40. Hương Hiền từ và truyền thông hiếu học ở Phù Lưu (TBHNH 2009)
HƯƠNG HIỀN TỪ VÀ TRUYỀN THỐNG
HIẾU HỌC Ở PHÙ LƯU
LÊ THỊ THU HƯƠNG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Phù Lưu là ngôi làng cổ thuộc phủ Từ Sơn, xứ Kinh Bắc xưa (nay là phường Tân Hồng, thị xã Từ Sơn, thành phố Bắc Ninh). Làng cách trung tâm thủ đô Hà Nội 16 km về phía Bắc, nằm bên Quốc lộ 1A, kề với thị xã Từ Sơn.
Phù Lưu vừa là trung điểm giao thông buôn bán, vừa nằm trong vùng văn hóa Kinh Bắc hưng thịnh về khoa bảng.
Phù Lưu xưa thuộc không gian văn hóa xứ Kinh Bắc, nơi từ lâu đã có truyền thống hiếu học rất đáng tự hào với nhiều người đỗ đạt bằng con đường khoa cử. Chỉ tính riêng làng Phù Lưu đã có 4 người đỗ Tiến sĩ, 1 người đỗ Phó bảng, 6 người đỗ Cử nhân, 10 người đỗ Tú tài... Để tỏ lòng tôn sư trọng đạo, biết ơn tiền nhân có công với dân làng, với đất nước người Phù Lưu đã cho xây dựng Hương hiền từ để tỏ lòng trọng thị, thể hiện tinh thần khuyến học, khuyến tài.
Nếu Văn miếu là nơi thờ tự, thể hiện lòng sùng kính của những Nho sĩ với thánh hiền ở kinh đô hay tại các tỉnh thì Hương hiền từ (có nơi gọi là Văn chỉ, Từ chỉ, Thánh chỉ) là nơi thờ riêng những bậc khoa hoạn trong làng. Có làng hiếm văn học, chưa có người đỗ đạt thì thờ Đức Khổng Tử để làm chủ trương cho việc văn học trong làng.
Hương hiền từ là nét đặc trưng về giáo dục Nho học cấp làng xã vùng đồng bằng Bắc bộ, vốn là nơi có truyền thống hiếu học và khoa bảng của cả nước. Tồn tại độc lập với hệ thống văn miếu cấp huyện, tỉnh vốn do nhà nước lập ra, Hương hiền từ Phù Lưu thể hiện việc coi trọng người tài, coi trọng người có công và không nằm ngoài mục đích khuyến khích nhân tài.
Hương hiền từ Phù Lưu được xây dựng gần chùa Pháp Quang- tạo nên cụm di tích đền - đình - chùa - hương hiền từ mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Khuôn viên Hương hiền từ khá rộng rãi, khang trang. Ở giữa sân Hương hiền từ có tấm bia Hương hiền từ bi minh(1) do Tuần phủ, Hội trưởng hội Tư văn Hoàng Thụy Chi soạn. Trong nhà có ba ban thờ, ban giữa có bia Hương hiền từ thờ các vị có công với làng và những vị đỗ Đại khoa. Hai bên là hai bài vị.
Tấm bia Hương hiền từ bi minh được dựng năm Quý Dậu niên hiệu Bảo Đại thứ 8 (1931), bia 2 mặt, kích thước 77 x 110cm, 10 dòng, mỗi dòng từ 4 - 24 chữ, chữ khắc đẹp, rõ ràng, trán bia có hình lưỡng long chầu nguyệt. Chỉ vẻn vẹn khoảng 200 từ, Tạ Ngọc Hoàng Thụy Chi đã nêu được mối quan hệ giữa địa linh nhân kiệt làng Phù Lưu. Đất thiêng có Tượng Lĩnh Loa Hồ, có nhiều người hiển đạt, khoa danh. Có người như Võ tướng công có công dựng đình, Nguyễn Thái bảo (Nguyễn Kiên Điều) có công mở chợ, có Phó bảng Nguyễn Đức Lân, có Tiến sĩ Hoàng Văn Hòe... Người đỗ đại khoa, trung khoa, tiểu khoa đời sau nối tiếp đời trước, mỗi người mỗi vẻ nhưng đều có công giúp dân làng và làm rạng danh quê hương, dòng họ.
Bia Hương hiền từ(2) đặt ở ban chính trong Hương hiền từ. Bia cũng được khắc năm Quý Dậu niên hiệu Bảo Đại thứ 8 (1931), bia 1 mặt, trán bia có chạm hình lưỡng long chầu nguyệt, hai bên hoa văn đơn giản, kích thước 65 x 87cm, 13 dòng, mỗi dòng 4-20 chữ. Hiện nay bia đã mờ, mất nhiều chữ, căn cứ vào thông tin còn lại trên bia, kết hợp với việc tra cứu các sách khoa bảng, tên tự tên hiệu, chúng tôi đã khái quát được nội dung bia như sau:
Nội dung bia được chia làm hai phần riêng biệt
Phần đầu là “Hữu công ư dân giả liệt vị” (Kê các vị có công với dân) trong đó ghi về 3 người:
Thứ nhất: Tiền triều lão thần Võ tướng công, chưa rõ tính danh là người có công dựng đình
Thứ hai: Nguyễn Kiên Điều người được thăng Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Đô đốc phủ Đô đốc công, gia tặng Thiếu bảo, người có công mở chợ.
Thứ ba: Hoàng Văn Định, thụy là Ôn Tĩnh, hiệu là Tư Hiên tiên sinh được gia tặng Trung nghị Đại phu Quang lộc Tự khanh.
Phần hai là Đại khoa liệt vị (Kê các vị đỗ Đại khoa) gồm 4 người:
Thứ nhất: Đệ nhị giáp Tiến sĩ Nguyễn Công [...] dự thi khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức triều Lê (1490).
Thứ hai là Chu Tam Dị, đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ khoa Kỷ Sửu dưới triều Mạc (1529).
Thứ ba: Hoàng Văn Hòe, hiệu Cổ Lâm đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ khoa Canh Thìn (1880) làm quan đến chức Tri phủ.
Thứ tư là Nguyễn Đức Lân, dự thi khoa Nhâm Dần triều Nguyễn (1842) làm quan đến chức Hình bộ chủ sự.
Căn cứ vào nội dung ghi chép về những người có công và những vị khoa bảng trong 2 tấm bia trên, chúng tôi mở rộng phạm vi nghiên cứu, tìm tòi những tài liệu liên quan đến thân thế, sự nghiệp, trước tác của họ, nhằm có cái nhìn toàn diện hơn về những hương hiền đã góp phần làm rạng danh quê hương Phù Lưu.(3)
Tiến sĩ Chu Tam Dị (1494- ?): Năm 36 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Sửu niên hiệu Minh Đức thứ 3 (1529) đời Mạc Đăng Dung. Làm quan đến chức Hàn lâm.
Ông được khắc tên trong bia ở Văn miếu, kí hiệu N01305
Nguyễn Kiên Điều: Nguyễn gia từ chỉ bi ký. Kí hiệu: No1986-89. Bia nhà thờ họ Nguyễn xã Phù Lưu, huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh. Phương Thân Toàn tước An Giang nam, Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn (1652), Bồi tụng Lại bộ Tả Thị lang soạn. Bia tạo năm Chính Hòa thứ 2 (1681) nhà Lê. Bia 4 mặt khổ 49 x 110cm, toàn chữ Hán.
Nội dung: Ấp ta có quan Tư lễ giám Tổng thái giám Trạc Đường hầu họ Nguyễn húy Kiên Điều, là người khoan hậu, tính tình cởi mở, hòa hiếu với bạn bè. Đối với nhà ông cần cù chăm chỉ, với việc nước tước vị càng cao ông càng xử sự khiêm tốn, đãi ngộ càng lớn giữ lòng càng đôn hậu. Ông là người không những có công với nước mà còn có công với nhà, với xóm ấp: ông đứng ra mở chợ, thi hành thuế chợ, dạy dân buôn bán, làm cho bộ mặt thôn Chợ ngày càng phồn thịnh cho nên dân ấp dựng bia lưu truyền công đức ông. Mặt sau ghi khoán ước, dân ấp hứa sẽ thờ cúng ông mãi mãi. Có ghi số ruộng ông đặt làm ruộng tế và những quy định sử dụng ruộng tế đó.
Hoàng Văn Định (1795-1875): Theo nội dung bia Hiển tổ Ngự sử Tư Hiên công mộ bi ký(4) ông là tổ đời thứ hai, họ Hoàng, húy là Văn Định hiệu là Tư Hiên tiên sinh. Ông đậu Cử nhân khoa Kỷ Dậu niên hiệu Minh Mệnh thứ 2 (1825), làm quan đến chức Giám sát Ngự sử đạo Hà Ninh. Niên hiệu Bảo Đại thứ 5, ông được sắc phong Triều liệt đại phu Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ. Ông sinh năm Ất Mão niên hiệu Cảnh Thịnh, cuối đời Lê (1795), mất ngày 21 tháng 6 năm Ất Hợi, niên hiệu Tự Đức thứ 28 (tháng 7 năm 1875), hưởng thọ 81 tuổi.
