45. Dòng họ Lý Văn Phức qua sách LÝ THỊ GIA PHẢ (TBHNH 2004)
DÒNG HỌ LÝ VĂN PHỨC QUA SÁCH LÝ THỊ GIA PHẢ
NGUYỄN THỊ NGÂN
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Lý Văn Phức (1785-1849) tự Lân Chi, hiệu Khắc Trai và Tô Xuyên là một trong những tác gia Hán Nôm khá tiêu biểu nửa đầu thế kỷ XIX, ông đã để lại cho văn học Việt Nam một di sản gồm những tác phẩm không chỉ mang đậm dấu ấn của một thời đại văn học mà còn đóng góp đáng kể vào tiến trình của nền văn học - văn hóa dân tộc. Văn tài của Lý Văn Phức đã thực sự gây được sự quan tâm của giới nghiên cứu(1)
Trong bài viết này, dựa theo sách Lý thị gia phả (Gia phả họ Lý), tôi muốn giới thiệu về dòng họ của Lý Văn Phức ở phường Hồ Khẩu - Thăng Long, Hà Nội.
Trước hết về văn bản, Sách Lý thị gia phảký hiệu thư viện Hán Nôm A.1057, bản viết 42 trang có cấu tạo như sau:
- Lý thị gia phả tự (Bài tựa sách Lý thị gia phả), Hàn lâm viện Biên tu kiêm Quốc sử quán Biên tu Lân Chi Lý Văn Phức viết vào mùa xuân năm Tân Tỵ niên hiệu Minh Mệnh thứ hai (1821).
- Gia phả dẫn (lời dẫn).
- Lý thị gia phả - Đệ nhất diệp (Gia phả họ Lý - Đời thứ nhất), thế tôn Phức (chít Phức) viết tháng 11 năm Tân Tỵ (1821).
- Đệ nhị diệp (Đời thứ hai), huyền tôn Phức (chút Phức) viết tháng 11 năm Tân Tỵ ( 1821).
- Đệ tam diệp ( Đời thứ ba), tằng tôn Phức (chắt Phức) viết tháng 11 năm Tân Tỵ (1821).
- Đệ tứ diệp ( Đời thứ tư), tôn Phức (cháu Phức) viết tháng 11 năm Tân Tỵ (1821).
- Đệ ngũ diệp ( Đời thứ năm), nhi Phức (con Phức) viết ngày mồng 1 tháng tư năm Bính Thân (1836).
Có thể nhận thấy gia phả họ Lý do tác giả Lý Văn Phức viết vào hai lần khác nhau: Lần đầu viết về ông bà tổ tiên (4 đời) vào tháng 11 năm Tân Tỵ (1821) khi tác giả mới ra làm quan được 1 năm, đang đảm nhận chức quan Hàn lâm viện Biên tu kiêm Quốc sử quán Biên tu; Lần sau viết về cha mẹ (đời thứ 5) vào tháng 4 năm Bính Thân (1836) khi cha mẹ tác giả đều đã mất (cha mất năm 1824 và mẹ mất năm 1835).
Họ Lý vốn nguyên quán làng Tây Hương, huyện Long Khê, phủ Chương Châu, xứ Phúc Kiến (Quảng Đông, Trung Quốc). Tiên tổ họ Lý là bậc khai quốc công thần, dòng dõi quan phiệt đời Minh. Khi nhà Mãn Thanh vào chiếm Trung Quốc thì ba anh em Lý Khắc Liêm, Lý Ngã Bích, Lý Khắc Quý không chịu thần phục, bèn cùng nhau theo đường biển sang Việt Nam, ngụ cư ở phường Hồ Khẩu, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức, thành Thăng Long(2).
Ông Lý Khắc Liêm (thủy tổ đời thứ 6 của Lý Văn Phức) khi làm quan nhà Minh được thế tập làm Binh bộ Thị lang, lãnh chức Thái thú(3) Quảng Tây, sau thăng làm Tổng đốc Vân Nam(5). Sang Việt Nam, ông được triều Lê trọng dụng, phong làm Tuyên Quang trấn phiên thần Bức Vũ hầu.
