4. Một dạng truyền bản "Lam Sơn thực lục" mới tìm được ở Quảng Nam - Đà Nẵng (TBHNH 1996)
MỘT DẠNG TRUYỀN BẢN “LAM SƠN THỰC LỤC” MỚI TÌM ĐƯỢC Ở QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG
Huỳnh Công Bá
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế
Vua Lê Thái Tổ soạn Lam Sơn thực lục nhằm trước hết “là để trọng cái nghĩa gốc nguồn”, như lời ngài nói, và sau đó là để kể lại sự nghiệp mở nước, gian nan, một dạng “ôn nghèo kể khổ” của vị Lam Sơn động chủ, nhằm răn dạy con cháu của ngài ngày sau phải luôn luôn ghi nhớ lấy điều ấy. Qua đó, vua nhắc nhở con cháu phải cẩn thận trong việc giữ lấy ngôi trời: “Phải đề phòng mối họa hoạn đôi khi do yên vui dẫn tới, phải ngăn ngừa thói kiêu xa đôi khi do nhàn lạc sinh ra”. Nơi phần kết thúc của bản sách vua viết: “Trẫm nghĩ cuốn Thực lục này sở dĩ được làm ra là đặt nhiều kỳ vọng ở con cháu đời sau vậy”. Có lẽ chính vì cái mục đích này mà Lam Sơn thực lục đã có rất nhiều truyền bản. Hiện nay chúng ta có được 7 truyền bản Lam Sơn thực lục, trong đó có 6 bản chép tay và 1 bản in(1).
Vừa qua, trong quá trình đi sưu tầm tư liệu Hán - Nôm ở Quảng Nam - Đà Nẵng, chúng tôi phát hiện thêm một truyền bản khác của Lam Sơn thục lục. Truyền bản này được chép ở phần đầu một bản Gia phả tiên tổ cơ đồ của một nhóm con cháu nhà Lê, trên đường trốn lánh sự bức hại của chính quyền họ Mạc đã đi vào lập nghiệp trên đất Quảng Nam. Truyền bản gồm 7 tờ (14 trang) chép tay, trên giấy bổi, khổ 26,5x15,5cm. Mỗi trang gồm 8 dòng, mỗi dòng trung bình có 30 chữ. Chữ viết theo lối chân phương. Trang đầu sách có bị hư nát.
Về mặt bố cục, truyền bản có bài Lam Sơn thực lục tự đặt ở đầu sách, tiếp đến là phần trình bày diễn biến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (chép theo lối biên niên), xen giữa là đoạn nói về quê quán, nguồn gốc xuất thân và cá tính của vua, kết thúc văn bản là đoạn dặn dò nhắc nhở con cháu phải thấy sự nghiệp dựng nước của vua là vô cùng gian nan, từ đó con cháu vua phải hết sức thận trọng giữ gìn ngôi báu do vua để lại.
Tiếp sau văn bản Lam Sơn thực lục là phần Gia phả tiên tổ cơ đồ có nội dung khá dài, chiếm tới 20 tờ (tức 40 trang), chép về lai lịch tổ tiên các đời của ông cha nhà vua, quê quán, lấy vợ, sinh hạ, tử táng v.v... Văn bản trình bày khá tỉ mỉ thứ lớp các đời cho đến thế hệ con cháu thiên di vào Quảng Nam. Có lẽ đây là một bản sao ngọc phả nhà Lê, ghi chép cả các hoàng hậu, thân vương và công chúa, phân định cả đích thứ rất cụ thể.
Về mặt nội dung, nhìn chung truyền bản Lam Sơn thực lục mới phát hiện chép các sự kiện có phần vắn tắt hơn so với các truyền bản Lam Sơn thực lục đã biết trước đây. Riêng bài Tự và đoạn kết có sự chép đủ. Tuy nhiên cũng có nhiều đoạn chép kỹ và chi tiết hơn các bản đã biết, trong đó có những chi tiết không có ở các truyền bản đã công bố. Một số ghi chú về ngày tháng năm ở đây có được chú thêm niên hiệu Minh Vĩnh Lạc của Trung Quốc. Trong văn bản này không thấy chép bài Bình Ngô đại cáo như ở các bản đã biết. Điều đáng lưu ý là ở câu cuối cùng của Lam Sơn thực lục tự có chép: “Lê triều thái sử tu soạn biên lục”. Chi tiết này góp phần củng cố thêm cho nhận định rằng Lam Sơn thực lục không hẳn do Lê Lợi tự tay chép ra (dù trong bài Tự có câu “Nãi bút vu thư mục, viết Lam Sơn thực lục”), mà có thể là ông chỉ kể, còn việc ghi chép, sắp xếp, đối chiếu các sự kiện và năm tháng là do các sử quan làm, trong đó có vai trò của Nguyễn Trãi.
