trong Hy Minh thi tập, một số bài thơ còn phải nghiên cứu văn bản khá kỹ, nhưng phần nhiều các bài thơ rất có thể thuộc về Nguyễn Huy Lượng, căn cứ theo hành trạng của ông.
Còn nhớ, trong số các học giả nghiên cứu về Nguyễn Huy Lượng, có vị lão thành từng cho biết: "Riêng tôi thì chưa từng được đọc một bài thơ chữ Hán nào của Nguyễn Huy Lượng". Đến nay, với những thông tin ban đầu nhiều hứa hẹn về Hy Minh, mong rằng chân dung của tác giả phú Nôm nổi tiếng Nguyễn Huy Lượng ngày một hoàn chỉnh.
Thông báo Hán Nôm học 2001, tr.27-31