4. Thể lọai từ ở Trung Quốc: nguồn gốc và sự vận động của nó xét về phương diện sáng tác (TBHN 2008)
THỂ LOẠI TỪ Ở TRUNG QUỐC: NGUỒN GỐC VÀ SỰ VẬN ĐỘNG CỦA NÓ XÉT VỀ PHƯƠNG DIỆN SÁNG TÁC
PHẠM VĂN ÁNH
Viện Văn học
Từ là một trong những thể loại có vị trí đặc biệt trong lịch sử văn học Trung Quốc. Cùng sự ảnh hưởng của văn hóa Hán, thể loại này sớm ảnh hưởng lan tỏa sang các nước Đông Á trong đó có Việt Nam. Tại Việt Nam, thể loại từ ít được giới nghiên cứu quan tâm. Trong phạm vi bài viết này, trên cơ sở tham khảo thành quả nghiên cứu của giới nghiên cứu từ học, đặc biệt là giới nghiên cứu từ học Trung Quốc, người viết lược khảo về nguồn gốc thể loại và sự vận động của thể loại từ về phương diện sáng tác. Các vấn đề khác như thành tựu của thể loại từ về phương diện lí luận từ học, thi pháp thể loại, thể loại từ ở Nhật Bản, thể loại từ ở Việt Nam, v.v… xin được trình bày trong các bài viết khác.
1. Nguồn gốc của thể loại
Từ vừa là một thể loại thơ ca hợp nhạc, bắt đầu xuất hiện vào thời Đường (618-907), phát triển khá mạnh vào thời Ngũ đại (và Thập quốc, 907-978), đạt đỉnh cao vào thời Tống (960-1279) và được sáng tác phổ biến trong các giai đoạn tiếp theo.
Từ, nguyên tên đầy đủ là khúc tử từ, ngoài ra còn có nhiều cách gọi khác như: thi dư, trường đoản cú, nhạc phủ, nhạc chương, biệt điệu, ca khúc, ngữ nghiệp...
Nguồn gốc của từ gắn với âm nhạc. Khảo cứu của các nhà nghiên cứu âm nhạc và nghiên cứu từ học Trung Quốc cho biết, khoảng thời Tùy (581-619) trở về trước, loại nhạc thanh thương lưu truyền rộng rãi. Từ thời Tấn (265-420), thông qua các con đường khác nhau, như chiến tranh, buôn bán, ngoại giao, hôn nhân..., các bản nhạc từ Tây Vực truyền vào Trung Quốc, rồi kết hợp với các loại ca nhạc dân gian bản địa, tạo ra dạng thức âm nhạc mới, gọi là yến nhạc. Yến nhạc là loại nhạc dùng diễn tấu khi yến ẩm hoặc trong các điển lễ. Khi đã có nhạc khúc, người ta dựa vào đó, điền thêm phần lời để diễn xướng, phần lời ấy gọi là “khúc tử từ” (lời cho khúc nhạc), sau gọi giản lược là “từ”. Thời Tùy, một số bài, như Kỉ Liêu Đông, về mặt hình thức đã khá giống thể từ sau này. Nhà Tùy tồn tại trong khoảng thời gian ngắn rồi sụp đổ. Sang thời Đường, từ tiếp tục phát triển. Các tác phẩm như bài Hồi ba nhạc do Thẩm Thuyên Kì (655~713), Lý Cảnh Bá (? -?)... sáng tác, về cách luật đã thống nhất. Thời Đường Trung Tông (705-707), các ca nhân trong cung đình viết lại theo bài Hồi ba nhạc để diễn xướng. Thời Đường Huyền Tông (712-713), xã hội tương đối ổn định, các bài từ dân gian phát triển mạnh. Trong số hơn 100 bài từ tìm thấy trong hang đá ở Đôn Hoàng thời Quang Tự (1875-1908) nhà Thanh (1644-1911) có nhiều bài từ thuộc giai đoạn này; thể thức cách luật: số câu, số chữ, gieo vần... về cơ bản giống với các bài từ cùng điệu thời sau (chẳng hạn các bài theo điệu Bồ tát man, Ức Giang Nam, v.v... ), nhiều bài đã đạt đến trình độ thuần thục, đi vào ổn định. Thêm nữa, qua các sách ghi chép về âm nhạc như Giáo phường kí của Thôi Lệnh Khâm (?-?) thời Đường Huyền Tông, thì giai đoạn này đã có điệu Bồ tát man; theo Bích kê mạn chí của Vương Chước (?-?) thời Tống, thời này đã có điệu Niệm Nô Kiều. Tương truyền Lý Bạch (701-762) cũng từng sáng tác nhiều bài từ, trong đó có hai bài từ điệu Bồ tát man và Ức Tần nga, được Hoàng Thăng (?-?) thời Tống xưng tụng là “Ông tổ của từ khúc trăm đời” (bách đại từ khúc chi tổ). Ngoài Lý Bạch còn có một số tác giả khác như Vi Ứng Vật (737-792?), Bạch Cư Dị (772-846), Lưu Vũ Tích (772-842)... cũng căn cứ vào khúc nhạc hiện hành viết các bài từ điệu Lãng đào sa, Hoa phi hoa, Trường tương tư, Xuân khứ dã, Ngư ca tử, ... Có thể thấy đến lúc này, thể loại từ đã được sáng tác khá phổ biến. Từ dạng thức dân gian, từ đã thực sự thu hút sự chú ý của các thi nhân đương thời, xu hướng này càng mạnh thêm vào cuối thời Đường trở đi, với sự hiện diện của các tác giả như Ôn Đình Quân (812?-866), Vi Trang (836?-910), Hoàng Phủ Tung (?-?)... số lượng sáng tác từ tăng nhanh, các điệu từ cũng ngày một phong phú.
Từ ban đầu có quan hệ chặt chẽ tòng thuộc với âm nhạc, chịu sự chế định của âm nhạc. Khoảng thời gian gắn bó “nhạc” và “lời” này khá dài, trên nửa thiên niên kỉ. Nhưng càng về sau, từ càng có xu hướng thoát li khỏi âm nhạc để trở thành một thể thức thơ ca độc lập. Xu hướng này chí ít đã thể hiện rõ nét ngay trong một số sáng tác của Tô Thức (1037-1101) thời Bắc Tống (960-1127). Đến cuối thời Nam Tống (1127-1279), do nhiều nguyên nhân khác nhau, từ nhạc mai một và dần dần thất truyền, vị trí của từ trên văn đàn cũng sa sút. Cuối thời Minh (1368-1661), hầu như không mấy từ nhân am hiểu hệ thống âm nhạc của từ. Việc làm từ khi đó chủ yếu là mô phỏng thể thức các tác phẩm vốn có, điều này gây nhiều khó khăn và dễ nhầm lẫn. Để khắc phục nhược điểm đó, Trương Diên (thế kỉ XVI) làm ra sách Thi dư đồ phổ, khái quát các đặc điểm hình thức của một số điệu từ thành khung cách luật (sách loại này sau gọi chung là từ phổ. Từ phổ đặc biệt phát triển và hoàn bị vào thời Thanh). Sự xuất hiện của từ phổ làm thay đổi tính chất của việc tác từ. Khi có sách về từ phổ, người làm từ không cần phải mô phỏng sáng tác của các nhà trước đó, không cần phải hiểu từ nhạc cũng có thể làm từ, từ chỗ phải dựa vào nhạc để viết lời (tức ỷ thanh điền từ, thẩm âm điền từ, tiên nhạc hậu từ) chuyển sang dựa vào khung cách luật sẵn có để viết lời (tức án phổ điền từ). Đến đây, từ đã trở thành một dạng thức thơ ca cách luật. Sự mai một của từ nhạc và sự xuất hiện của từ phổ còn làm nội dung phản ánh và phong cách nghệ thuật của từ có những biến đổi quan trọng.
2. Sự vận động của thể loại từ ở Trung Quốc về phương diện sáng tác
2.1. Sáng tác từ thời Đường - Ngũ đại: từ xuất hiện vào thời Đường, bắt đầu bằng các sáng tác dân gian. Trước đây, các nhà từ luận ít biết đến các sáng tác từ dân gian, đặc biệt là sáng tác từ dân gian thời Đường. Năm Quang Trị thứ 25 (1899), khi kho sách ở Đôn Hoàng - Cam Túc được phát hiện, hàng vạn cuốn sách, trong đó có các tác phẩm từ sau hàng ngàn năm nằm yên trong hang động thì nay đã xuất hiện trở lại. Năm 1950, Vương Trọng Dân sưu tập các tác phẩm từ Đôn Hoàng còn lại ở Trung Quốc và bộ phận đã tản mác đi các nước, biên tập thành sách Đôn Hoàng khúc tử từ tập (Thương vụ ấn thư quán, 1950). Sách Đôn Hoàng khúc tử từ thu thập được 161 bài từ, chủ yếu là từ dân gian, trong số đó chỉ có một số lượng rất ít bài xác định được tác giả. Các tác phẩm trên, về thời gian sớm nhất là vào thời Thịnh Đường, muộn nhất là Vãn Đường. Phạm vi tác giả các bài từ khá rộng. Phần Tự lục sách Đôn Hoàng khúc tử từ cho biết:
“Những bài từ thu thập trong sách này có lời ngâm nga của người biên khách, du tử; có giọng tráng ngữ của bậc nghĩa sĩ, trung thần; có cái di tình duyệt chí của bậc quân tử ẩn cư, niềm hoài vọng, thất vọng của kẻ thiếu niên học tử, cho tới những lời tán tụng của đệ tử Phật môn, ca quyết của thầy thuốc, không điều gì không phổ vào điệu từ”.
Do thành phần tác giả phong phú nên nội dung các các tác phẩm từ thời này cũng rất rộng, nào chí báo quốc, niềm trung quân, than đời loạn, vịnh cảnh sắc, hứng ẩn dật, hận chia li... nào nỗi khốn khổ của thân lính chiến, niềm sầu hận của người chinh phụ nơi phòng khuê... nào sự tán tụng đức Phật, yếu quyết trị bệnh, v.v... không điều gì không được thể hiện trong từ(1).
Từ Đôn Hoàng thuộc các sáng tác giai đoạn đầu tiên, mang tính chất của thời kì sơ khởi, còn nhiều nét giống với thơ và dân ca. Về thể thức cũng chưa đạt mức thuần thục, tính hợp nhạc, cách dùng chữ, gieo vần... chưa thực chặt chẽ.
Trong các sáng tác từ dân gian Đôn Hoàng hiện còn tập từ Vân dao tập tạp khúc tử (gọi tắt là Vân dao tập). Vân dao tập là từ tập sớm nhất hiện còn. Theo khảo sát của các nhà nghiên cứu từ học Trung Quốc, từ tập này ra đời “không thể muộn hơn năm Càn Hóa nguyên niên thời Hậu Lương (911), so với Hoa gian tập (biên tập năm Quảng Chính thứ 3 triều Hậu Thục, 940), sớm hơn gần 30 năm”(2).
