VI | EN
44. Giao thương Việt - Pháp qua bản Thương ước được ký giữa Pháp và triều đình nhà Nguyễn (TBHNH 2012)
44. Giao thương Việt - Pháp qua bản Thương ước được ký giữa Pháp và triều đình nhà Nguyễn (TBHNH 2012)

GIAO THƯƠNG VIỆT - PHÁP QUA BẢN THƯƠNG ƯỚC ĐƯỢC KÍ GIỮA PHÁP VÀ TRIỀU ĐÌNH NHÀ NGUYỄN

LÊ THỊ THU HƯƠNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với nước láng giềng và các nước trên thế giới là một việc làm cấp thiết không thể thiếu trong quá trình dựng nước và giữ nước của các triều đại phong kiến Việt Nam. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, từ khi Đinh Tiên Hoàng lên ngôi niên hiệu là Thái Bình (970) đã sai sứ sang Tống để kết nối giao hảo(1). Thời Lê Đại Hành, năm Nhâm Ngọ (982) nhà vua sai Từ Mục và Ngô Tử Canh sang sứ Chiêm Thành...(2) mối quan hệ ngoại giao với các nước còn được duy trì cho đến ngày nay.

Tư liệu thư tịch Hán Nôm ghi chép về lịch sử bang giao giữa Việt Nam với các nước khác còn khá nhiều, nhưng chắc chắn rằng việc lưu giữ không được đầy đủ. Trong kho sách Hán Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện lưu giữ được khoảng hơn 100 tác phẩm mang nội dung bang giao. Tóm lược nội dung chính các tác phẩm đó gồm:

Các văn kiện trao đổi giữa Việt Nam với các nước và các nước với Việt Nam: công văn, thư từ, chiếu, biểu, hòa ước, thương ước…

Các tài liệu liên quan đến các hoạt động đi sứ và tiếp sứ: công việc chuẩn bị đi sứ, các cuộc hành trình đi sứ, sáng tác của sứ thần Việt Nam tại nước ngoài (thơ, nhật ký)….(3)

Trong số các tư liệu bang giao hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, số tư liệu mang nội dung bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc chiếm một lượng lớn, khoảng 80 tác phẩm(4) còn lại số lượng nhỏ là tư liệu viết về bang giao giữa Việt Nam với Pháp, Tây Ban Nha, Singapor, Thái Lan, Campuchia, Lào, Hàn Quốc….

Quan hệ ngoại giao Việt Nam - Cộng hòa Pháp được xem là khởi nguồn từ đầu thế kỷ 17 với công cuộc truyền giáo của các linh mục dòng Giêsu mà nổi bật nhất là Alexandre de Rhodes. Đến cuối thế kỷ 18, sự tham gia đắc lực của Giám mục Pigneau de Béhaine trong quá trình tranh giành quyền cai trị và thống nhất đất nước của Nguyễn Ánh đã dẫn đến những quan hệ ngoại giao đầu tiên giữa hai nước.

Bên cạnh công tác truyền giáo, giới thương nhân Pháp cũng bắt đầu tìm đến thị trường Việt Nam. Năm 1680, Công ty Đông Ấn Pháp mở một kho xưởng tại Phố Hiến. Một họa sĩ nổi tiếng của Pháp thời bấy giờ là Pierre Poire cũng đã từng đến Việt Nam vào khoảng năm 1720(5). Để việc kết giao giữa hai nước ngày càng vững chắc và mở rộng việc buôn bán thông thương phía Pháp và triều đình Tự Đức đã ký kết bản thương ước năm Tự Đức Nhâm Tuất (1862) (bản này hiện chúng tôi chưa tìm được), sau đó bản Tân ước mới(6) phía Pháp do Đặc phái tổng thống Nam Kỳ giao toàn quyền cho Đại thần Du Long Lê 游 弄 黎, phía Việt Nam do Thượng thư Bộ Hình giao toàn quyền cho Đại thần Lê Tuấn. Tả Tham tri Bộ Lễ giao toàn quyền cho đại thần Nguyễn Văn Tường ký vào ngày 20/7/ Tự Đức thứ 27 (1874) một lần nữa khẳng định mối quan hệ giao thương giữa Việt Nam và Pháp ngày một bền chặt và phát triển.

Sau đây là nội dung 29 khoản trong bản thương ước đó:

Khoản 1: dùng cờ hiệu của các thuyền buôn.

Khoản 2: các khoản thuế 5% thuế xuất khẩu, 10% thuế vận tải.

Khoản 3: thuế vận chuyển với các thuyền buôn.

Khoản 4: các loại hàng hóa chở từ Gia Định đến hoặc từ Nhĩ Hà đến biên giới Việt Nam hoặc từ Việt Nam đến các nước khác phải định thuế thu. Hàng muốn giảm thuế phải có ấn của lãnh sự.

