4. Thơ vịnh chợ Trời Sài Sơn (TBHNH 1998)
THƠ VỊNH CHỢ TRỜI SÀI SƠN
NGUYỄN VĂN BÁ
Đại học Văn hoá Hà Nội
Chợ trời là khu đất tương đối bằng phẳng trên đỉnh Sài Sơn thuộc làng Thụy Khê, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Từ dưới chân núi leo lên đường đi gập gềnh, vượt qua quãng đường dài chừng 500m. Quãng đường không xa, nhưng đá núi gồ ghề, khách phải luồn lách mới đi được, song chính những thớ đá tai mèo gập ghềnh ấy lại lôi cuốn bước chân của du khách.
Nhân chuyến đi công tác thực địa ở chùa Thầy, chúng tôi được sư thầy trụ trì ở đó đưa cho xem tập thơ, thấy có mấy bài thơ Nôm vịnh chợ Trời rất có ý nghĩa mà lâu nay ít người biết đến. Nhân dịp Hội nghị Thông báo Hán Nôm họp đầu năm 1999, chúng tôi xin tuyển chọn, phiên âm, chú giải 5 bài thơ Nôm, để giới thiệu cùng bạn đọc, những mong cung cấp được những tư liệu cần thiết cho việc nghiên cúu khu thắng tích Sài Sơn.
Toàn văn 5 bài thơ đó là:
Bài 1(1):
Dạo cảnh lên qua đỉnh chợ trời
Mua trời quả núi để về chơi.
Của kho tạo vật là bao vạn
Cân giá Thiên bình(2) đáng mấy mươi.
Mây nước bày hàng mười sáu ngọn
Gió giăng mặc cả một đôi lời.
Đem về nay dẫu không văn tự.
Đã có thiên thư(3) nắm vững rồi.
Bài 2:
Mua danh bán lợi ngán cho đời
Để vắng bao lâu cảnh chợ trời.
Vầng đỏ(4) chiều đông chồi lá vỗ.
Gió vàng phiên trước cánh hoa rơi.
Đầu cầu ngưu nữ mây man mác
Hàng nước rồng tiên cuội khểnh khơi.
Nên nỗi thằng kia ăn cắp chợ.
Nếu không trời biết dễ mà chơi.
Bài 3(5):
Tung lên đình đám thấy kì đời
Núi của thầy mà chợ của trời.
Buổi nắng ô vàng(6) rung là rụng
Hôm trăng(7) cuội đã cắm hoa chơi.
Nông chờ thánh lịch lô xô đứng
Khách nhớ dì Tô(8) nhấp nhổm ngồi.
Đầu gánh giang sơn ai hỏi thuế
Cho này thăm giá một đôi lời.
Bài 4: (9)
Thấy non Sài Sơn có chợ Trời
Phen này ta thử, thử lên chơi.
Biết rằng phong cảnh còn như trước,
Hay đã tang thương biến đổi rồi.
Cảnh Phật non tiên chiều chợ vắng
Mua danh bán lợi của hàng ôi.
Tờ mây viết hỏi thăm thần núi.
Mưa gió phiên rồi chợ có vui.
Bài 5: (10)
Tuổi này tính đốt chỉn(11) năm mươi
Thăm thú Sài Sơn mới ngỏ chơi.
Đá nhặt(12) kia in người hoá vật
Non cao nọ mở chợ lưng trời.
Đua chen xe ngựa muôn nghìn kẻ
Gánh vác giang sơn mấy mặt người.
Vách đá những ai đề chữ đó.
Hồn thơ ta cũng tiếc thương ai.
Chú thích:
1. Tác giả của bài 1 và bài 2 là: Cử nhân Hoàng Thúc Hội, người làng Yên Quyết, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Ông là người có tâm huyết sau khi thi đỗ Cử nhân, ông không ra làm quan mà lui về quê mở trường dạy học. Ông đặc biệt quan tâm đến Phật giáo, từng giúp Hoà thượng Như Tùng ở chùa Thầy khảo đính thư tịch.
2. Thiên bình: chiếc cân của trời, ý nói mọi việc trong xã hội đã được trời cân đo đúng mực, không sợ sai lệch.
3. Thiên thư: Sách nhà trời, ý nói: tác giả đã có cán cân công lý, không sợ ai lừa gạt.
4. Vầng đỏ: chỉ mặt trời.
5. Tác giả của bài thứ ba trong sách có lẽ là một tác giả ở tỉnh Hà Đông cũ, chưa rõ là ai?
6. Ô vàng: chỉ mặt trời lúc xế chiều.
7. Hôm trăng: chỉ mặt trời lúc chiều hôm
8. Dì Tô: có lẽ chỉ nàng Tô Thị ngóng chồng lúc xa vắng.
9. Tác giả của bài thứ 4 là: Hoàng Quý Thông, người làng Yên Quyết, huyện Từ Liêm Hà Nội, dưới đầu đề bài thơ còn ghi chú: “Hẹn ước lên chơi Sài Sơn, không được bèn tức cảnh làm thơ”.
10. Tác giả bài thứ 5 là: Văn Lâm cư sĩ Trần Kinh Sơn.
11. Chỉn: (từ cổ): chỉ có.
12. Nhặt (từ cổ): may, nhiều. Ý nói: đá núi xếp liền nhau. Ở đây miêu tả dấu tích của thánh tổ Từ Đạo Hạnh.
Thông báo Hán Nôm học 1998 (tr.27-30)