41. Phát hiện một tài liệu quý viết về thành phố Thái Nguyên (TBHNH 2012)
41. Phát hiện một tài liệu quý viết về thành phố Thái Nguyên (TBHNH 2012)
PHÁT HIỆN MỘT TÀI LIỆU QUÝ VIẾT VỀ
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
NGUYỄN GIA HUY
Trung tâm Thông tin xúc tiến Du lịch Thái Nguyên
Ngày 7/9/2012, được sự giúp đỡ của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, đơn vị sự nghiệp thuộc ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thái Nguyên đã phát hiện được tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm một tài liệu mang tên Xã chí huyện Đồng Hỷ. Cuốn sách có ký hiệu AJ 18/1 (thuộc mục Địa chí) có kích thước 27 x 22cm, viết bằng bút sắt trên giấy tây, có 84 trang bằng 3 thứ tiếng: Việt, Hán Nôm và Pháp. Nội dung cuốn sách ghi chép địa chí các tổng, xã thuộc huyện Đồng Hỷ (nay đều thuộc thành phố Thái Nguyên). Gồm có 3 phố: phố Thái Nguyên (đệ nhất hộ, đệ nhị hộ và phố Gia Bẩy); 2 tổng: tổng Túc Duyên 7 xã, ấp: Túc Duyên, Cam Giá, Quang Vinh, Lưu Xá, Phù Liễn, Đồng Mỗ và Thái Ninh; tổng Xuân Kiều có 3 xã, đồn: xã Xuân Kiều, đồn điền Gia Sàng, xã An Sơn.
Tuy cuốn sách không ghi tên tác giả nhưng cách xưng danh trong sách là hội Hướng thiện đàn Thái Nguyên phố. Có thể hiểu đây là tài liệu của Trường Viễn đông Bác cổ điều tra có sự tham gia của Văn đàn hướng thiện Thái Nguyên. Trong sách có chú thích rõ ràng: Ngày 20 tháng 12 năm 1944. Tôi là Chánh tổng Túc Duyên có tiếp hai phái viên Trường Viễn đông Bác cổ và có giấy của các quan tỉnh về các xã sao thần sắc, thần tích, bia ký và kê các xã thôn trong tổng. Chánh tổng Túc Duyên đã ký tên, đóng dấu).
Như vậy, đây là tập tài liệu tập hợp cuộc điều tra năm 1944 - 1945 của Trường Viễn đông Bác cổ Pháp về Thái Nguyên trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Như trên đã nói, nội dung cuốn sách ghi chép theo dạng địa chí, phương pháp thống kê, liệt kê là chính, độ tin cậy cao, có xác nhận của từng cấp chính quyền địa phương lúc bấy giờ. Trường Viễn đông Bác cổ chủ trì việc này, sau khi thống nhất đất nước năm 1975, Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã được bàn giao đặt tên cho tập tài liệu này là: Xã chí huyện Đồng Hỷ. Cuốn sách đã thống kê 11 mục: văn bia, sắc phong, thần sắc, thần tích, cổ chỉ, tục lệ, tượng tự khí, công nghệ thổ sản, bản đồ, lễ hội, cổ tích. Tác giả thống kê được: 36 văn bia, 46 sắc phong, 25 thần sắc, 1 thần tích, 27 hình vẽ minh hoạ kiến trúc đền, miếu, đình, chùa, 6 bản đồ về 6 làng, xã, đồn điền thuộc huyện Đồng Hỷ xưa.
Văn bia, thần tích, thần sắc là tài liệu có số lượng nhiều hơn cả, là tài liệu có giá trị văn học. Bản đồ và sơ đồ cũng có giá trị về mặt lịch sử, về mặt địa lý nhất định. Tâm đắc nhất là những tài liệu Hán Nôm bởi nó là tài liệu chữ viết của dân tộc phản ánh về thuần phong, mỹ tục, nề nếp sinh hoạt của nhân dân Thái Nguyên lúc bấy giờ.