Vân dao tập gồm 30 bài, trong đó có nhiều bài đề cập đến chuyện tình yêu trai gái, là yếu tố sẽ được Hoa gian tập sau này kế thừa và phát huy.
Thành tựu nghệ thuật của các tác phẩm từ giai đoạn này không đồng đều, mang rõ đặc điểm của giai đoạn khởi đầu; một số bài ngôn từ còn thô phác, câu chữ trùng lặp. Dù vậy, từ Đôn Hoàng nhìn chung giàu hơi thở cuộc sống, “thuần phác đáng ưa” (Chu Tổ Mưu: Vân dao tập tạp khúc tử - Bạt).
Thể loại từ từ dân gian phát triển đến một mức độ nhất định thì thu hút sự chú ý của các văn nhân, đặc biệt là từ giai đoạn Thịnh Đường. Về phương diện chủ thể sáng tác, đây là sự thay đổi về chất. Sự thay đổi ấy khiến cho chất lượng nghệ thuật của từ cũng được nâng lên một tầm cao mới.
Hiện còn một số tác phẩm từ của các văn nhân thời Thịnh Đường, trong số đó có các tác phẩm của Thi Tiên Lý Bạch. Lý Bạch sáng tác 18 bài từ, trong số đó nổi tiếng nhất là 2 bài từ điệu Bồ tát man và Ức Tần nga, được các đời sau đánh giá rất cao, tôn xưng là “Tổ của từ khúc trăm đời” (Bách đại từ khúc chi tổ - Lời Hoàng Thăng thời Tống trong Đường Tống chư hiền tuyệt diệu từ tuyển). Đến thời Trung Đường (766-827), văn nhân sáng tác từ đã thành phong khí phổ biến. Các thi nhân nổi tiếng như Trương Chí Hòa (?-773), Vi Ứng Vật (737-792?), Đới Thúc Luân (732-789), Lưu Vũ Tích (772-842), Bạch Cư Dị... cũng đều từng sáng tác từ.
Theo Đường Ngũ đại từ, từ của các văn nhân thời Đường hiện còn 161 bài, có sự góp mặt của nhiều văn nhân nổi tiếng. Tuy nhiên sáng tác từ so với sáng tác thuộc các thể loại khác của họ, hoặc so với sáng tác từ của các từ gia giai đoạn sau ít nhiều cho thấy tính chất “không chuyên” của các tác giả. Các văn nhân nổi tiếng như Lý Bạch hiện còn 18 bài từ, Lưu Vũ Tích còn 47 bài, Bạch Cư Dị còn 37 bài... số lượng từ so với sáng tác thơ của các tác giả này rõ ràng chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ.
Nội dung phản ánh trong các tác phẩm từ của các văn nhân rất phong phú, có tỏ bày chí hướng, nỗi lo toan cuộc sống, nhớ nhung li biệt, nhớ quê hương, cảnh tiên, cảnh ẩn dật, thưởng xuân, khuê oán, vịnh sử, vịnh vật, ngâm vịnh sơn thủy, ca tụng công lao... trong số đó, những nội dung như ẩn dật, vịnh sử... hầu như không có trong các tác phẩm từ dân gian. Rõ ràng sự góp mặt của các văn nhân không chỉ nâng cao chất lượng nghệ thuật của từ mà còn góp phần làm phong phú thêm phạm vi phản ánh của thể loại.
Mặc dù nội dung phản ánh trong từ thời Đường rất rộng, song những yếu tố gọi là “khuê tình hoa liễu” đã thể hiện rõ “tính trội” của nó, chiếm tỉ lệ 40 %(3). Đây là yếu tố sẽ được các từ nhân thuộc Hoa gian phái kế thừa và phát huy.
Cuối thời Đường và Ngũ đại là giai đoạn suy loạn, chiến tranh liên miên hơn 60 năm (907-974), cục diện chính trị hết sức rối ren, dân chúng Trung nguyên sống trong cảnh khốn khổ. Nhưng ở một số khu vực như Tây Thục, Nam Đường, tình hình vẫn khá yên ổn, kinh tế cũng có những bước phát triển nhất định. Trong hoàn cảnh ấy, các đế vương cát cứ và đại thần, văn nhân ở những khu vực này phần lớn không có hùng tâm tráng chí, không lo toan việc trị nước, chỉ ham cầu an, đắm chìm trong thanh sắc, ra sức chuốt gọt văn từ để mua vui trong các cuộc chơi nơi đài ca vũ tạ. Phái Hoa gian và Nam Đường ra đời trong hoàn cảnh ấy.
Phái từ Hoa gian: vào năm Quảng Chính thứ 3 (940), Triệu Sùng Tộ (?-?) nhà Hậu Thục (934-965) tập hợp các tác phẩm từ của Ôn Đình Quân, Vi Trang (836?-910), Âu Dương Quýnh (896-971), Hòa Ngưng (898-955), Tôn Quang Hiến (900-968)... gồm tất cả 18 tác giả với 500 bài, biên tập thành Hoa gian tập. Hoa gian tập là tổng tập từ văn nhân đầu tiên của Trung Quốc, phong cách từ của các tác giả khá thống nhất, được đời sau gọi chung là các “Từ nhân Hoa gian” hay “Hoa gian phái”.
Hoa gian phái là bước phát triển mới của thể loại từ, xác lập những tiêu chí mẫu mực về cách luật, ngôn từ, phong cách... làm cơ sở cho sự phát triển của thể loại từ các đời sau, được coi là “Ỷ thanh điền từ chi tổ” (Trần Chấn Tôn: Trực Trai thi giải đề).
Trong tác phẩm này, lần đầu tiên xuất hiện khái niệm “Thi khách khúc tử từ” (Hoa gian tập - Tựa). Hai chữ “thi khách” đã mặc định đây là tập từ của các văn nhân, có sự phân biệt rạch ròi với sáng tác từ dân gian.
Nếu như từ thời Đường nội dung phản ánh khá rộng lớn, đa dạng, giàu hơi thở cuộc sống thì nội dung của từ giai đoạn này dần thu hẹp lại, mặc dù có tới hơn 20 loại đề tài khác nhau (Hà Tôn Phái: Bàn về loại hình đề tài trong Hoa gian tập) nhưng nội dung chủ yếu “nghiêng về miêu tả phấn sáp quần thoa, hoa liễu phong nguyệt, tả cuộc sống, dung mạo nữ nhân, đặc biệt là cuộc sống nội tâm của họ”(4). Cho nên: ngôn tình thì không ngoài thương xuân thương biệt; nói cảnh thì không ngoài chiếu tiệc cuộc ca, hoa viên đài tạ, biệt thất khuê phòng; nói đến người thì trai gái yêu đương, cung nhân ai oán, thiếu nữ hoài xuân... Tương ứng với các nội dung ấy, về phong cách nghệ thuật từ trong Hoa gian tập thiên về các yếu tố âm nhu nữ tính, ngôn từ diễm lệ, tình cảm nồng nàn; có tới 4/5 các bài nói về tình yêu trai gái, đặc biệt sính miêu tả phụ nữ với trạng thái tâm trạng kiểu “không vui sum họp cũng sầu chia phôi”. Quá nửa các bài trong Hoa gian tập được viết với ngôn ngữ diễm lệ, thủ pháp trữ tình uyển chuyển hàm súc, đôi khi đạt mức tinh vi; lời đẹp mà tình nồng, mang xu hướng duy tình và duy mĩ(5). Ở từ thời Đường, yếu tố diễm tình tuy đã chiếm tỉ lệ cao, song nếu so với Hoa gian phái thì tỉ lệ ấy còn quá khiêm nhường, vì “500 bài trong Hoa gian tập đều là lấy cái diễm ngữ để tả cái diễm tình(6), xác lập cơ sở vững chắc cho truyền thống “diễm khoa” của thể loại từ.
Tiêu biểu cho các tác giả Hoa gian phái là Ôn Đình Quân. Ôn Đình Quân tuy là người cuối thời Đường nhưng do tác phẩm được chọn xếp đầu tiên trong Hoa gian tập, mang phong cách chung của phái từ Hoa gian nên các nhà luận từ cũng như các nhà nghiên cứu từ học xếp Ôn Đình Quân vào Hoa gian phái của thời Ngũ đại, thậm chí coi ông là “Hoa gian tị tổ” (ông tổ của phái Hoa gian). Ôn Đình Quân chuyên viết về phụ nữ, về khuê tình nên đề tài trong từ của ông rất hẹp, lại sực mùi phấn sáp, tạo nên phong cách “thơm tho mà lả lướt” (Tôn Quang Hiến: Bắc mộng tỏa ngôn). Với tư cách là “tị tổ” của phái Hoa gian, phong cách từ do Ôn Đình Quân tạo ra có ảnh hưởng quan trọng đến các từ nhân đời sau, nhất là các từ nhân thời Ngũ đại, như: Hòa Ngưng, Ngưu Kiểu (850~920), Âu Dương Quýnh...
Phái từ Nam Đường: cũng như Tây Thục, vua tôi triều Nam Đường mê mải trong cuộc sống hưởng lạc, lấy đàn ca tửu sắc, giai từ diễm khúc thay cho những mưa toan quốc sự. Do có hàm dưỡng cao về văn hóa, lại gắn với cuộc sống cung đình nên từ của họ sáng tác đạt thành tựu rất cao.
Lực lượng sáng tác của phái từ này chủ yếu là vua tôi triều Nam Đường, đặc biệt là ba tác giả: bậc nguyên lão Phùng Diên Tị (903 - 960), Nam Đường Trung chủ Lý Cảnh (916 - 961) và Nam Đường Hậu chủ Lý Dực (937 - 978). Thống kê qua Đường Ngũ đại từ, chỉ tính riêng về số lượng sáng tác của ba tác giả này đã chiếm hơn 3/4 tổng số các sáng tác từ của thời Nam Đường. Riêng Phùng Diên Tị, số lượng sáng tác không những đứng đầu thời Nam Đường mà còn đứng đầu thời Ngũ đại(7).
Phùng Diên Tị là đại thần của triều Nam Đường, từng làm quan đến chức Tể tướng, rất có danh vọng đương thời. Nội dung các sáng tác của Phùng Diên Tị tuy không vượt ra khỏi các đề tài quen thuộc của các sáng tác thời Ngũ đại như viết về phụ nữ, về nỗi li sầu biệt hận, hoa liễu phong tình... nhưng nhìn chung không nồng mùi phấn sáp như Hoa gian phái. Phùng Diên Tị có nhiều bài từ xuất sắc, ngôn ngữ trong sáng, tình ý thiết tha, đặc biệt là phương diện sáng tạo hình tượng và nghệ thuật biểu hiện của từ. Bằng các tác phẩm của mình, Phùng Diên Tị không chỉ xác lập vị trí đặc biệt trong phái từ thời Nam Đường mà còn tạo ảnh hưởng quan trọng đến một số tác giả đời sau, nhất là Yến Thù (991-1055) và Âu Dương Tu (1007-1072). Đánh giá về Phùng Diên Tị, sách Cổ kim từ thoại của Vương Quốc Duy (1877-1927) cho rằng: “Phùng Chính Trung tuy không vượt ra khỏi phong cách từ của thời Ngũ đại song tầm vóc đặc biệt lớn lao, khai mở cho phong khí từ của thời Bắc Tống”.
