43. Giới thiệu 4 sắc phong, 1 văn bia của đình - chùa Bản Cái ở ATK Định Hóa (Thái Nguyên) (TBHNH 2012)
43. Giới thiệu 4 sắc phong, 1 văn bia của đình - chùa Bản Cái ở ATK Định Hóa (Thái Nguyên) (TBHNH 2012)
GIỚI THIỆU 4 SẮC PHONG, 1 VĂN BIA CỦA
ĐÌNH - CHÙA BẢN CÁI Ở ATK ĐỊNH HÓA (THÁI NGUYÊN)
NGUYỄN ĐÌNH HƯNG
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thái Nguyên
Xã Thanh Định, huyện Định Hóa (Thái Nguyên) là một trong 24 đơn vị hành chính nằm ở phía tây nam của huyện. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954) là nơi có nhiều cơ quan của Trung ương về ở và làm việc. Xã Thanh Định cũng là 1 trong 24 xã của huyện được Chính phủ công nhận là xã nằm trong khu vực ATK trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Thanh Định là một xã lớn, là địa bàn sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc, dân cư sống tập trung chủ yếu bằng nghề làm ruộng và trồng rừng. Tuy địa phương còn có nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế, xã hội nhưng nhân dân vẫn bảo tồn, gìn giữ được những di sản văn hóa. Trước năm 1954 tại địa phương vẫn còn quần thể: đình - chùa gọi là đình - chùa Bản Cái nằm ở trung tâm xã. Đình làng là nơi làm việc của chức sắc địa phương đồng thời là nơi thờ thành hoàng làng; chùa là nơi thờ Phật, nổi tiếng là chốn linh thiêng, là danh lam thắng cảnh trong vùng. Phục vụ kháng chiến đình - chùa đã nằm trong diện “tiêu thổ”, đặc biệt là “khu ATK tuyệt mật”, công cuộc kháng chiến cứu nước đã được đặt lên hàng đầu, đình - chùa đã được trưng dụng cho các cơ quan quân đội ở và làm việc. Quá trình ấy, từ đó đến nay, một số hiện vật của đình - chùa vẫn được nhân dân lưu giữ: đó là 4 sắc phong và 1 văn bia, tại Thông báo Hán Nôm này chúng tôi giới thiệu về 5 hiện vật quý giá gắn với đình - chùa Bản Cái.
Đình, chùa Bản Cái xưa nằm ở chân đồi Thẩm Bửa, đình nằm cạnh chùa được xây dựng đầu thế kỷ XIX. Xung quanh đình, chùa là đồi rừng rập rạp, ruộng lúa, bờ ao. Đình kiến trúc chữ nhất (一), nhà làm bằng gỗ, mái lợp lá cọ, gian giữa có đóng ban thượng cung nơi thờ thành hoàng. Chùa có 42 cột bằng gỗ dổi, mái lợp lá cọ. Trong chùa có 6 pho tượng: Tam thế, Nam Tào, Bắc Đẩu, Quan Âm, Thích Ca, 1 ông thổ công làm bằng gỗ mít.
Cùng với đình, chùa Bản Cái có chung lễ hội theo thông lệ cứ 6 năm tổ chức hội một lần. Trong hội có trò “hát ổi” (như hát ca trù ở dưới xuôi), nhân dân đi lễ Phật, gửi niềm tin xin cho mùa màng bội thu, cho dân khang vật thịnh, muôn vật sinh sôi, dân làng no ấm. Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, chùa là nơi huấn luyện dân quân khóa đầu tiên của huyện Định Hóa có 200 người tham gia, có đồng chí Lê Giản (Nha Công an), đồng chí Võ Nguyên Giáp đến giảng bài.
Hiện tại, đình và chùa chỉ còn nền. Hiện vật của đình có 4 sắc phong, chùa còn 1 tấm bia đá cổ, số hiện vật đều được lưu giữ tại UBND xã Thanh Định như những báu vật.
Đình Bản Cái xưa thờ: Linh phù chi thần. Sau đây là bản tạm dịch nghĩa 4 sắc phong.
Sắc phong 1:
“Sắc chỉ cho xã Thanh Điểu, châu Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên nguyên thờ phụng vị thần chưa có sắc phong.
Nay ban ân, chuẩn cấp cho một đạo sắc văn thờ phụng vị Thành hoàng có tên hiệu là Linh phù chi thần. Chuẩn hứa cho cai xã thờ phụng thần, [mong thần] hãy che chở cho dân ta. Thật đáng khâm phục.
Tự Đức thứ 6 (1853) ngày 24 tháng 9 ban sắc”.
Sắc phong 2:
“Sắc cho xã Thanh Điểu, châu Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên theo trước mà thờ phụng vị thần Linh phù chi thần, từng được thờ là Thành hoàng, nay ban cấp:
Sắc phong chuẩn y cho thờ phụng. Năm Tự Đức thứ 31 (1878) mừng thọ trẫm 50 tuổi đã ban cấp sắc phong, nay lại gia ân ban sắc cho thờ phụng như cũ, thần đã được ghi vào tự điển. Thật đáng khâm phục.
Tự Đức thứ 33 (1880) ngày 24 tháng 11 ban sắc”.
Sắc phong 3:
“Sắc cho xã Thanh Điểu, tổng Thanh Điểu, châu Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên theo trước mà thờ phụng vị Linh phù chi thần, từng được thờ là Thành hoàng, nay ban cấp:
Sắc phong chuẩn y cho thờ phụng như cũ. Năm Duy Tân nguyên niên (1907) vào dịp đại lễ đã gia ân ban sắc thêm phần long trọng, nay lại sắc phong đăng trật cho thờ cúng vị thần đã được ghi vào tự điển. Thật đáng khâm phục.
Duy Tân thứ 3 (19098) ngày 11 tháng 8 ban sắc”.
Sắc phong 4:
“Sắc cho xã Thanh Điểu, châu Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên theo trước mà thờ phụng vị thần thành hoàng được sắc phong là Linh phù chi thần, cấp cho được thờ vị thần đã có công bảo vệ đất nước, che chở cho dân hàng năm thờ cúng thường có linh ứng.
Nay ban cấp sắc phong chuẩn y cho thờ phụng như cũ. Nhân tiết đại khánh mừng thọ trẫm 40 tuổi lại gia ân ban cho thêm phần long trọng gia tặng thêm 2 chữ Trưng bạt tôn thần. Chuẩn y cho thờ cúng như cũ, thần đã được ghi vào tự điển. Thật đáng khâm phục.
Khải Định thứ 9 (1924) ngày 25 tháng 7 ban sắc”.
Qua nghiên cứu 4 sắc phong của đình Bản Cái cho biết các vua triều Nguyễn ban sắc phong đều đặn, chứng tỏ sự quan tâm của chính quyền địa phương liên tục đề nghị nhà nước ban cấp sắc phong để duy trì phong tục, ý thức gìn giữ cẩn thận hiện vật cách ngày nay gần 200 năm.
Văn bia đình - chùa Bản Cái
Bia cao 1m, rộng 50 cm, khắc chữ Hán Nôm cả 2 mặt. Chữ khắc nét chân phương, dễ đọc. Hàng chữ tên bia được khắc nổi bật lên thành hình với nhan đề là Linh Tiên tự thạch bi ký, đọc từ phải sang trái, dòng đầu tiên có 51 chữ Hán Nôm nội dung nêu địa danh và lý do dựng bia: “Chức sắc thôn trưởng xã Thanh Hồng, châu Định Hóa, phủ Phú Bình là Ma Thái Ri, Thôn trưởng Ma Đình Dung, Ma Đình Thuật, Ma Đình Tiến, Ma Thế Vinh, Nguyễn Công Đạt, Ma Đình Cơ họp bàn, hợp đồng với 2 giáp Đông, Đoài hưng công xây dựng đình, chùa Linh Tiên. Dòng thứ 2 có 25 chữ là câu luận về đạo Phật: “Mảng nghe: tấm lòng của đạo Phật đại từ bi đưa con người đến cõi niết bàn, hoan hỷ”…
Vì nội dung văn bia dài, ý phong phú chúng tôi chỉ sơ lược nội dung chính của văn bia là nói về hội chủ đứng đầu là Thôn trưởng ông Ma Thái Ri và các ông thuộc dòng họ Ma Đình, Ma Thế, Nguyễn Công cùng tất cả những ai ở địa phương mộ đạo hưng công xây dựng đình – chùa làng, sau khi hoàn thành sẽ khắc vào bia đá làm văn bản về tên những người đã công đức lưu truyền cho đời sau. Tham gia công đức không những người ở địa phương mà còn có các xã khác trong châu như: thôn Thanh Lục, xã Lục Dã (nay là xã Phú Đình), xã Định Biên Thượng (nay là Định Biên), xã Lương Can (nay là Trung Lương), xã Bình Yên ghi tên cả gia đình bao gồm, chồng, vợ, con. Trong đó có duy trì một tập quán là người ngoài xã, chỉ có thể là những người đến lấy vợ, thời đó có lệ con gái thuộc cửa đình nào đi lấy chồng nơi khác đều phải ba đời đóng góp cho đình, với người gọi là thê lương (quê vợ) đời chồng, “mẫu quán” (quê mẹ) đời con “tổ quán” (quê bà), đời cháu. Văn bia cũng ca ngợi cảnh đẹp sơn thanh, thủy tú hữu tình của đình, chùa được xây dựng ở đại thế long chầu, hổ phục, có tiền án, hậu chẩm để nhân dân cầu cúng mong làng xóm làm ăn thịnh vượng. Văn bia cũng quy định bảo vệ tài sản trong khu vực đình, chùa làng: cấm người nào đánh cắp, lấy trộm làm tổn hại đến đình - chùa, bia đá, ai vi phạm sẽ bị phạt bằng tiền hoặc thu gia tài có giá trị bằng con gà, con vịt loại lớn trở lên, bằng con dê, con lợn, con bò, con trâu (tùy theo mức độ). Người nào có công bắt được kẻ trộm sẽ được thưởng bằng tiền hay hiện vật mà đã thu được của người bị phạt từ gà, vịt đến trâu, bò. Quy ước này mang tính giáo dục cao đây là ưu điểm nhất của văn bia ở vùng có nhiều dân tộc thiểu số.
Với độ dài trên 700 từ bài văn có nội dung phong phú, hàm xúc, tác giả soạn văn bia đã dùng nhiều từ ngữ Hán Nôm cổ mang tính địa phương, văn bia đã ghi lại công đức của dòng họ ở địa phương và bà con trong vùng mộ đạo hưng công xây dựng đình - chùa Bản Cái. Bia được dựng vào tháng 4 năm Gia Long thứ 10 (1811) cách ngày nay 200 năm. Văn bia không ghi người soạn, người khắc nhưng chúng ta vẫn có thể biết tác giả văn bia là những người có hiểu biết rộng về truyền thống văn hóa dân tộc, hiểu được cốt cách của nhân dân địa phương mới có thể “nhập vai” và diễn đạt lưu loát văn bia một cách hay đến thế.
(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.367-372)