Tuy nội dung có khái lược hơn hẳn các bản Lam Sơn thực lục đã công bố, nhưng đem đối sách truyền bản Lam Sơn thực lục mới phát hiện với các bản đã biết chúng ta thấy có nhiều điểm được bổ sung. Chẳng hạn Lam Sơn thực lục (bản mới phát hiện) có một đoạn giai thoại khá dài nói về bà ngoại của vua Lê Thái Tổ mà các bản đã biết không có như sau: “Đương thời bà ngoại vua tên là Trịnh Thị Ngọc Thơm, thường ngày làm nghề phụ sản đỡ đẻ cho người, được mọi người nhờ vả. Vào một đêm nọ có vị Sơn quân đột nhập vào nhà bắt bà đem ra ngoài đồng, đặt bà ngồi xuống nơi bìa rừng. Bà cụ nhìn thấy vị hổ cái (vợ đấng sơn quân) đang bị bệnh nặng, nằm ngồi không được. Bà lão thấy vậy lập tức hiểu ra sự tình: Vị hổ cái ấy đang bị bệnh khó đẻ. Bà liền đi tìm thuốc và lấy nước cho hổ cái uống, lập tức sổ thai. Cái thai đã bị chết từ lâu. Thấy tình hình như vậy, lão bà lại tìm thuốc cho hổ cái uống, khiến cho tâm thần trở lại yên ổn. Rồi bà lấy nước tắm rửa sạch sẽ cho hổ cái khiến cho thân thể hổ cái trở lại mạnh khỏe như xưa. Ông cọp lập tức vái lạy ơn bà. Lúc ấy đêm đã tàn, gà bắt đầu gáy, Lão bà bèn khiếu ông hổ đưa trở lại nhà. Ông hổ đi trước, bà lão theo sau. Về đến nhà thì trời vừa sáng. Con cháu thân thích đều đến mừng rỡ. Đến đêm hôm sau, ông cọp mang tặng bà lão chiếc ấn Sơn quân để báo ơn, ông lặng lẽ đặt vật biếu ở cửa lớn. Bà lão đã đeo ấn ấy được 9 năm. Vào giờ Tý ngày mồng 6 tháng 8 năm Ất Sửu (1385) vua sinh ra đời ở tại quê mẹ. Vào đêm hôm đó ánh sáng tỏa ra đầy nhà, hương lạ xông ngát khắp cả làng. Người nhà trời xuống trợ giúp việc sinh đẻ. Vua có thiên tư tuấn dị khác thường, thần sắc tươi tốt, mắt sáng, tai to, mình tựa rồng, dáng tựa hổ...”. Đoạn giai thoại này nhằm để “thiên hóa” và giải thích cho vóc dáng giống hổ của nhà vua. Trong khi ở các bản Lam Sơn thực lục đã biết trước đây, để giải thích điều này chỉ viết: “Nguyên xưa, hồi vua chưa sinh, dưới khu rừng quế ở thôn Như Áng sau, xứ Du Sơn thuộc bản hương thường có con hổ đen thần gần với người, chưa hề làm hại ai. Nhưng từ lúc vua sinh ra vào giờ Tý ngày mồng 6 tháng 8 năm Ất Sửu thì không còn thấy con hổ nữa, người ta lấy làm lạ. Lúc vua sinh có ánh sáng đỏ đầy nhà, mùi thơm khác lạ đầy xóm. Thuở niên thiếu vua có dáng vẻ tinh anh, cương nghị, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, mày giô; vai bên trái có bảy nốt ruồi; đi tựa rồng, bước tựa hổ...”(2).
Hoặc ở trong bản Lam Sơn thực lục mới phát hiện có đoạn nói về việc vua băng hà và lễ an táng vua mà các bản Lam Sơn thực lục đã biết không nghe. Đoạn ấy như sau: “Năm Quý Sửu (1433), tháng 8 nhuận ngày 22 vua băng táng tại điện Chánh tẩm. Cùng năm tháng 9 ngày mồng 3, hỏa táng vua ở điện Cảnh Phúc. Đến ngày 23 tháng 10, đem tro cốt vua về táng ở Vĩnh Lăng tại Lam Sơn, tôn thụy hiệu là Thái Tổ Cao hoàng đế. Trong thời kỳ vua kinh dinh thiên hạ, phải đánh dẹp hết sức gian nan, thân bị nhiễm nhiều nước độc nên cơ thể bị phát chứng phù thũng, người to giống như ông Phật Hộ Pháp, do đó phải dùng lối hỏa táng để khỏi lưu truyền nghiệp sau”.