Tác giả quan trọng nhất thời Nam Đường là Nam Đường Hậu chủ Lý Dực. Khi Lý Dực lên ngôi, triều Nam Đường đã trải qua một thời gian dài suy yếu, đang bị triều Tống khống chế, hàng năm phải triều cống cầu an. Cũng giống như vua cha là Lý Cảnh, Lý Dực không có tài năng trị nước, không có hoài bão chính trị, chỉ ham hưởng lạc, chìm đắm trong thanh sắc. Năm Thiên Bảo thứ 8 (976), quân Tống tấn công tiêu diệt Nam Đường. Tương truyền ngày thành Kim Lăng bị hạ, Lý Dực vẫn ở trong chùa ngồi nghe giảng kinh. Nam Đường bị diệt, Lý Dực bị bắt cầm tù 2 năm ở Biện Kinh, rồi bị ép uống thuốc độc chết.
Lý Dực là người tài năng về nghệ thuật, đặc biệt là về thơ, từ, hội họa, thư pháp, âm nhạc. Tác phẩm từ của ông hiện còn hơn 30 bài, số lượng tuy không thực lớn nhưng đạt thành tựu nghệ thuật cao, được đánh giá là một trong những từ nhân hàng đầu trong lịch sử. Đàm Hiến cho rằng: “Từ của Hậu chủ đủ sánh với các bài thơ của Lý Bạch, cao kì vô địch” (Đàm Bình từ biện).
“Lớn lên trong tay phụ nhân, đó là cái sở đoản của vị vua Hậu chủ, cũng là cái sở trường của từ nhân” (Vương Quốc Duy: Nhân gian từ thoại). Do ít tiếp xúc với cuộc sống bên ngoài nên Lý Dực vẫn giữ được trọn vẹn cái “tâm con đỏ”. Sự non nớt và ấu trĩ trong trải nghiệm cuộc sống là điều tối kị đối với một vị quân vương, nhất là một quân vương ở nước nhỏ đang bị nước lớn đe dọa và âm mưu thôn tính như Nam Đường, nhưng lại là yếu tố quan trọng tạo nên sự thuần chân về cảm xúc trong các sáng tác. Có thể nói sự chân thực trong cảm xúc là yếu tố quan trọng, xuyên suốt trong các sáng tác của Lý Dực, tạo nên sức rung cảm mãnh liệt và lâu bền. Ở giai đoạn đầu, tác phẩm của Lý Dực phần lớn viết về cuộc sống nơi cung đình (như các bài từ điệu Ngọc lâu xuân, Cán khê sa...), tuy đạt thành tựu nghệ thuật cao nhưng về nội dung không có gì đặc biệt, không vượt ra khỏi khuôn khổ những đề tài quen thuộc của thể loại từ thời Ngũ đại. Bước đột biến trong sáng tác từ của Lý Dực là các sáng tác từ sau khi Nam Đường bị tiêu diệt. Tác giả từ thân phận là quân vương của một nước bị biến thành tù nhân, bị lăng nhục, “sớm tối lấy nước mắt rửa mặt”. Đối với cá nhân tác giả, đây thực sự là một bi kịch tinh thần, từ đây, trong các sáng tác của Lý Dực, không khí của cuộc sống cung đình chấm dứt, tất cả chỉ còn là niềm hoài vọng, là nỗi hận lòng lâu dài và sâu sắc (Như điệu từ Ngu mĩ nhân: Xuân hoa thu nguyệt hà thời liễu... - Trăng thu, hoa xuân bao giờ hết...).
Các sáng tác từ thời Ngũ đại phần lớn nhằm đáp ứng cho các cuộc tiêu khiển trước chén trong hoa nên đề tài rất hẹp, lấy miêu tả phụ nữ, li sầu biệt hận làm căn bản. Việc Lý Dực đem tình cảnh nước mất nhà tan của mình phổ vào từ đã mở rộng phạm vi đề tài của từ thời Ngũ đại. Tuy chủ đề những bài từ của ông cơ hồ chỉ có một, nhưng cấu tứ khác nhau nên nghệ thuật biểu đạt phong phú. Đánh giá tổng quan về các sáng tác từ của Lý Dực, Vương Quốc Duy cho rằng: “Thể loại từ đến Lý Hậu chủ tầm nhìn mới rộng, cảm khái mới sâu, mới biến từ của nhạc công thành từ của sĩ đại phu” (Nhân gian từ thoại).