Dưới triều Lê, họ Lý có nhiều người làm quan võ, như ông Lý Khắc Miêu khâm thụ Mậu lâm lang, Đại lý thiếu khanh Trung Nghĩa tử, mất được tặng Thiêm sự Trung Nghĩa bá; ông Lý Khắc Khoan được thăng đến Chánh đội trưởng Vệ úy Thuyên Vũ bá, mất được tặng Hiệu úy Thuyên Vũ hầu; ông Lý Khắc Tuy được thăng đến Kiệt trung Tướng quân Thân quân Chỉ huy sứ Thần vũ Điện tiền chỉ huy thiêm sự Khanh Trung hầu; ông Lý Khắc Tự thế tập làm Tuyên Quang trấn phiên thần; ông Lý Khắc Hào nhậm chức Phó đồn châu Thu Vật; ông Lý Khắc Chiếu được thăng đến Tráng tiết tướng quân Thần vũ Tá vệ Hiệu trung Trung úy Triệu Vũ hầu; ông Lý Khắc Quảng là bản phủ hiệu sinh, sau làm Tuyên Quang trấn Cai trưng Kiên Đức tử.
Con trai út của ông Lý Khắc Liêm là ông Lý Khắc Thiệu và là ông tổ tứ đại (kỵ nội) của Lý Văn Phức không theo nghiệp võ mà theo nghiệp bút nghiên. Ông học rộng biết nhiều nhưng thi Hương không đỗ, bèn đến trấn Tuyên Quang làm nghề dạy học; Con trai của ông Lý Khắc Thiệu là Lý Đạo Vĩ cũng theo cha nhưng thi Hương không đỗ, bèn đến trấn Tuyên Quang lãnh chức Vệ môn Tuần ty.
Con trai trưởng của ông Lý Khắc Thiệu là Lý Khắc Cần và là cụ nội của Lý Văn Phức có ba người con trai và một người con gái, người con trai út chính là ông nội Huy Diệu công Lý Khắc Đôn mà tác giả Lý Văn Phức đã dành nhiều trang viết về ông: Huy Diệu công sinh ra từ giấc mộng lạ - Khắc Cần công mộng thấy một cụ già tóc trắng tặng cho 70 quan tiền, tỉnh dậy thì bà vợ họ Phó có thai, năm Canh Tý (1720) sinh ra ông khôi ngô dị thường. Khoa Đinh Mão (1747) ông Khắc Đôn đỗ Hương tiến vào loại ưu, đồng khoa với thầy dạy Nguyễn Thanh Hồ và là người khai khoa của bản ấp. Các khoa thi Hội năm Mậu Thìn (1748), Nhâm Thân (1752) ông Lý Khắc Đôn đều đỗ tam trường, đến năm Ất Hợi (1755) thụ Tiến công lang Quốc tử giám giáo thụ; năm Ất Dậu (1765) thăng Cẩn sự tá lang Tri huyện huyện Vũ Tiên; năm Canh Dần (1770) lãnh Cẩn sự langThái thường tự Tự thừa, khâm ban Hộ bộ Viên ngoại lang kiêm Lý hộ tụng.
Ông Lý Khắc Đôn tinh thông cả Nho, y, lý, số và giỏi tiên thuật, trừ tà trị bệnh cứu người - Câu chuyện ông vâng sai đi xem xét việc đắp đê cửa biển Ba Lạt mới thật kỳ lạ: Ở xứ ấy có đền công chúa rất thiêng, các quan trước đó cứ vừa xây thì đê lại vỡ. Khi Huy Diệu công đến, mộng thấy công chúa đến trước mặt tha thiết xin với ông rằng nếu ông chẳng lấy làm hổ thẹn hôn phối với công chúa thì sẽ nguyện cùng ông hoàn thành công việc. Huy Diệu công gật đầu đồng ý, tỉnh lại kể lại câu chuyện với người trong ấp, rồi mổ lợn làm lễ thành hôn trước đền thần, việc xây đắp từ đó mới xong. Sau mỗi khi cầu tạnh cầu mưa, thần đều thác mộng rất linh ứng.
Ông Khắc Đôn còn dựng nhà dạy học ở xã Lôi Cầu, huyện Kim Động, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam thượng, đệ tử đến học rất đông và có nhiều người thành đạt nhớ ơn thờ phụng thầy. Việc phần mộ của gia tiên, ông Khắc Đôn đều tự mình điểm chọn; mọi điều lệ của làng xóm đều được ông đặt ra theo đúng phép tắc. Gặp lúc binh biến Tây Sơn, ông Khắc Đôn giữ nghĩa trung quân không ra làm quan mà quy gia tĩnh dưỡng, ông mất đúng năm 70 tuổi như đã tiên đoán từ trước: "Đời người ta đều 70 tuổi là kỳ hạn, khi ta đến 70 tuổi thì nên trở về với tạo hóa cựu vật" và cái chết đến với ông thật an nhiên tự tại - tháng 3 năm Kỷ Dậu (1789) ông không bệnh mà mất.