Văn bia tiêu biểu có văn bia đình Quang Vinh (Quang Vinh phúc thần sự lục bi ký) khắc thần tích Dương Tự Minh thời Lý (1072 - 1175), bia dựng thời Lê Cảnh Hưng năm Giáp Thìn (1784). Trong nội dung cuốn sách phần đình xã Quang Vinh cũng xác nhận: “Thần tích dân đã khắc vào bia để phụng sự tại đình, bia ấy (nhà nước) đã phái người về biên chép kỳ trước rồi”. Ngoài ra có văn bia đình Hàng Phố (trong sách gọi là đình phố Toàn quyền) thờ đức Quý Minh, mặc dù sách không chép nhưng hiện còn tồn tại 3 văn bia: 2 bia chữ Hán, 1 bia chữ Pháp. Hai bia chữ Hán có kích thước 1m x 80 cm đều có nhan đề là Kỷ niệm bi ký, 1 trong 2 văn bia do Tiến sĩ Nguyễn Đình Tuân (1867 - 1941), người làng Trâu Lỗ (làng Sổ), thường gọi là Nghè Sổ, nay là xã Mai Đình (Hiệp Hòa, Bắc Giang), nguyên Án sát kiêm Tuần phủ tỉnh Thái Nguyên đã nghỉ hưu soạn văn bia. Nội dung văn bia ghi chép về ngôi đình thuộc khu phố đệ nhất hộ được khởi dựng từ năm 1917 đến nay, lâu ngày đã mục nát, bản phố tập hợp gỗ tốt, tôn tạo đình vào mùa hạ năm Bảo Đại thứ 10 (1935). 1 văn bia bằng chữ Pháp, cơ quan chức năng mới tìm lại được năm 2010 tại công trường xây dựng Chi cục Thuế thành phố Thái Nguyên, nội dung văn bia cũng nói về việc công đức xây dựng đình năm 1937. Tại địa điểm đình Hàng Phố, ngày 19 tháng 8 năm 1945, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã chỉ huy quân Việt Nam giải phóng quân về đóng tại đình lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền tỉnh Thái Nguyên vào ngày 20/8/1945. Đây là 1 trong 3 điểm di tích (chùa Đán, đình Hàng Phố và địa điểm Nhà Đèn cũ) được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia. Ngoài văn bia trên còn có văn bia đình Thái Hòa (Kỷ niệm bi ký), là một văn bia có văn phong hay, có luận về công lao của thần Cao Sơn; đồng thời ghi công của bà Tạ Thị Lập đã công đức tiền, ruộng, bò, trùng tu đình, miếu Thái Hòa, trong số những người chứng nhận công đức có người thuộc dòng họ Lại Đức quê tỉnh Thái Bình, hiện hậu duệ vẫn còn sinh sống trên địa bàn phường Trưng Vương. Văn bia đền Xương Rồng (Xương Long điện hậu bi) ghi chép việc nhân dân địa phương khai phá đồn điền Gia Sàng trở thành ruộng đồng xanh tốt phì nhiêu, ghi nhớ công ơn nhân dân lập hậu thờ ở đền Xương Rồng văn bia dựng năm Bảo Đại thứ 17 (1942). Văn bia đền Túc Duyên (Túc Duyên điện hậu bi) có nội dung tương tự. Đáng tiếc một số văn bia có giá trị lịch sử như văn bia đình Quang Vinh ghi sự tích danh tướng Dương Tự Minh người được thờ hầu hết ở các đền, đình, miếu ở Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Bắc Giang, trải qua chiến tranh “vật đổi sao rời” đã không còn lưu giữ được bởi nhiều lý do, may mắn Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ được thác bản in dập năm 1968. Văn bia ở các đình, chùa thuộc trung tâm huyện Đồng Hỷ xưa, thành phố Thái Nguyên ngày nay có niên đại phổ biến vào cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn không còn lưu giữ được so với con số trước năm 1945, hiện nay theo con số kiểm kê di tích năm 1998 chỉ còn vài chục văn bia thật là tiếc đối với nhà nghiên cứu về thể loại văn học này. Gần đây chúng tôi đã khảo sát vùng phường Hương Sơn, Cam Giá đã tìm thấy một số văn bia lớn trong đó có 1 văn bia mang tên: Tạo cổ tích - lập hậu thần bi - phụng sự ký (Tạo di tích lập bia hậu thần ghi nhớ thờ phụng) ở khu vực đình - chùa Hương Sơn (chùa thôn Nham Lỗ) nay thuộc phường Hương Sơn, bia còn khá nguyên vẹn nhưng không thấy ghi chép trong sách Xã chí huyện Đồng Hỷ. Tấm bia ghi lại công đức của vợ chồng Hoa Quận Công công đức vào đình, chùa Nham Lỗ vào năm Vĩnh Thịnh nguyên niên (1705). Điều lý thú, tài liệu Xã chí huyện Đồng Hỷ thống kê cho thấy có mặt khá đầy đủ các văn bia có niên đại cuối Lê đầu Nguyễn. Tư liệu thần tích tại đình Hàng Phố có 6 trang chép bằng chữ Hán ghi lại về thần tích Dương Tự Minh chép năm Khải Định thứ 2 (1917).
Quý nhất là tư liệu sắc phong, với 46 đạo, hiện tại chỉ còn tại đền Túc Duyên (trước kháng chiến gửi tại đền Đuổm) 2 đạo thời Duy Tân thứ 8 (1912) và Khải Định thứ 9 (1924) sắc cho Thiều Dung công chúa vợ thứ 2 của Dương Tự Minh. So với sách Xã chí huyện Đồng Hỷ chép thì quả là một sự thất tán, mất mát quá nhiều. Sách chép: đền Nội (tục gọi đền Cây Sung) thờ 1 vị, sắc phong vào năm Khải Định thứ 9 (1924) ngày 25 tháng 7 ban sắc tặng cho Trang huy Dực bảo Trung hưng Thượng đẳng tôn thần; đình Bến Tượng thờ 8 vị võ tướng: Cao Sơn, Quý Minh, Phó tướng, Triều lệ đại phu, Quảng soái đại sứ ty, Phó soái đại sứ ty, Nguyễn Bình An tiên sư, Phù vận khang quốc, 2 vị đầu phong Thượng đẳng thần; các vị còn lại phong tôn thần (phong năm Bảo Đại năm thứ 10 (1935) ngày 28 tháng 3 ban sắc). Đình Thái Hòa cũng thờ 8 vị thần, song có thờ 1 vị khác là Tam Giang đại vương tôn thần, sắc ban ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924); đền Phù Liễn thờ 1 vị là Liễu Hạnh công chúa phong năm Duy Tân thứ 3 (1908) và Khải Định thứ 9 (1924); đình Phù Liễn thờ 3 vị có 7 đạo sắc phong cho: Cao Sơn Quý Minh thượng đẳng thần, sắc phong vào năm 1898, 1888, 1908 và 1924.
Đình Quang Vinh thờ 10 vị là: Cao Sơn Quý Minh; Khuông Quang Trợ hóa đại vương; Chưởng cửu Sơn Tinh đại vương; Nhi Như Dưởng đại vương; ông Lệ hầu tôn thần; bà Ôn Lương công chúa tôn thần; bà Hoàng Phi Thọ tôn thần; Dương Chưởng công chúa tôn thần; Sơn Tinh công chúa tôn thần; Nhu Gia công chúa tôn thần. Trước đó, đều có sắc phong nhà vua ban tặng, sau bị mục nát cả.
Cũng là sắc phong trong phần Cổ chỉ ghi mục xã Túc Duyên có chép: tại từ đường dòng họ Trần thờ cụ Trần Quang Duyệt có bài văn và 1 đạo sắc phong: “Nhận cấp cửu phẩm Thư lại Trần Quang Duyệt” năm Tự Đức thứ 36 (1883) ban sắc (bổ cho Trần Quang Duyệt nhận cấp tòng thất phẩm (ở) tỉnh Thái Nguyên) năm Thành Thái thứ 13 (1903) ban sắc; sắc cho Trần Quang duyệt cấp tòng bát phẩm ở Thái Nguyên … năm Thành Thái thứ 13 (1903) ban sắc. Ngoài ra, gia đình có một bản gia phả có 20 tờ viết bằng giấy nam quét sơn viết chữ Nho (với nội dung) họ Trần Nguyên trước là họ dòng dõi của đức Trịnh Kiểm (chúa Trịnh) đến đời vua Gia Long (1802), con cháu mới di cư lên đất Thái Nguyên thành lập lên xã hiệu là Túc Duyên xã và đổi ra làm họ Trần, từ đấy đến nay vẫn là họ Trần, còn giữ được 1 bản gia phả của tiên tổ là Đức Trịnh Liễu đến nay là di vật cổ để lại.
Văn bia, thần tích, thần sắc, gia phả được ghi trong cuốn sách là những tư liệu quý cần được khai thác phục vụ cho công tác nghiên cứu nhất là về trung tâm tỉnh lỵ Thái Nguyên.
Ngoài văn bia, thần tích, thần sắc, gia phả còn có bản đồ là những tư liệu độc đáo. 6 bản đồ vẽ ở dạng sơ khai nhưng qua nghiên cứu cho thấy các tác giả đã khá kỳ công khảo tả, biên chép, mô tả tỷ mỉ các địa danh, các vị trí quan trọng ở địa phương.
Bản đồ được vẽ đầu tiên là xã Phù Liễn, tổng Túc Duyên, huyện Đồng Hỷ, nay thuộc thành phố Thái Nguyên. Đầu đề bản đồ ghi bằng chữ Việt, chữ Hán và chữ Pháp trên giấy tây kích thước 27 x 22cm, có kẻ dòng, nhìn bằng mắt thường đây là những nét vẽ thủ công với hình vẽ đường đi, nét vẽ chì, tô đậm, nhạt, đánh dấu danh giới giữa các làng, xã. Các bản đồ trong tài liệu có giá trị xác định vị trí địa lý các địa danh thuộc các làng xã của tỉnh lỵ Thái Nguyên xưa.
Ngoài ra, cuốn sách cũng vẽ một số sơ đồ về mặt bằng kiến trúc đình, đền, chùa, miếu, ghi chép liệt kê một số đồ tượng khí ở các di tích, lễ hội, tục lệ cổ của nhân dân ở các địa phương ở giai đoạn trước năm 1945.
Nghiên cứu cuốn tài liệu Xã chí huyện Đồng Hỷ cho thấy toàn cảnh tỉnh lỵ Thái Nguyên (tương đương đất thành phố Thái Nguyên ngày nay) với các thông tin phong phú, đa dạng về loại hình như về đình, chùa, miếu, các công trình công cộng, sông ngòi, có nhiều hình vẽ sơ đồ, bản đồ về các địa danh quan trọng mà ngày nay đã chỉ còn trong ký ức. Các văn bản về sắc phong, bia đá, sự tích di tích được kê khai đầy đủ là tư liệu quý phục vụ cho việc nghiên cứu, tra cứu về lịch sử, địa danh, phong tục, tập quán, con người của Thái Nguyên trước cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đặc biệt, hiện nay Tỉnh uỷ Thái Nguyên giao cho Ban Tuyên giáo làm Chủ biên cuốn sách: “Từ điển Thái Nguyên” sẽ được hoàn chỉnh trong nay mai, thiết nghĩ tài liệu Xã chí huyện Đồng Hỷ sẽ phần nào phục vụ cho việc tra cứu, nghiên cứu về một thị xã Thái Nguyên xưa và thành phố Thái Nguyên ngày nay.
(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.350-356)