2.2. Sáng tác từ thời Tống: thời Tống, từ phát triển lên đến đỉnh cao. Thứ nhất, do nhà Tống thi hành chính sách “sùng văn ức võ”, trọng dụng văn thần. Thứ hai, do có sự phát triển mạnh mẽ của các đô thị (xem các sách như Đông Kinh mộng hoa lục của Mạnh Nguyên Lão, Vũ Lâm cựu sự của Chu Mật, Tây Hồ phồn thắng lục của Tây Hồ Lão Nhân...). Nói về thành tựu của từ giai đoạn này, Vương Quốc Duy cho rằng Tống từ đã đạt đến mức là “văn học của một thời đại mà các đời sau chẳng thể nào theo kịp” (Tống Nguyên hí khúc sử - Tự tựa). Sự phát triển của thể loại từ thời Tống thể hiện ở một số điểm cơ bản: phát triển vượt bậc về số lượng tác giả - tác phẩm, hoàn thiện về thể thức, thuần thục về nghệ thuật, đa dạng về phong cách và nội dung biểu đạt. Chỉ xét riêng về tác giả, các từ nhân thuộc hạng “tự thành nhất gia” có đến mấy chục người, tiêu biểu như: Liễu Vĩnh (987~1053), Trương Tiên (990-1078), Tần Quán (1049-1100), Tô Đông Pha (1037-1101), Chu Bang Ngạn (1057-1121), Lý Thanh Chiếu (1084-1151), Tân Khí Tật (1140-1207), Khương Quỳ (1155~1211), Ngô Văn Anh (1212~1272)...
Tác giả quan trọng mở đầu từ thời Tống là Yến Thù. Yến Thù, từng làm quan đến chức Tể tướng, được xưng tụng là “Bắc Tống ỷ thanh gia sơ tổ” (Vị thủy tổ của các nhà điền từ thời Bắc Tống - Phùng Hú: Cảo Am luận từ). Nếu phong cách từ của Yến Thù còn tương đối giống với Phùng Diên Tị thời Nam Đường thì các tác giả ngay sau đó đã cố gắng tìm tòi và cách tân. Phạm Trọng Yêm (989-1052) mở đầu cho dòng từ ngôn chí thời Tống. Trương Tiên (990-1078) cách tân về thể thức và nâng cao địa vị của từ so với thơ ca. Vương An Thạch (1021-1086) thoát li trọn vẹn phong khí từ của thời Ngũ đại, thể hiện hoài bão và suy tư về hiện thực xã hội. Liễu Vĩnh sáng tạo nhiều điệu từ dài (mạn từ), mở rộng đề tài của từ. Tô Đông Pha nâng cao địa vị của từ, có xu hướng đưa từ thoát li khỏi sự bó buộc của âm nhạc, bứng trồng các thủ pháp của thơ vào từ, “lấy thơ làm từ”, khiến cho từ “không gì không thể viết, không gì không thể đưa vào”, lại tăng cường yếu tố nam tính cho từ, khiến từ trở nên gần gũi với thơ ca. Tô Đông Pha là người khai mở phong cách từ Hào phóng.
Sang thời Nam Tống, từ tiếp tục phát triển với nhiều đại diện xuất sắc như Lý Thanh Chiếu, Tân Khí Tật, Khương Quỳ, Ngô Văn Anh… Mỗi từ nhân có đóng góp riêng cho sự phát triển của thể loại từ. Lý Thanh Chiếu tăng cường nhạc tính, tính điển nhã của từ. Tân Khí Tật “lấy văn làm từ”, tiếp nối dòng từ Hào phóng, kết hợp giữa tính trữ tình và ngôn chí, lại truy cầu cái đẹp trong hào khí tung hoành, hùng tráng của kẻ anh hùng giữa trời đất. Khương Quỳ đề tự cho từ (từ tự), nhã hóa ngôn ngữ từ. Ngô Văn Anh tiếp tục viết mạn từ, từ của ông biến thực thành hư, hư hư thực thực, “nhân vật chẳng phải sĩ cũng không phải ẩn”, “thế giới nghệ thuật chẳng mộng chẳng huyễn”(8). Không chỉ vậy, Ngô Văn Anh còn đảo lộn kết cấu của từ, không trình bày các tình tiết theo trật tự thời gian, không gian, khiến thế giới nghệ thuật từ của ông trở nên mông lung, khó nắm bắt.
2.3. Sáng tác từ thời Kim - Nguyên: nhà Kim (1115-1234) do tộc người Nữ Chân lập ra. Sau khi đánh bại Bắc Tống, nhà Kim và Nam Tống thường giao tranh với nhau. Sau, Mông Cổ (1260-1368) mở rộng chiến tranh, nhà Kim rơi vào cảnh lưỡng đầu thọ địch rồi cùng Nam Tống đều bị Mông Cổ tiêu diệt.
Nhà Kim tiếp thu hệ thống âm nhạc, trong đó có từ nhạc và văn hóa của nhà Tống, nhà Nguyên kế thừa văn hóa của nhà Kim. Tuy nhiên hai triều đại này đều có nét văn hóa riêng của mình.
Hai triều Kim - Nguyên xuất hiện sau khi Tống từ đã đạt thành tựu rực rỡ, do đó lấy kế thừa làm căn bản, ít có cách tân. Thống kê trong Toàn Kim Nguyên từ của Đường Khuê Chương (Trung Hoa thư cục 1979) có tất cả 282 tác giả với 7290 bài từ, trong đó có 70 tác giả với 3572 bài thuộc thời Kim, 212 tác giả với 3721 bài thuộc thời Nguyên. So với thời Tống thì từ thời Kim - Nguyên sút kém hơn cả về số lượng và chất lượng, nhất là chất lượng; phong cách nghệ thuật khá đơn điệu, “thiên hạ phi Tô thị Hoàng” (thiên hạ không theo phong cách của Tô Đông Pha thì theo Hoàng Đình Kiên, 1045-1105). Về nội dung chủ yếu là lời khảng khái bi thương, ít nhiều gửi gắm nỗi niềm hoài niệm “cố quốc”.
Từ vốn là thể loại văn học gắn bó chặt chẽ với âm nhạc, nhưng cuối thời Tống, “phong khí đương thời, văn sĩ không trọng âm luật, nhạc công không trọng văn từ, hai bên theo hai đường khác nhau, đó là mấu chốt làm cho âm nhạc và văn chương của từ phân tách nhau...” (Sái Trinh: Nhạc phủ chỉ mê tiên thích). Cuối Tống, nhạc phổ dần mất mát, thêm nữa, các tác gia thời Kim - Nguyên lại sùng thượng từ của Tô Đông Pha, một từ nhân có phong cách từ phóng khoáng, ít chú trọng đến tính chất âm nhạc nên chỉ “phỏng thanh bằng trắc, chắp vá thành bài” (Ngô Tập: Diệp Tống Anh tự độ khúc phổ tự). Đến thời Nguyên, “người Nguyên phần nhiều không rành cung thương”(9). Từ nhạc suy vi khiến việc tác từ bị hạn chế. Không chỉ vậy, việc không hiểu tính chất âm nhạc của từ còn ảnh hưởng đến diễn xướng, khiến từ mất dần môi trường văn hóa và con đường quảng bá của nó.
Xét từ góc độ tâm lí văn hóa, người phương Bắc tính cách hào phóng, quật cường nên không sùng chuộng kiểu “Nam tử hán tác khuê âm”. Đây cũng là lí do tại sao từ thời Kim Nguyên lại chuộng phong cách từ của các tác giả phái Hào phóng. Bên cạnh đó, Bắc khúc “đại để là thứ âm thanh sát phạt của người Liêu người Kim ở phương Bắc, rất mực hào tráng, là lời ca của kẻ võ phu trên lưng ngựa, truyền vào Trung nguyên, dần dà được dân gian yêu chuộng” (Từ Vị: Nam từ tự lục), do vậy mà nó phát triển mạnh mẽ và thay thế địa vị “văn học thời đại” của từ.
Tác giả đáng chú ý thời này có Nguyên Hiếu Vấn (1190-1257?) và Chu Mật (1232-1298), song xét ở góc độ đóng góp cho sự phát triển của thể loại cũng không có gì đáng kể. Chẳng hạn Nguyên Hiếu Vấn được coi là lãnh tụ trên từ đàn thời Kim nhưng từ của ông chủ yếu tiếp thu tư tưởng sáng tác của Tô Thức và Tân Khí Tật, ngoài ra có tiếp thu phong cách nghệ thuật của các tác giả như Yến Thù, Tần Quán,... rốt cục không thành một phong cách riêng biệt ngang tầm các danh gia thời Bắc Tống, đáng cho hậu thế lấy làm khuôn mẫu.
2.4. Sáng tác từ thời Minh: năm 1368, Chu Nguyên Chương (1328-1398) lên ngôi, lập ra nhà Minh (1368-1661). Thể loại từ thời Minh tương tự như thời Kim - Nguyên, kém Tống, thua Thanh. Về cơ bản, các nhà luận từ đều đánh giá đây là giai đoạn suy vi của từ. Lâm Xương Di viết: “Nhà Minh của họ Chu tồn tại ba trăm năm, thi nhân lác đác xuất hiện nhưng từ học không được chấn hưng” (Hải thiên cầm tư tục lục), Đinh Thiệu Nghi cũng nhận xét tương tự: “Bàn về thời Minh thì từ cơ hồ đã thất truyền” (Thính Thu Thanh quán từ thoại). Thực tế có lẽ không đến mức như các nhà từ luận thời quân chủ nhận xét. Số lượng tác giả và tác phẩm từ thời Minh theo Toàn Minh từ có 130 tác giả với hơn 2 vạn bài. Số lượng ấy không thua kém so với thời Tống, cho thấy vẫn có nhiều tác giả dụng công tác từ, tuy về thành tựu nghệ thuật có sút giảm. Nếu thời Kim - Nguyên, các từ gia sùng chuộng phong cách từ của phái Hào phóng thì giai đoạn này lại bị ảnh hưởng sâu sắc của hai từ tập là Hoa gian tập và Thảo Đường thi dư, từ phong có xu hướng trở lại với từ phong của phái Uyển ước. Bên cạnh đó, có từ gia theo phong cách từ Hào phóng như trường hợp Trần Đình (thế kỉ XVI), lại có các từ gia sáng tác theo tinh thần của lý học, phổ vào từ những suy tư sâu sắc trong sự chiêm nghiệm về cuộc sống và nhân sinh, làm phong cách từ thời Minh có những nét riêng so với các giai đoạn trước. Đội ngũ từ gia tiêu biểu giai đoạn đầu thời Minh có Lưu Cơ (1311-1375), Dương Cơ (1326-1381), Cao Khải (1336-1374), Cù Hựu (1347-1427)... Giai đoạn từ niên hiệu Hoằng Trị (1488-1505) đến Gia Tĩnh (1522-1566) có Dương Thận (1488-1559), Trương Diên, Văn Trưng Minh (1470-1559), Trần Như Luân (1499-1552), Ngô Thừa Ân (1500~1582)... Giai đoạn từ niên hiệu Long Khánh (1567-1572) đến Vạn Lịch (1647-1661) có Vương Thế Trinh (1526-1593), Từ Vị (1521-1593), Thang Hiển Tổ (1550-1616), Thang Truyền Doanh (1620-1644)... Giai đoạn cuối thời Minh, từ nhân tương đối nổi bật là Trần Tử Long (1608-1647).
Xét về đội ngũ sáng tác từ thời Minh so với các giai đoạn trước có nét đặc biệt hơn, đó là sự hiện diện của các nữ từ nhân. Thời Tống có Lý Thanh Chiếu, Chu Thục Chân (?-?), cả hai đều là các nữ từ gia kiệt xuất nhưng cơ hồ chỉ là hiện tượng cá biệt. Sách Lâm hạ từ tuyển của Chu Minh thời Thanh tuyển chọn tác phẩm của 51 nữ từ nhân thời Minh, sách Lịch đại danh viên từ tuyển con số nữ từ nhân thời Minh được tuyển trong sách này lên tới 86 người, so với thời Tống rõ ràng số lượng tăng tiến vượt bậc. Sự xuất hiện của các nữ từ nhân ít nhiều làm thay đổi diện mạo của từ đàn.
Nhìn chung sáng tác từ thời Minh không đạt thành tựu đặc biệt. Đóng góp quan trọng của từ học giai đoạn này chủ yếu thể hiện ở các phương diện như nghiên cứu về từ vận, phê bình từ sử, và đặc biệt là sự xuất hiện của từ phổ.
2.5. Sáng tác từ thời Thanh: thời Thanh, từ bước sang một giai đoạn mới, nhiều thành tựu, được đánh giá là giai đoạn phục hưng của từ tuy nó không còn là thứ “văn học của thời đại” nữa.
Những biến động chính trị cuối Minh đầu Thanh cho tới những sự kiện chính trị quan trọng của thời đại như chiến tranh Nha phiến, sự xâm nhập của liên quân tám nước vào Trung Quốc đều có những tác động quan trọng vào tâm tư tình cảm của các từ nhân thời Thanh. Do vậy, so với Tống từ, từ thời Thanh có diện phản ánh rộng lớn và phức tạp hơn, ranh giới giữa từ và thơ đến đây mờ nhạt hẳn, quan niệm “thi trang từ mị” (thơ trang trọng, từ lả lướt), hay quan niệm cho từ là “bạc kĩ”, “tiểu kĩ”... đến lúc này qua sự nỗ lực của các nhà từ học kiêm học giả như Chu Di Tôn (1629-1709), Trương Huệ Ngôn (1761-1802), Vương Quốc Duy... bị đả phá hoàn toàn. Thời Thanh xuất hiện nhiều phái từ, như phái từ Dương Tiện, Chiết Tây, Thường Châu... mỗi phái từ có quan niệm sáng tác riêng, gây ảnh hưởng rộng rãi.
Đây là thời kì sáng tác từ nở rộ, đạt mức chưa từng thấy, số lượng tác giả, tác phẩm nhiều hơn tất cả các giai đoạn trước cộng lại. “Chỉ tính từ nhân hai đời Thuận Trị (1644-1661) và Khang Hi (1662-1722), tác giả đạt đến 2100 người, tác phẩm từ đạt đến trên 5 vạn bài. Theo đó mà xét, từ nhân thời Thanh có khoảng trên 1 vạn, tác phẩm lên tới hơn 20 vạn bài”(10). Đội ngũ sáng tác từ thời Thanh đông đảo, có những điểm khác với các giai đoạn khác, ngoài các văn nhân, các nữ từ gia còn có các tác giả vốn có hàm dưỡng cao về kinh học. Sự hoàn bị của các sách về từ phổ, từ vận; sự phát triển của lý luận và sự áp dụng lý luận vào sáng tác… cũng là những nguyên nhân quan trọng khiến từ thời Thanh phát triển mạnh mẽ và có thêm những màu sắc mới mẻ.
Có thể thấy từ là một thể loại có vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử văn học Trung Quốc, từ khi xuất hiện đến hết thời Thanh thể loại này đã trải qua nhiều giai đoạn, có khi đạt đến đỉnh cao, thành thứ “văn học của thời đại” song cũng có giai đoạn suy yếu, rồi phục hưng... nhưng nhìn chung, cho đến hết thời Thanh, thể loại này vẫn phát triển khá liên tục, chưa hề bị đứt gãy hoàn toàn.
Chú thích:
(1) Dư Truyền Bằng: Đường Tống từ lưu phái nghiên cứu, Vũ Hán xuất bản xã, Vũ Hán, 2004, tr.4 (余傳棚 (2004): 唐宋詞流派研究, 武漢大學出版社).
(2) Viên Hành Bái (chủ biên): Trung Quốc văn học sử, Cao đẳng Giáo dục xuất bản xã, Bắc Kinh, 1999, Tập III, tr.447 (袁行霈 (1999): 中國文學史 (I, II, III), 高等教育出版社).
(3) Dư Truyền Bằng, Sđd, tr.104.
(4) Viên Hành Bái, Sđd, tập III, tr.451.
(5) Dư Truyền Bằng, Sđd, tr.29.
(6) Dư Truyền Bằng, Sđd, tr.31.
(7). Viên Hành Bái, Sđd, Tập III, tr.453.
(8) Viên Hành Bái, Sđd, Tập III, tr.108.
(9) Đinh Phóng: Kim Nguyên từ học nghiên cứu, Trung Quốc Xã hội Khoa học xuất bản xã, Bắc Kinh, 2002, tr.30 (丁放 (2002); 金元詞學研究, 中國社會科學出版社).
(10) Trương Hoằng Sinh: Thanh đại từ học đích kiến cấu, Giang Tô Cổ tịch xuất bản xã, Giang Tô, 1988, tr.1 (張宏生 (1988): 清代詞學的建構,江蘇古籍出版社)./.
Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.58-75