Hoặc về quê quán của vua, các bản Lam Sơn thực lục đã biết chỉ chép là ở “Thôn Như Áng, huyện Lương Giang, phủ Thanh Hóa”(1) và nói vắn tắt là vua “làm phụ đạo ở Khả Lam”(1). Nhưng ở truyền bản Lam Sơn thực lục mới phát hiện chép rất cụ thể như sau: “Vua họ Lê húy là Lợi, người sách Khả Lam, huyện Lương Giang, phủ Thanh Hóa, làm phụ đạo các thôn Lũng My, Sơn Dược, Văn Việt, Tống Tú, Hướng Dương, Như Áng thuộc sách Khả Lam.
Tại xứ Núi Dầu thuộc thôn Như Áng lúc đó có đến hơn một nghìn người dân, chia làm 3 giáp. Giáp Nội ở tại xứ Núi Dầu. Vua ở Giáp Trung thuộc xứ Biển Hồ. Còn Giáp Ngoại ở tại xứ Lộ Điệp v.v...
Hoặc có khá nhiều chi tiết khác nhau giữa các bản Lam Sơn thực lục đã biết so với bản mới phát hiện như: Ở các bản trước đây ghi chiến thắng năm Kỷ Hợi (1419) diễn ra ở bến Bổng (氵+奉津) thì ở bản mới phát hiện ghi là bến Đằng (滕津). Hoặc các bản trước đây ghi là sách Da Quan thì bản mới phát hiện ghi là sách Quan Da (mà Quan Da có lẽ hợp lý hơn, vì ngoài Quan Da chúng ta còn thấy có các địa danh Quan Du, Quan Kinh). Hoặc các bản khác ghi là thành Đa Càng thì bản mới phát hiện ghi là bảo Đa Càng (mà “bảo” (堡) có lẽ đúng hơn “thành” (城)). Hay ở các bản trước đây ghi rằng ở Chí Linh quân của nhà vua bị tuyệt lương 2 tháng, nhưng ở bản mới phát hiện lại ghi là 3 tháng v.v... Những thông tin khác nhau này là rất cần thiết đối với những người nghiên cứu lịch sử.
Ngoài ra việc nghiên cứu kỹ truyền bản Lam Sơn thực lục mới phát hiện cũng có thể cung cấp cho chúng ta một số gợi ý, suy nghĩ có ích để hiểu về lai lịch cũng như nội dung của Lam Sơn thực lục, đặc biệt là về quá trình truyền bản của Lam Sơn thực lục.
Theo tôi, có thể xem đây là một dạng truyền bản riêng của Lam Sơn thực lục, thuộc một trong những nhóm con cháu nhà Lê trên đường tỵ nạ chính trị, đã mang theo và họ đã ôm ấp giữ gìn qua bao thế kỷ tha hương(2). Cũng từ sự kiện phát hiện văn bản này mở ra cho chúng ta khả năng có thể còn tìm thêm được những truyền bản khác của Lam Sơn thực lục trong các gia đình con cháu Lê gia hoàng tộc nơi mảng đất phương Nam, ngoài địa bàn gốc là Lam Kinh-Thanh Hóa(3).
Chú thích:
1. Xem Trùng san Lam Sơn thực lục - Lê Lợi kể, Nguyễn Trãi ghi, Hồ Sĩ Dương san định, Trần Nghĩa dịch, chú thích và giới thiệu. Nxb. KHXH, H. 1992.
2. Qua Bài tựa sách Trùng San Lam Sơn thực lục(1) chúng ta được biết rằng cho đến hồi giữa thế kỷ XVII vẫn còn có khá nhiều các bản sao chép tay sách Lam Sơn thực lục của các gia đình.
3. Gần đây chúng tôi còn phát hiện thêm một bản Lam Sơn thực lục, cũng ở Quảng Nam - Đà Nẵng, tại một huyện khác, cách khá xa địa điểm đã phát hiện bản trên. Nội dung hai bản chép giống hệt nhau, chỉ xuất nhập đôi từ.
Thông báo Hán Nôm học 1996 ( tr.25-30)