Phó bảng Nguyễn Đức Lân: Thi Hương khoa Tân Sửu, niên hiệu Thiệu Trị thứ 1 (1841) tại trường Hà Nội. Đậu Phó bảng khoa Nhâm Dần, niên hiệu Thiệu Trị thứ 2 (1842) được bổ chức Hàn lâm viện kiểm thảo. Năm 1848 được bổ chức Tri huyện Tam Nông, sau đổi làm Tri huyện Đan Phượng. Năm 1859 điều về kinh thăng chức Chủ sự Bộ Hình. Xin về quê dưỡng bệnh rồi mất, thọ 50 tuổi.
Tác phẩm hiện còn: Loa hồ bách vịnh, Phó bảng Nguyễn Đức Lân trước tác và viết tựa năm Nhâm Tí (1852), 1 bản viết, 162 tr, 30 x 10cm, 1 tựa. Ký hiệu: A.1450. Gồm 100 bài thơ vịnh phong cảnh và các cuộc vui chơi ở hồ Loa; 200 bài thơ vịnh danh thắng, thời tiết, hoa cỏ, di tích lịch sử (núi Vọng Phu, núi Liễu Thăng, miếu Mã Viện) và các bài tâm sự, tiễn tặng bạn bè... Một số câu đối trang trí ở đền, chùa và các nơi công quán
Tiến sĩ Hoàng Văn Hòe (1848- 1885): Hoàng Văn Hòe tự Vương Thực, hiệu Cổ Lâm, biệt hiệu Hạc Nhân. Sinh năm Mậu Thân, đậu Cử nhân khoa Canh Ngọ (1870). Năm 33 tuổi ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Thìn niên hiệu Tự Đức thứ 33 (1880). Sau khi thi đỗ, được bổ chức Hàn lâm viện Biên tu, lại trúng tuyển khoa thi Yêm bác, được bổ chức Tri phủ Kiến Xương, hàm Thị độc. Sau khi triều đình ký hàng ước Hác Măng (8-1883) ông từ quan gia nhập nghĩa quân chống Pháp của Đề đốc Tạ Hiên. Vua Hàm Nghi lên ngôi, xuống dụ triệu ông vào Kinh bổ chức Sử quán Biên tu kiêm Kinh diên khởi cư chú.
Tác phẩm: Hạc Nhân tùng ngôn Hoàng Văn Hòe soạn, Hoàng Thụy Chi biên tập. Hoàng Thụy Liên viết tựa. 1 bản viết, 196 tr., 24 x 15cm, 1 tựa. Kí hiệu: VHv.1439. Đây là toàn tập thơ văn của Hoàng Văn Hòe, gồm hơn 300 bài: thơ vịnh thành Diễn Châu, núi Phật Tích, chùa Ngọc Sơn, thơ vịnh hoa cúc, hoa phù dung, chim cưu trắng, ngày tết chầu vua, thơ tiễn tặng, thuật hoài, khiển hứng, bài phú ca tụng Chu Văn Vương, tả phong cảnh núi Ngự Bình... Có bài chí ghi phong cảnh lầu Khải Tiên ở phủ Kiến Xương (Thái Bình), bài hành đi xem săn bắn... Thơ của Nguyễn Văn Đào vịnh phong cảnh núi Ngũ Hành, thơ của Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng tặng Nguyễn Văn Đào tỏ bày chí hướng của mình.
Hoàng Thụy Liên (1849- 1915) húy là Thuỵ Liên, hiệu Thanh Viễn, ông sinh ngày 14 tháng 4 năm Kỷ Dậu niên hiệu Tự Đức thứ 2 (1849). Trúng Tú tài khoa thi Giáp Tuất niên hiệu Tự Đức, từng giữ chức Huấn đạo, Giáo thụ, Tri huyện, Thị giảng viện Hàn lâm. Được sắc phong, gia tặng Trung nghị Đại phu Thái bộc Tự khanh năm Bảo Đại thứ 5 (1924), tòng Tam phẩm.
Cử nhân Hoàng Thuỵ Chi: Thi Hương khoa Canh Tý, niên hiệu Thành Thái thứ 12 (1900) tại trường Hà Nội - Nam Định. Đậu Cử nhân năm 19 tuổi(5). Ông từng giữ chức Tuần phủ Bắc Giang, Hội trưởng hội Tư văn của bản thôn.
Tác phẩm:
Tạ Ngọc vãn liên tập, soạn năm Bảo Đại 4 (1929), 1 bản viết, 138 tr., 32 x 27cm, 2 ảnh chân dung, có chữ Nôm. Ký hiệu: VHt.28.
Gồm 3 phần:
Phần 1: gồm 16 bài phú, trướng, kí: Tây Hồ thu sắc phú (phú về sắc thu ở Hồ Tây); Long Thành xuân sắc phú (phú về sắc xuân ở Thăng Long); Phượng Trì thư viện kí (bài kí về thư viện Phượng Trì); Gia Viễn sơn xuyên phong thổ kí (viết về núi sông đồng đất Gia Viễn); Lãng mạn tử tự tự (bài tựa của anh chàng lãng mạn)…
Phần 2: Câu đối mừng tặng, viếng tang, thờ phụng.
Phần 3: Hương mặc: văn trường thi Hương khoa Canh Tí (1900) của tác giả. Có danh sách những người đỗ cùng khoa.
Đại Nam quận quốc chí lược (Đại Nam quận quốc chí Bắc kỳ các tỉnh) do Hoàng Tạ Ngọc biên tập lại vào năm Thành Thái 17 (1905). 2 bản viết: A.1840: 76 tr, 24 x 15cm và A.1621: 72tr, 25 x 16cm. Sách địa lí giản lược về kinh đô Huế và các tỉnh của Việt Nam. Mỗi tỉnh đều có chép về lịch sử, địa lí, vị trí, giới hạn, số phủ, huyện, tổng, xã, tổ chức hành chính...
A.1621 chỉ các tỉnh thuộc Bắc Kì cũ.
Đối phú truyện ký tạp lục. Chép năm Khải Định thứ nhất (1916). 1 bản viết, 100 tr., 28 x 16. Kí hiệu: VNv.607. Gồm những bài phú, kí, văn bia, câu đối sưu tập từ một số nơi như huyện Phú Xuyên, Thư thất Loa Hồ, thư xá Bồ Sơn... Về phú, có: sắc thu ở Hồ Tây, khởi công xây dựng cầu sông Nhị, khánh thành việc trùng tu chùa Phúc Lâm. Về ký, có các bài viết về việc hóng mát trên cầu Thê Húc, chơi chùa Châu Long, chơi chùa Hương Tích... Truyện ngụ ngôn Ruồi xanh, văn tế kì an, văn bia bầu hậu, thư từ giao thiệp... Văn của Lê Hiển Tông, Trịnh Minh vương tế Phạm Đình Trọng.
Qua sự trình bày trên đây cho thấy Hương hiền từ của làng Phù Lưu vừa là nơi thờ người có công với làng, vừa là nơi thờ người đỗ khoa trường, tức đối tượng thờ tự ở đây được mở rộng hơn so với nơi khác chứ không chỉ bó hẹp vào một đối tượng là người đỗ khoa mục. Đó là nét riêng của một làng quê có truyền thống hiếu học lâu đời, làm phong phú cho nhận thức của chúng ta về loại hình di tích này.
Tiếp nối truyền thống hiếu học của ông cha, sau Cách mạng tháng Tám nhiều thế hệ người Phù Lưu đã thành đạt trên các lĩnh vực như văn học nghệ thuật, sử học, kinh tế, chính trị quân sự… góp phần rạng danh quê hương, dựng xây đất nước. Ngày nay, truyền thống hiếu học của cha ông ngày càng được nhân rộng ra, làng Phù Lưu là một trong những nơi có phong trào khuyến học mạnh nhất trong vùng. Chi hội khuyến học của làng, của các dòng họ được thành lập và hoạt động rất hiệu quả. Hàng ngày vào lúc 19h30 tiếng trống khuyến học Phù Lưu vang lên đều đặn trên hệ thống loa truyền thanh thôn như lời nhắc nhở các em học sinh ngồi vào bàn học tập. Truyền thống đó đã đem lại kết quả đáng khích lệ: tỷ lệ học sinh khá giỏi các cấp học hàng năm đều tăng, số học sinh thi đỗ vào các trường Cao đẳng, Đại học ngày càng nhiều.
Chú thích:
TÀI LIỆU THAM KHẢO
2. Đồng Khánh địa dư chí. KH. A.537.
3. Bắc Ninh tỉnh địa dư chí. "Nhân vật chí". A.1889
4. Nguyễn Hữu Mùi: Văn miếu phủ Vĩnh Tường, in trong Văn hóa Vĩnh Phúc (số chuyên đề huyện Vĩnh Tường). Sở Văn hóa - Thông tin Vĩnh Phúc xuất bản, 2007.
5. Trạng nguyên Tiến sĩ Hương cống Việt Nam, Nxb. Văn hóa - Thông tin.
6. Các nhà khoa bảng Việt Nam, Ngô Đức Thọ chủ biên. Nxb. Văn học.
7. Bia văn miếu Hà Nội, Nxb. Thế giới, 1997.
Và các văn bia, sách chữ Hán, chữ Nôm hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm./.
(Thông báo Hán Nôm học 2009, tr.487-495)