Tác giả kể tiếp về ông nội: Ông Khắc Đôn vì khó khăn đường con cái nên đêm đêm đốt hương rồi làm chúc văn đốt vào không trung để cầu nguyện, và lòng thành của ông cũng được đền đáp- năm Ất Dậu (1765) khi ông đã 46 tuổi thì bà á thất họ Phan mới sinh được một con trai (chính là cha của Lý Văn Phức) và khi con trai đã trưởng thành, ông cưới vợ cho con là con gái của một người bạn đỗ đồng khoa(4). Lý Văn Phức sinh ra vào năm Ất Tỵ (1785) khi ông nội vẫn còn sống(5), Ông vô cùng yêu quý cháu, lấy ngũ hành sinh số để đặt tên cho cháu là Đường(6).
Thời kỳ Lý Văn Phức còn nhỏ (1785-1802) là thời loạn ly, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ: Từ năm Đinh Mùi (1787) Bắc Hà trải bao phen lụt lội, mất mùa, đói kém. Cuối năm Mậu Thân (1788) 20 vạn quân Thanh kéo sang, dân tình càng thêm khốn khổ vì chiến tranh. Tháng giêng năm Kỷ Dậu (1789) vua Quang Trung từ Thuận Hóa kéo quân ra Bắc diệt phá quân Thanh, nhà Lê mất. Từ năm Nhâm Tý (1792) sau khi Quang Trung mất, nạn nội chiến bùng nổ, nhà Tây Sơn mất, nhà Nguyễn lên thay...(7)
Cha Lý Văn Phức là ông Lý Tố Am được tập ấm làm quan viên tử. Vốn gia đình nhà Nho thanh bạch, con thì còn nhỏ, lại gặp buổi binh loạn, người cha phải vật lộn kiếm sống - vừa làm thuốc, vừa dạy học để nuôi gia đình. Những ký ức về một người cha nhân từ hiện lên thật rõ nét trong tâm khảm tác giả: "Cha ta tính tình cương trực, ngay thẳng rõ ràng. Trong nhà gia pháp rất nghiêm. Con người ông không bao giờ dám tư lợi, suốt đời cha chỉ chăm lấy việc thiện để cứu người... Hàng xóm có việc kiện tụng gì thì dù gió mưa hay đêm tối cũng tự đến để tự tìm hiểu những khuất khúc đúng sai, không hề đòi hỏi lợi lộc...". Mẹ của tác giả là con gái trưởng của Nguyễn công người xã An Nội huyện Từ Liêm, đỗ Hương tiến triều Lê, làm Giám sinh Quốc tử giám, từng giữ chức Tri huyện các huyện Lập Thạch, Thụy Nguyên. Trong ký ức của tác giả về mẹ, bà không chỉ là một người vợ hiền: "lấy hiếu kính để thờ cha mẹ, lấy cần kiệm đề trị gia, lấy hòa thuận để đối xử trong gia tộc", mà bà còn là một người mẹ, một người phụ nữ giàu lòng nhân ái, vị tha: "Trong gia đình luôn thiết tha ân cần dạy bảo con cái, không bao giờ to tiếng. Ngày ngày chăm chỉ việc canh cửi dệt lụa. Có ai vay nợ đã lâu thì từ từ mới hỏi, nếu họ quá khó khăn xin khất nợ thì không hỏi đến nữa. Lúc bình sinh, bà thường làm việc thiện như thế, mọi người đều gọi bà là 'Phật mẫu'... ".
Xuôi theo dòng ký sự của tác giả Lý Văn Phức về dòng họ gia tộc mình(8), chúng ta thêm hiểu về thân thế tác giả trong việc nghiên cứu một cách đầy đủ về một tác gia Hán Nôm hồi đầu thế kỷ XIX - Tác gia Lý Văn Phức./.
Chú thích:
Thông báo Hán Nôm học 2004 (tr.356-362)