Khoản 5: người buôn bán qua lại ở Bình Thuận và Biên Hòa nên chiếu theo các loại thuế cũ không nên tăng giá, thay đổi.

Khoản 6: tránh trở ngại cho việc thu thuế đối với khách buôn nước ngoài.

Khoản 7: thuế quan đối với khách buôn bán nước ngoài do một người Việt Nam quản lý cùng với một người Pháp giúp đỡ. Hai người bàn bạc thương thảo nếu có điều gì không thống nhất thì mời quan Bộ Hộ.

Khoản 8: phẩm trật phụng hưởng của người Pháp và lễ tiết của người Việt Nam.

Khoản 9: sổ thu thuế phải chép làm 2 cuốn: 1 cuốn giữ ở cửa khẩu, một ở ty thuế để tiện đối chiếu.

Khoản 10: chi phí trong năm không được quá nửa tiền thuế thu được.

Khoản 11: thương ước thuế đã định nên tuân thủ trong vòng 10 năm, trong 10 năm nếu có khoản nào thay đổi thì 1 năm sau kể từ ngày đề nghị thay hai bên mới bàn bạc và quyết định.

Khoản 12: nếu thương nhân các nước vì bất bình mà tố tụng nhân viên ty thuế thì do lãnh sự quán Pháp và lãnh sự quán nước đó tại Việt Nam cùng nghiên cứu xét xử.

Khoản 13: thuyền buôn của Pháp và các nước khác đến Việt Nam buôn bán đều phải thuê người dẫn nước, dẫn hành trình. Người dẫn nước và dẫn hành trình phải được phía Việt Nam và Pháp cấp giấy chứng nhận và định giá.

Khoản 14: người dẫn đường nào không tuân thủ quy định của ty thuế quan thì tùy theo mức sẽ trị tội.

Khoản 15: hạn đỗ bến của tàu thuyền buôn, nếu vi phạm sẽ bị phạt tiền.

Khoản 16: nếu thuyền buôn nước ngoài hoặc thương nhân tùy ý thuê thuyền nhỏ chở hàng nếu xảy ra mất mát thì phía Việt Nam không bảo hiểm.

Khoản 17: thương nhân khi chở hàng đến Việt Nam phải có hóa đơn liệt kê hàng hóa để trình lãnh sự quán, sau đó chuyển đến thuế quan để tính thuế.

Khoản 18: nếu thuyền buôn quá lịch đỗ bến thì thu phạt.

Khoản 19: khi thuyền buôn nộp đủ thuế thì ty thuế quan phải cấp giấy biên cứ.

Khoản 20: thuyền buôn hết hạn đỗ bến phải qua ty thuế quan giải quyết.

Khoản 21: hàng hóa kê để nộp thuế phải chính xác, nếu phát hiện ra có hành vi gian trá thì tịch thu nộp cho thuế quan.

Khoản 22: nếu hàng vào bến mà không thể vận chuyển được thương nhân nên báo cho lãnh sự quán cấp giấy trình thuế quan.

Khoản 23: Bộ Hộ nước Việt Nam cấp cân và thước chuẩn cho thương nhân.

Khoản 24: thương nhân và các chủ thuyền ra vào buôn bán nên tự ý lấy hàng đem bán ở nơi nào đó, tự ý định giá, bán mặt hàng cấm thì quan địa phương phạt tiền hoặc thu nộp vào kho.

Khoản 25: nước Pháp có thể tùy tiện phái xuất thuyền lính qua lại Việt Nam.

Khoản 26: thuyền lính của Pháp qua lại tuần hộ thuyền buôn đến Việt Nam đều được tiếp đãi hữu nghị.

Khoản 27: cho phép thương nhân nhỏ qua lại buôn bán.

Khoản 29: bản thương ước mới này có tham chiếu chỉnh lý trên cơ sở bản hòa ước ký năm Mậu Tuất.

Khâm sai toàn quyền đại thần hai nước ký tên, đóng dấu bằng cứ ngày 20/7/Tự Đức thứ 27 (1874).

 

Chú thích:

(1). Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. KHXH. H.1972, tr.155

(2). Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. KHXH. H.1972, tr.168

(3). Phạm Văn Thắm (chủ biên), nhóm biên soạn: Nguyễn Kim Oanh, Cao Việt Anh, Lê Thu Hương, Mục lục thơ văn bang giao viết bằng chữ Hán, chữ Nôm Việt Nam, H. 2004. tr.2-4.

(4). Trịnh Khắc Mạnh, Việt Nam Hán văn Yên hành văn hiến tập thành, công trình hợp tác giữa Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Viện Nghiên cứu Văn sử, Đại học Phúc Đán Thượng Hải (TQ), Tạp chí Hán Nôm, số 3/2010.

(5). Quan hệ Việt Nam- Pháp, theo wikipedia.

(6). Hòa ước thương ước, kí hiệu A. 1503, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.373-378)

Lê Thị Thu Hương
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm