VI | EN
45. Hành trạng danh tướng Phạm Đình Trọng qua tư liệu gia phả dòng họ (TBHNH 2012)
45. Hành trạng danh tướng Phạm Đình Trọng qua tư liệu gia phả dòng họ (TBHNH 2012)

HÀNH TRẠNG DANH TƯỚNG PHẠM ĐÌNH TRỌNGQUA

TƯ LIỆU GIA PHẢ DÒNG HỌ

VƯƠNG THỊ HƯỜNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Trong một chuyến điền dã tôi đã có dịp được tiếp xúc với cuốn gia phả của dòng họ Phạm ở thôn Khinh Dao, xã An Hưng, huyện An Dương.

Cuốn gia phả có 2 phần: Phần 1 - phần Tiền biên, viết về Triệu tổ Hải Quận công Phạm Đình Trọng. Phần 2 - phần Chính biên, viết về thế thứ dòng họ Phạm.

Bản gia phả gồm 30 tờ, chữ chân phương đôi chỗ đá thảo rất đẹp, dễ đọc. Tên nhân vật được viết to, đài lên cao, dòng cước chú ghi thân thế hành trạng của từng nhân vật được viết bằng chữ nhỏ hơn. Phả không ghi tên người viết hay sao chép, cũng không thấy ghi niên đại. Nhận thấy phần Tiền biên viết về một nhân vật lịch sử có nhiều điểm thú vị bổ sung cho hành trạng về một nhân vật lịch sử nổi tiếng, nhất là phần thơ văn được đề cập đến trong gia phả nên chúng tôi xin được giới thiệu phần Tiền biên của bản phả này:

PHẠM GIA PHẢ CHÍ TIỀN BIÊN

Triệu tổ Hải Quận công Phạm Đình Trọng, người xã Khinh Dao, huyện Giáp Sơn, trấn Hải Dương là cháu bốn đời của Thừa tuyên Phạm Bỉnh Di đời Lê Hồng Đức (1461- 1497). Cụ Bỉnh Di sinh được con trai Đình Nguyên. Cụ Đình Nguyên thi đỗ khoa Hoành từ đời Quang Thiệu, làm quan tới chức Hàn lâm Học sĩ.

Cụ Đình Nguyên sinh ra Đình Giáp. Năm Nguyên Hòa nguyên niên (1533) thi đỗ Hương cống, sau theo Trịnh Chiêu Tổ(1) đi đánh giặc Mạc, được giữ chức Hữu Tham quân.

Đình Giáp lấy con gái của quan Chỉ huy (sứ) họ Lê ở Khoái Châu. Đình Giáp sinh được 2 con trai, con trai trưởng tên là Đình Bình. Năm Vĩnh Hựu nguyên niên (1735) Đình Bình thi đỗ Hương cống được giữ chức Hàn lâm. Đình Trọng là con trai thứ 2. Trước đó phu nhân họ Lê mộng thấy thần Ngũ Hồ(2) biến thành ngôi sao rơi vào người, từ đó bà có thai rồi sinh ra ông. Ông có dáng mạo trông đẹp đẽ kì vĩ uy nghi như thần. Lúc còn nhỏ mỗi khi chơi, ông thường tập bày các đồ tế lễ, tập cúng tế theo lễ nghi và thường tự ngâm nga rằng:

Trời chẳng già đất chẳng già

Năm hồ bảy miếu một mình ta(3).

Tham Quận công mỗi khi ngắm con đều thấy rất giống thần Ngũ Hồ nên cũng lấy làm lạ. Sau này, có một người Trung Quốc xem tướng, thấy tướng mạo ông trông giống tượng thần Ngũ Hồ, dò hỏi, thấy giờ ngày tháng năm sinh của ông trùng vào lúc miếu thần Ngũ Hồ xảy ra sự biến, nên càng cả quyết ông chính là do thần Ngũ Hồ giáng sinh.

Đến năm ông 18 tuổi đỗ Hương tiến; năm Lê Ý Tông niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 5 (1739) đỗ Tiến sĩ. Khảo quan Nguyễn Trọng Tạo (Quát) đọc bài văn của ông đã dự biết triều đình đã tìm được người tài.

Năm Cảnh Hưng nguyên niên (1740), ông giữ chức quan Giám sát Ngự sử.

Một hôm, ở buổi chầu trở về nghỉ tại xã Hoàng Xá huyện Kim Thành, ông dò tìm được nơi ở của tướng giặc là Quận Gió(4) đang trốn ở dưới đống củi. Ông bắt được và giải lên trên. Vụ đó ông được thưởng 300 mân tiền.

Năm Tân Sửu(5) ông làm Hiệp đồng kiêm Phòng Ngự sử bắt được giặc Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển(6) ở núi Ngọa Vân. Thời đó trong nước giặc giã nổi lên như ong, mà Nguyễn Cầu(7) là mối nguy hiểm nhất. Cầu người xã Lôi Động, huyện Thanh Hà, Hải Dương, còn gọi là Quận He. Tương truyền là do Hải ngư thần thác sinh. Trước kia ông và Cầu cùng theo học Tiến sĩ họ Đặng ở Chương Đức (Hà Tây). Cầu sau đó sinh lòng đố kị, rồi dần dần trở lên đối địch với ông, thường lấy văn từ để khiêu khích, nhưng ông thường cho qua không để bụng. Lúc thi Hương, Cầu không đỗ, còn ông đoạt giải, Cầu càng tỏ ra ghen ghét. Sau đó ông lại vinh dự đỗ đại khoa, trong lòng Cầu liền chất chứa sự đố kị thù hằn, bèn kết bè đảng nổi loạn ở vùng Nam Sách. Cầu còn cho khai quật mộ phần của mẹ ông vứt xuống sông. Từ đó ông thề rằng sẽ không cùng chung sống trên đời với Cầu. Cầu là người có sức khỏe như thần, mỗi lần lâm trận đều vác đao lớn, lao thẳng về phía trước khó ai địch nổi. Người đương thời thường gọi Cầu là Hạng Vương(8) của nước Nam. Quan quân triều đình nhiều lần ra trận đều bị Cầu đánh bại. Phạm Đình Trọng phụng mệnh triều đình đốc suất thủy quân xuất phát từ ven biển Đông Triều tiến đánh, thề nếu không đánh được giặc Cầu thì sẽ không quay về.

Có lần, Đình Trọng đang ngồi trong thuyền, Cầu lặn xuống nước bơi đến chỗ thuyền ông rồi nhảy lên. Ông nhanh chóng đến cửa khoang hô lớn rằng: “Ta chém được đầu Quận He rồi”. Quân sĩ nghe tiếng đều đã nhất loạt xô lại. Cầu sợ hãi lặn xuống nước. Ông lệnh cho quân sĩ cầm giáo xỉa thẳng xuống nước. Cầu liền trốn mất. Lần khác, nhân lúc ông ghé qua bến sông, giặc Cầu lẻn đến bao vây, ông đốc thúc quân lính của mình dốc sức đánh nhau với quân của Cầu khiến quân lính của Cầu bị chết và bị thương nhiều, Cầu phải dẫn tàn quân trở về căn cứ. Vua Hiển Tôn nghe vậy khen ông dũng cảm bèn ban chiếu phong cho là Dao Lĩnh hầu.

Năm Nhâm Tuất (1742), ông được triệu về kinh làm chủ khảo thi Hội(9). Việc xong, ông lại cùng Tuần Quận công lĩnh binh đi dẹp giặc. Vua Hiển Tôn cho vời vào cung hỏi chuyện quân cơ. Ông tấu đối lưu loát rõ ràng, nhà vua vô cùng vui mừng, gia phong cho ông 3 cấp, thưởng 300 mân tiền.

Thời Cầu còn chiếm cứ Đồ Sơn, thuộc hạ có đến 18 Quận công, tinh binh hơn 4 vạn người, xây thành đào hào chống lại triều đình, lôi kéo dân chúng làm chấn động khắp nơi.

Phạm Đình Trọng được lệnh cầm quân tiến đánh (Cầu) ở Kinh Môn, lệnh cho quân lính đóng trại ở nơi cao, sau đó bí mật cho thuyền nhỏ cướp thuyền lương của Cầu, cắt đứt đường tiếp tế lương thực của Cầu. Ông còn cho bố trí quân mai phục từ trên núi cao bắn vào trại của Cầu. Quân của Cầu bất ngờ không phòng bị nên tự tan vỡ. Cầu liền bỏ thành chạy về Kinh Bắc. Phạm Đình Trọng lại cho quân truy đuổi đến Kinh Bắc và đại phá quân Cầu ở sông Thương. Nghe tin thắng trận vua Hiển Tôn vô cùng vui mừng, ngự bút ban cho ông bốn chữ “Văn võ toàn tài”, lại ban thưởng thêm cho ông 10 lạng vàng. Ông lĩnh thưởng rồi tạ ân, (trong lòng) luôn tự nhủ lấy việc bình giặc làm trách nhiệm của mình.

Lại nói, lúc đó Cầu đã bại trận nhiều lần, sức cạn bèn mưu trốn đi một nơi xa. Một hôm Cầu sai người đưa thư cho ông, ông mở xem thì thấy Cầu viết một vế đối:

玉藏一点出為主入為王

Ngọc tàng nhất điểm, xuất vi chúa, nhập vi vương

Nghĩa là: bộ “ngọc” có một dấu chấm, đặt lên đầu là chữ “chúa”, bỏ đi là chữ “vương”. Ý nói chí lớn của mình không làm chúa cũng làm vua chứ không chịu hàng.

Ông viết thư đối lại rằng:

土截半横順者上逆者下

Thổ triệt bán hoành, thuận giả thượng, nghịch giả hạ

Nghĩa là: chữ “thổ” bỏ nửa một nét ngang, để xuôi là chữ “thượng”, để ngược là chữ “hạ”. Câu này có ý đe dọa nếu thuận theo triều đình thì có chức tước, chống lại thì bị tiêu diệt.

Cầu xấu hổ vô cùng. Năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749) giặc Cầu trốn vào Nghệ An, liên kết với giặc Chất(10) chiếm cứ vùng Thanh Hóa. Ông (chỉ Phạm Đình Trọng) cùng với người trong họ là Viêm Thọ hầu Phạm Đình Sĩ đem quân đánh đến tận sào huyệt, trải hơn 10 trận, giặc Cầu bị vây hãm và cuối cùng bị bắt ở Quỳnh Lưu, (ông cho người) đóng cũi áp giải về kinh. Dư đảng của Cầu cũng bị bắt hết. Công cuộc bình giặc Cầu mất khoảng 10 năm. Thế là trải qua biết bao khó khăn lưng cơm yên ngựa rồi cũng đến ngày từ biệt chiến trường. Sau khi chiến thắng trở về ông được thăng chức Thượng thư Bộ Binh, gia thêm hàm Thiếu bảo, sắc phong ban cho là: Dương Vũ tuyên lực công thần, Hải Quận công; lại được ban cho 150 mẫu ruộng làm lộc điền.

Trước kia ở châu Vạn Ninh có bến đò Hồng Đàm là một vùng hiểm yếu xứ Đông Hải, thường có bọn cướp biển, chúng tụ tập cướp phá các thuyền buôn. Trong nhiều năm Tổng đốc Quảng Đông (Trung Quốc) cùng Trấn thủ Yên Quảng (nay là Quảng Ninh -Việt Nam) đã nhiều lần hợp sức nhưng vẫn chưa dẹp yên được. Phạm Đình Trọng phụng mệnh tuần tra trên biển, đánh dẹp bọn cướp biển. Ông cầm quân tấn công vào tận sào huyệt của bọn cướp, bắt sống kẻ cầm đầu cùng đồ đảng 70 tên thổ phỉ, cho người áp giải về Quảng Đông. Ông lại thân chinh đến tận Long Môn(11) giao người, khiến người phương Bắc (chỉ Trung Quốc) cảm thấy rất đỗi thân tình. Người Trung Quốc thấy ông (làm được những điều như vậy) đều khen ngợi không ngớt, (họ) tiếc rằng ông tài lớn sinh ra ở nước nhỏ, bậc quân tử mà phải mang mệnh quyền thần. Sau đó Tổng đốc Quảng Đông tấu trình mọi việc lên vua Thanh. Vua Thanh rất phục tài của ông và sai sứ giả tới ban cho 10 lạng vàng, 100 tấm vải lụa Trung Quốc, lại ban cho chức Thượng thư. Vì thế người đương thời còn gọi ông là Lưỡng quốc Thượng thư.

Năm Cảnh Hưng thứ 12 (1751), ông phụng mệnh tới trấn nhậm vùng Nghệ An và kiêm quản trấn Ninh châu Bố Chính. Việc cai quản dân chúng của ông cũng đạt được nhiều công tích. Tục truyền khi ông đến đây, còn để lại bài Tượng đầu đoán tụng kí(12).

Tham tụng Kiều Quận công Nguyễn Công Thái(13) là bạn đồng liêu với ông về trí sĩ, ông có bài thơ tiễn bạn về hưu(14):

珪璋譽播斗南天

一遇緣諧魚水緣

捧出重輪升海上

光開入座映雲邊

阿衡復政遑居寵

社歸閒樂度年

出處行藏關世運

高擎國拄望勳賢

(Văn chương tài đức của ông như sao Bắc Đẩu trời Nam.

Duyên gặp đấng minh quân, tựa như cá gặp nước.

Chí lớn bưng mặt trời mọc lên từ biển cả.

Rạng rỡ suốt tám cõi, sáng bừng cả trời mây

Ngôi cao Tể tướng giữ vững chốn triều đình,

(Nay) nhàn nhã vui vẻ nghỉ ngơi suốt năm nơi thôn dã.

Việc xuất xử, hành tàng của ông đều liên quan đến vận mệnh của thời cuộc,

Ông là cột trụ của quốc gia, mọi người ngưỡng mộ công lao bậc huân thần).

Ông là người giỏi văn chương, ngâm vịnh rất nhiều, đại khái như trong các sách thơ ca như Hoàng Việt xưa đã chép nên không thể kể hết ra đây.

Năm Cảnh Hưng thứ 15 (1754) ông mất tại nơi trấn nhậm. Vua Hiển Tông thương xót, sai quan tới dụ tế và sai Tham tụng Nguyễn Nghiễm(15) làm một bài văn tế(16).

Quan Đốc thị Trần Danh Lâm(17) có văn tế ông(18).

Bản doanh tướng hiệu cùng nhau làm văn tế ông trong đó có câu:

, ,

壽算

去口

(19)

.

 

Tạm dịch là:

“Ô hô!

Con người sinh ra trên đời giống như kẻ lữ khách, việc đời tựa như cuộc cờ

Bùi Tấn Quốc(20) tu thế nào mà ngoài bảy mươi vẫn được thêm tuổi thọ;

Quách PhầnDương(21)hưởng phúc gì mà sống tới hơn 80 năm có lẻ

Cớ sao Tướng công đã vội ra đi, đạo trời thực chẳng công bằng.

... Hôm nay giữa đường đưa tiễn, bàng hoàng về sự ra đi

Nhớ công ơn của ngài, (lũ chúng tôi) nước mắt tràn mi

(Thôi) nơi tăm tối xa mù (tiễn) ngài về với chốn cửu kinh.

Sau khi ông mất, tướng sĩ và nhân dân nơi ông trấn nhậm tưởng nhớ tới công đức của ông nên đã lập đền thờ ở núi Hương Càn (Cờn) huyện Kì Hoa trấn Nghệ An.

Sau này có Kế Liệt hầu Bùi Huy Bích(22) tiếp tục làm Hiệp trấn Hoan Châu có tới bái yết đền thờ ông và làm bài thơ ngợi ca:

文 武 全 才 薀 出 倫

曾 於 史 館 絕 名 臣

未 言 死 後 長 如 在

昴 星 生 前 已 自 神

一 副 胸 襟 橫 宇 宙

十 年 琴 劍 定 風 塵

何 哉 亦 戴 仪 冠 者

自 運 僅 僅 尋 行 人

(Ông là người văn vũ toàn tài, kinh luân kiệt xuất,

Nơi sử quán lưu dấu danh thần có được mấy người.

Chứ chưa nói sau khi chết rồi mà hương hồn còn mãi,

Lúc sinh thời đã có (tài năng) tựa như thần.

Một lần vung tay áo tung hoành vũ trụ,

Mười năm cầm kiếm định thế phong trần.

Vì sao cũng có người mang đai mũ (như ông),

Lại chỉ lựa theo thời vận tìm người phò tá).

Chúa Trịnh cũng tự mình làm một đôi câu đối:

蓋世英雄今古少

在人功德地天長

(Anh hùng cái thế xưa nay hiếm

Công đức của ông còn lại mãi ngàn năm).

Năm Chiêu Thống nguyên niên (1787) ông được triều đình ban sắc phong là Thượng đẳng thần và các mĩ tự là: Cương chính Anh uy Linh cảm Đại vương.

-Hàn lâm Học sĩ Ngô Thời Sĩ(23) trong bài chế viết về ông có câu rằng:

申 岳 英 摽 甲 魁 峻 望 羽 扇 綸 巾 清 瘴 海 礼書 節 制 真 仪 良 將 之 才,

輕 裘 煖 帶 帖 橫 山 忠 信 藩 翰.

緯 武 經 文 之 事 懋 績 長 留 於 卞 券 窿 華 宜 賁 於 彝 章,

本 朝 列 聖 代 有 褒 封 生 為 將 死 為 神 公 之謂 也.

(Thân nhạc anh phiêu, ngôi cao ngất ngưởng, áo mũ cân đai quạt lông rực rỡ, thi thư tiết chế, xứng bậc lương tướng anh tài.

Áo cừu đai gấm, một mảnh giáp mang, khắp dải Hoành Sơn, trung trinh nơi phên dậu.

Văn chương kinh sợ, võ lược siêu phàm, công danh khoa hoạn còn tỏa mãi trong điển chương thờ cúng.

Bản triều liệt thánh, các đời ban khen, sinh làm tướng, chết làm thần, là để nói về ông vậy).

Ông hưởng thọ 50 tuổi(24), mộ táng ở Kì Sơn đất Nghệ An.

Nay từ đường còn ở Khinh Dao, Hải Dương tức là quê quán của ông. (Nơi đây) đời đời bền vững, hương hoa không dứt, con cháu đời sau nếu có chuyển đi sống ở nơi nao vẫn nối đời làm hào trưởng. Thực đúng là sự rạng rỡ của đời sau đều nhờ cả vào công lao khai sáng của tổ tiên đời trước.

[….](25).

Lời kết

Bản gia phả ghi chép rất tỷ mỉ về hàng trạng của danh tướng Phạm Đình Trọng. Đồng thời cũng cung cấp cho người đọc nhiều tư liệu về Phạm Đình Trọng và những đánh giá của triều đình đương thời đối với ông. Đây cũng là một góc nhìn khác - góc nhìn từ dã sử đối với nhân vật lịch sử nổi tiếng và có không ít những chi tiết bổ sung cho chính sử về hành trạng một nhân vật có nhiều công lao đóng góp trong sự nghiệp của vương triều Lê- Trịnh.

 

Chú thích:

(1). Trịnh Chiêu Tổ tức Trịnh Căn. Chữ Chiêu trong văn bản viết kiêng húy .

(2). Thần Ngũ Hồ: theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia cho biết: Ngũ hồ là 5 hồ Động Đình và các hồ lân cận, ở đây có nhiều cảnh đẹp. Còn theo sách "Tiều học kiểm châu" thì Ngũ Hồ gồm: Thái HồHồ Châu, Xạ Dương hồSở Châu, Thanh Thảo hồNhạc Châu, Đan Dương hồNhuận ChâuCung Đình hồHồng Châu.Ở đây ý nói Phạm Đình Trọng được sinh ra bởi tinh hoa anh linh của nước non.

(3). Chỗ này nguyên bản viết bằng chữ Nôm.

(4). Quận Gió: 郡𩙍. Nhân vật này xuất hiện trong truyện cổ tích dưới thời vua Lê Thánh Tông chỉ những kẻ ăn trộm rất giỏi nhưng chỉ lấy trộm của nhà giàu chia cho nhà nghèo, từng được vua ban cho là "ăn trộm quân tử". Ở đây Quận Gió có lẽ là tên để chỉ chung thủ lĩnh bọn trộm cướp thời đó.

(5). Năm Tân Sửu: so sánh với chính sử thì thấy gia phả ghi năm Tân Sửu không hợp lí, theo chính sử thì Phạm Đình Trọng bắt được Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển là năm Ất Sửu 1745.

(6). Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển: hai thủ lĩnh trong khởi nghĩa nông dân. Năm 1739, Vũ Đình Dung nổi dậy ở Ngân Già (nên còn gọi là giặc Ngân Già), hậu duệ nhà Mạc (đã bị đổi họ) là Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển cùng Vũ Trác Oánh nổi dậy ở Hải Dương. Nguyễn Cừ và Nguyễn Tuyển chiếm đất Đỗ Lâm ở Gia Phúc, núi Phao Sơn ở Chí Linh làm đồn, xây lũy liên lạc với nhau, quân lính kể có hàng mấy vạn người, quân triều đình đi đánh, nhiều lần bị thua. Năm 1741 thống lĩnh Hải Dương là Hoàng Nghĩa Bá phá được các đồn quân khởi nghĩa ở Phao Sơn, ở Ninh Xá và Gia Phúc; Nguyễn Tuyển thua chạy rồi chết, Vũ Trác Oánh trốn đi mất tích. Nguyễn Cừ chạy lên Lạng Sơn được mấy tháng, lại về Đông Triều, nhưng vì hết lương phải ở núi Ngọa Vân, bị Phạm Đình Trọng bắt được đóng cũi đem về kinh hành hình.

(7). Nguyễn Cầu: còn gọi là Nguyễn Hữu Cầu, tục gọi là Quận He, người huyện Thanh Hà (Hải Dương), theo Nguyễn Cừ khởi nghĩa. Khi Nguyễn Cừ bị bắt, Nguyễn Hữu Cầu đem thủ hạ về giữ núi Đồ Sơn và đất Vân Đồn. Vì ngày thường cướp được thóc gạo của thuyền buôn, đem cho dân nghèo, cho nên Quận He đi đến đâu cũng có người theo. Năm 1746, quận He cho người đem vàng về đút lót cho Đỗ Thế Giai và người nội giám là Nguyễn Phương Đĩnh để xin hàng, Trịnh Doanh thuận cho và lại phong cho làm Hướng Nghĩa hầu. Nguyễn Hữu Cầu tuy đã xin về hàng, nhưng vẫn đi cướp phá các nơi, sau lại về phá ở đất Sơn Nam. Phạm Đình Trọng đánh đuổi Hữu Cầu ở Cẩm Giàng, Hữu Cầu nhân lúc kinh thành không ai phòng bị, nên lẻn về đánh, ngay đêm hôm ấy kéo quân về bến Bồ Đề. Đến nơi thì trời vừa sáng; có tin báo, Trịnh Doanh tự đem quân ra giữ ở bến Nam Tân. Phạm Đình Trọng biết tin ấy lập tức đem quân về đánh mặt sau, Hữu Cầu lại thua bỏ chạy, về cùng với Hoàng Công Chất cướp ở huyện Thần Khê và Thanh Quan. Phạm Đình Trọng và Hoàng Ngũ Phúc lại đem binh xuống đánh đuổi. Năm 1751, Phạm Đình Trọng đem quân vào đánh phá trại. Hữu Cầu chạy đến làng Hoàng Mai thì bị bắt, đóng cũi đem về nộp chúa Trịnh và bị hành hình. Tương truyền trước khi chết ông có làm bài thơ "Chim trong lồng" nổi tiếng.

(8). Hạng Vương: còn gọi là Hạng Vũ, người Trung Quốc, có sức khỏe hơn người, có công lớn trong việc diệt Tần đánh Hán.

(9). Các tài liệu khoa cử để lại cho biết Phạm Đình Trọng tham gia chủ khảo kỳ thi Tiến sĩ năm Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng thứ 4 (1743). Chỗ này gia phả có chút lầm lẫn chăng?.

(10). Chất: tức Hoàng Công Chất- một thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân lúc đó. Hoàng Công Chất vốn là thủ hạ của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ. Sau khi Nguyễn Cừ thất bại, Công Chất tự lập thành cánh quân riêng, đánh phá ở đất Sơn Nam, Khoái Châu.

Năm 1745, Công Chất thắng trận, bắt và giết quan trấn thủ Sơn Nam là Hoàng Công Kỳ. Sau đó bị quân Trịnh đuổi đánh, Công Chất chạy vào Thanh Hóa rồi ra Hưng Hóa cùng với thủ lĩnh khởi nghĩa tên là Thành chiếm giữ vùng ấy.

Năm 1751, Thành bị bắt, Công Chất chạy lên giữ động Mãnh Thiên (phía bắc Hưng Hóa), vùng Mường Thanh, rồi chiếm giữ cả mấy châu gần đấy, thủ hạ có hàng vạn người. Từ đó Công Chất cướp phá ở Hưng Hóa và Thanh Hóa. Công Chất cùng con là Công Toản làm chủ Hưng Hóa nhiều năm, rất được lòng dân Mường Thanh, được dân chúng suy tôn làm chúa. Năm 1769, Trịnh Sâm sai thống lĩnh là Đoàn Nguyễn Thục đem quân Sơn Tây lên đánh động Mãnh Thiên. Khi quân Trịnh lên đến nơi thì Hoàng Công Chất đã chết rồi, con là Hoàng Công Toản chống giữ không nổi, bỏ chạy sang Vân Nam, Trung Quốc.

(11). Long Môn: tên địa danh của nhà Thanh, (Trung Quốc).

(12). Bài kí này đã được PGS. TS Nguyễn Minh Tường giới thiệu trên Tạp chí Hán Nôm số 3 (88) 2008; tr.50-59 nên ở đây chúng tôi lược bớt.

(13). Nguyễn Công Thái: có sách đọc là Thể. Ông người làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì. Đỗ Tiến sĩ năm 1715, làm quan trải các chức Quốc tử giám Tế tửu, Đông các Hiệu thư, hành Thị lang Bộ Công, Bộ Hình, Bộ Lại. Ông mất năm Mậu Dần 1758, hưởng thọ 74 tuổi, được truy tặng chức Thái phó, thụy là Trung Mẫn.

(14). Bài này nguyên tiêu đề là Tiễn nhập thị Tham tụng Kiều Quận công Nguyễn Công Thái trí sĩ.

(15). Tham tụng Nguyễn Nghiễm (1708 - 1775),người xã Tiên Điền huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh. Ông hiệu Nghi Hiên , biệt hiệu Hồng Ngư cư sĩ , tự Hy Tư và thụy là Trung Cần .

Ông nội Nguyễn Nghiễm là Nguyễn Thể làm Điển binh, cha là Nguyễn Quỳnh làm Chánh đội trưởng. Sau khi đỗ thi Hương (1723), Nguyễn Nghiễm được vào học Quốc tử giám (1724). Khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 3 (1731) Nguyễn Nghiễm 24 tuổi, đỗ Hội thí, thi Đình được ban Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, tức Hoàng giáp.

Sau khi thi đỗ, Nguyễn Nghiễm được cử đi truyền chiếu ở Nghệ An; rồi làm Giám khảo trường thi Hương ở Thanh Hoa. Tháng 7 năm 1734 ông được nhận chức Hàn lâm viện Đãi chế. Nguyễn Nghiễm từng giữ các chức quan như: Tham nhung vụ Hiệp đồng Tán lý, Tham chính xứ Sơn Nam, Tế tửu Quốc tử giám, Hàn lâm Thừa chỉ, tước Xuân Lĩnh bá; Hữu Tham tri Bộ Công, tước Xuân Lĩnh hầu; Hiệp trấn xứ Thanh Hoa, Thiêm Đô Ngự sử, Đô Ngự sử kiêm Đốc trấn Thanh Hoa, Hiệp trấn Nghệ An; Tả Thị lang Bộ Hình và Bộ Lễ, Thượng thư Bộ Công, Nhập thị Bồi tụng hàm Thái tử Thiếu bảo; rồi thăng Đại tư không, Thượng thư Bộ Hộ, Đại tư đồ tước Xuân Quận công. Ông là người sinh ra đại thi hào Nguyễn Du.

(16). Xem thêm Vương Thị Hường: Tham tụng Nguyễn Nghiễm và bài văn tế danh tướng Phạm Đình Trọng, Tạp chí Hán Nôm số 5, 2011.

(17). Đốc thị Trần Danh Lâm: ông người làng Bảo Triện, huyện Gia Bình, Bắc Ninh. Đỗ Tiến sĩ năm 1731. Làm quan tới chức Bồi tụng. Ông là con Tiến sĩ Trần Phụ Dực, em Tiến sĩ Trần Danh Ninh, cha Hoàng giáp Trần Danh Án.

(18). Bài văn tế này đã được Nguyễn Minh Tường, Ngô Lan Phương dịch giới thiệu trên Tạp chí Hán Nôm số 3 (100) 2010; tr. 51-57 nên ở đây chúng tôi lược bớt.

(19). Chúng tôi xin lược một đoạn.

(20). Bùi Tấn Quốc: là Bùi Độ. Ông được phong chức Tấn Quốc công. Bùi Độ khi còn hàn vi, có người xem tướng bảo sau sẽ bị chết đói, nếu sớm biết tu nhân hành thiện thì sẽ khác. Bùi Độ nghe vậy ra sức tu nhân hành thiện. Một thời gian sau gặp lại người xem bói, người này vô cùng ngạc nhiên vì thấy Bùi Độ lúc này lại có tướng làm Tể tướng. Sau này Bùi Độ được làm Tể tướng đúng như lời thầy bói nói.

(21). Quách Phần Dương: là Quách Tử Nghi, danh tướng đời Đường. Ông có công dẹp loạn An Sử. Ông là người trung thành, nhiều lần bị bãi chức vẫn không oán giận vua, được phong Phần Dương vương, hưởng thọ hơn 80 tuổi.

(22). Bùi Huy Bích (1744 - 1818) tự là Hy Chương, Ảm Chương; hiệu Tồn Am, Tồn Am Bệnh Tẩu. Ông người làng Ðịnh Công, huyện Thanh Trì, sau di cư sang làng Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Năm 1762, đỗ Hương cống. Năm 1769, đỗ Tiến sĩ. Từng giữ các chức: Hiệu lý Viện Hàn lâm, rồi thăng Thị chế, Thiêm sai Tri hộ phiên, kiêm chức Ðông các hiệu thư. Năm 1777, ông làm Ðốc đồng Nghệ An. Năm 1778, làm Hiệp trấn Nghệ An. Về sau, ông kiêm chức Tả Thị lang Bộ Lại, Hành Tham tụng, tước Kế Liệt hầu. Ít lâu sau, ông cáo bệnh, về ở ẩn. Sau này Gia Long có vời ông ra làm quan, nhưng ông từ chối.

(23). Hàn lâm Học sĩ Ngô Thời Sĩ: ông người làng Tả Thanh Oai, Hà Nội. Đỗ Hoàng giáp năm 1766. Ngô Thì Sĩ là cha của các danh sĩ: Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Chí, Ngô Thì Trí, Ngô Thì Hương và là cha vợ của Phan Huy Ích.

(24). Các sách sử đều ghi ông mất lúc 40 tuổi.

(25). Chỗ này còn một đoạn nói về vợ con ông nhưng do khuôn khổ của bài thông báo nên chúng tôi xin lược bớt.

Tài liệu tham khảo:

1. vi.wikipedia.org

2. www.nomna.org/ - Vietnamvi.wikipedia.org/wiki/PhạmĐìnhTrọng(tướngnhàLê-Trịnh)

3. Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nxb. KHXH, H. 1991.

4. Ngô Đức Thọ (chủ biên), Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 -1919, Nxb. Văn học (tái bản 2006).

5. Trịnh Khắc Mạnh, Văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam, Nxb. Giáo dục, H. 2007.

6. Tạp chí Hán Nôm các số: 3 (88) 2008; 3 (100) 2010; 5 (108) 2011.

7. 范家谱志前编Phạm gia phả chí tiền biên, bản gia phả bằng chữ Hán của dòng họ Phạm ở Khinh Dao.

(Thông báo Hán Nôm học 2012,tr.379-394)

Vương Thị Hường
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm