VI | EN
45. Những đặc điểm cơ bản của Y học cổ truyền
tb07

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA Y HỌC CỔ TRUYỀN

 

 

ĐẶNG QUỐC KHÁNH

Cục Quân y Bộ Quốc phòng

 

 

Trong y học cổ truyền mỗi lĩnh vực thuộc chức năng sinh lý, biến đổi bệnh lý, chẩn đoán và điều trị đều có những đặc điểm riêng của mình. Ví dụ như: xem con người là một chỉnh thể hữu cơ có những liên hệ giữa tạng phủ với kinh lạc; giữa con người và giới tự nhiên có quan hệ mật thiết nên những yếu tố “thất tình”, “lục dâm” có thể gây bệnh. Những yếu tố gây bệnh không chỉ có từ bên ngoài, mà có thể đến từ bên trong cơ thể. Khi chẩn đoán lấy “tứ chẩn” làm phương pháp khám xét dùng “bát cương” làm cương lĩnh biện chứng, xem “biện chứng tạng phủ” và “biện chứng vệ khí dinh huyết” làm nội dung cơ bản lý luận biện chứng. Trong lĩnh vực phòng bệnh coi trọng dự phòng, chủ trương điều trị từ lúc chưa có bệnh đồng thời đề ra một số nguyên tắc “trị bệnh cầu bản”, “phù chính trục tà”, “tùy người, tùy nơi, tùy lúc mà chọn pháp điều trị cho thích hợp”... Từ những điều trên chúng ta thấy hai đặc điểm cơ bản xuyên suốt của y học cổ truyền là: quan niệm chỉnh thể và biện chứng luận trị.

1. Quan niệm chỉnh thể

Chỉnh thể bao gồm tính thống nhất và tính hoàn chỉnh. Y học cổ truyền rất coi trọng mối quan hệ mật thiết giữa giới tự nhiên với tính thống nhất và tính hoàn chỉnh của cơ thể con người. Nhận thức rằng cơ thể là một chỉnh thể hữu cơ giữa các bộ phận cấu tạo nên cơ thể về mặt kết cấu không thể tách rời, về mặt chức năng tác dụng hợp đồng, điều hòa lẫn nhau và về mặt bệnh lý có thể ảnh hưởng lẫn nhau. Mặt khác giữa cơ thể và hoàn cảnh tự nhiên có mối quan hệ mật thiết với nhau. Loài người trong quá trình tồn tại một mặt tự cải tạo thế giới tự nhiên đồng thời cũng tự thích ứng một cách năng động với thế giới tự nhiên. Trong mối quan hệ ấy cơ thể dần tự hoàn chỉnh chính mình, đây chính là tư tưởng chủ yếu về chỉnh thể của y học cổ truyền. Quan niệm chỉnh thể là sự thể hiện của chủ nghĩa duy vật và tư tưởng của phép biện chứng cổ đại. Tư tưởng này xuyên suốt các vấn đề sinh lý, bệnh lý, chẩn đoán, biện chứng và điều trị...

1.1. Cơ thể là một chỉnh thể hữu cơ

Y học cổ truyền cho rằng cơ thể là một chỉnh thể hữu cơ với ngũ tạng làm trung tâm và do tâm làm chủ. Cơ thể do ngũ tạng (tâm, can, tỳ, phế, thận), lục phủ (vị, tiểu tràng, đại tràng, tam tiêu, bàng quang và đởm), ngũ thể (bì phu, mạch, cơ nhục, cân cốt), và các khiếu (mắt, mũi, miệng, lưỡi, tiền âm và cang môn) liên kết với nhau tạo thành. Trong đó mỗi bộ phận đều có chức năng riêng, tạo thành một cơ quan độc lập với nhau. Tuy nhiên các cơ quan ấy lại thông qua hệ thống kinh lạc toàn thân mà liên hệ với nhau theo những quy luật nhất định. Như tạng - phủ - thể - khiếu tạo thành một hệ thống. Chẳng hạn can - Đởm - cân - mắt tạo thành “hệ thống can”; tâm - tiểu tràng - mạch - lưỡi tạo thành “hệ thống tâm”; tỳ - vị - cơ nhục - miệng tạo thành “hệ thống tỳ”; phế - đại tràng - bì phu tạo thành “hệ thống Phế”; thận - bàng quang - cốt - tai tạo thành “hệ thống thận”. Mỗi hệ thống đều có tạng làm nòng cốt nên cả năm hệ thống lấy ngũ tạng làm trung tâm. Trong ngũ tạng lại lấy tâm làm thống lĩnh tối cao như sách Tố vấn - Linh lan bí điển luận viết: “Tâm giữ vai trò quân, chủ thần minh”. Như vậy trong cơ thể hoàn chỉnh Tâm có vai trò thống lĩnh mọi hoạt động sống. Đây là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng và cũng là đặc điểm riêng của y học cổ truyền.

Cơ thể do các tạng, phủ, các khiếu liên kết với nhau một cách bền vững do tâm chi phối duy trì mọi hoạt động sinh lý đồng bộ, nhịp nhàng. Trong quá trình hoạt động linh lý, tâm là “minh chủ của lục phủ ngũ tạng” giữ vai trò quan trọng điều hòa các hoạt động. Nếu chức năng của tâm bất thường sẽ gây nguy hiểm cho lục phủ ngũ tạng và toàn thân, vì thế sách Tố vấn - Linh lan bí điển luận viết: “Phàm các cơ quan hoạt động bình thường do quân chủ minh mẫn, sống sẽ dẻo dai”, “Nếu quân chủ bất binh các cơ quan sẽ nguy hiểm, kinh mạch trở ngại, hình thể bị thương tổn, không thể sống lâu”. Vì thế y học cổ truyền rất quan tâm coi trọng nuôi dưỡng và bảo vệ tâm. Mặt khác giữa các tạng còn tồn tại quan hệ tương sinh tương khắc của ngũ hành nhằm duy trì sự cân bằng giữa năm hệ thống kể trên. Trong mỗi hệ thống, giữa tạng, phủ, hình thể, các khiếu cần có quan hệ rất mật thiết, tinh khí do tạng phủ tạo thành không chỉ để tu dưỡng cho bản thần tạng phủ mà còn đồng thời tu dưỡng cho hình thể và các khiếu nhằm cùng nhau hoàn thành chức năng sinh lý của cơ thể.

Quan niệm chỉnh thể trong quá trình bệnh lý là chú trọng xem xét ảnh hưởng của bộ phận này đến bộ phận khác nhằm dự kiến diễn biến của bệnh. Vì một tạng nào đó trong ngũ tạng bị bệnh đều có thể ảnh hưởng đến tạng khác. Chẳng hạn can xuất hiện “can hỏa” có thể truyền đến tâm gây chứng tâm can hỏa vượng, phiền tức dễ cáu gắt; truyền vào phế tạo chứng can hỏa phạm phế kinh gây chứng tức ngực khái huyết; truyền vào Vị tạo chứng can hỏa phạm Vị gây chứng đau bụng ợ chua, thậm trí nôn ra máu. Mỗi hệ thống trong năm hệ thống lớn, các bộ phận thành viên cũng ảnh hưởng lẫn nhau. Như chứng thận hư, không những bản thân chức năng thận giảm sút mà còn ảnh hưởng đến tai gây giảm sức nghe, ù tai, điếc tai; ảnh hưởng đến bàng quang làm cho nó mất khả năng cố nhiếp gây chứng đái dầm, thậm trí đi tiểu không tự chủ. Thận hư còn gây ảnh hưởng đến xương cốt làm trẻ con còi xương, biến dạng xương, làm xương người lớn bị giòn dễ gẫy...

Trong chẩn đoán, quan niệm chỉnh thể biểu hiện ở chỗ “Xem ngoài để biết bên trong”. Đây là một trong những phương pháp tư duy của y học cổ truyền. Khi khám bệnh các thầy thuốc rất chú ý khám lưỡi, vì lưỡi thông qua kinh mạch trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến tạng phủ. Sách Lâm chứng nghiệm thiệt pháp viết: “Xem sơ đồ tạng phủ, tỳ can phế thận không có chỗ nào không liên quan đến tâm. Xem xét kinh lạch cả thủ túc âm dương không mạch nào không liên quan đến lưỡi. Để biết bệnh của tạng phủ kinh lạc không chỉ thương hàn phát nhiệt, có thai có thể xem, mà cả nội ngoại tạp chứng không bệnh gì không thấy biến đổi hình thể hay màu sắc ở lưỡi”. Còn viết “Xem lưỡi có thể biết hư thực, mà hư thực không sai lệch. Xem lưỡi để biết âm dương mà âm dương không lẫn. Xem lưỡi để biết tạng phủ, kê đơn thuốc mà tạng phủ không nhầm và đơn thuốc không sai”. Mức độ hư thực của tạng phủ, thịnh suy của khí huyết, thừa thiếu của tân dịch, thuận nghịch nặng nhẹ của bệnh tật đều có thể xem từ lưỡi. Khám lưỡi có thể xác định trạng thái công năng của tạng phủ. Không chỉ khám lưỡi, mà xem mạch, quan sát sắc diện, thậm chí khám ở vành tai cũng có thể biết được tình trạng toàn thân... đây đều là những vận dụng cụ thể của quan niệm chỉnh thể trong chẩn đoán.

Quan niệm chỉnh thể từ góc độ điều trị là chú ý đến quan hệ giữa tạng phủ hình thể, khiếu với nhau và cả quan hệ giữa năm hệ thống tạng ứng với nhau. Ví dụ như thấy lưỡi đỏ nuốt đau cần nghĩ tâm khai khiếu ở lưỡi, lưỡi hồng là màu của hỏa; lưỡi đỏ nuốt đau là chứng của tâm hỏa vượng, khi điều trị dùng phép thanh tâm tả hỏa sẽ thu được hiệu quả. Đồng thời cũng cần chú ý đến quan hệ và quy luật chuyển biến của ngũ tạng với nhau. Sách Nạn kinh - Nạn thứ bảy mươi bảy viết: “Điều trị từ lúc chưa bệnh có nghĩa là thấy bệnh ở Can biết bệnh ở can sẽ truyền đến tỳ nên cần chú ý điều trị tỳ khí làm cho tà khí từ can không thể truyền đến tỳ”. Vận dụng cụ thể quan niệm chỉnh thể trong điều trị là căn cứ vào quan hệ ngũ tạng suy đoán sự phát triển của bệnh tình từ đó rút ra các nguyên tắc điều trị.

Trong dưỡng sinh, quan niệm chỉnh thể cũng giữ vai trò quan trọng. Ví dụ không nên an nhàn quá mức nên để chân tay vận động đúng mức. Do Tỳ chủ tứ chi, tứ chi vận động sẽ thúc đẩy sự vận hóa của tỳ, làm cho chất tinh vi thủy cốc dễ hấp thụ, từ đó tạo thành khí huyết nuôi dưỡng toàn thân. Nếu như chân tay ít hoạt động tỳ sẽ mất kiện vận, ăn uống giảm sút, chất tinh vi thủy cốc hấp thụ ít đi dẫn đến khí huyết thiếu hụt, cơ thể hư nhược. Mặt khác phép dưỡng sinh cũng nhấn mạnh đến việc cần làm tâm thần ổn định. Nếu tâm thần bất an, ngũ tạng sẽ bị ảnh hưởng sẽ phát sinh ra nhiều loại bệnh tật. Những phương pháp dưỡng sinh đều là thể hiện vận dụng quan niệm chỉnh thể.

1.2. Quan hệ mật thiết giữa người và hoàn cảnh bên ngoài

Con người sống trong trời đất, giữa xã hội và trong hoàn cảnh tự nhiên như một bộ phận của thế giới vật chất hoàn chỉnh. Cũng có thể nói: con người và hoàn cảnh tự nhiên là một chỉnh thể. Vì thế khi hoàn cảnh tự nhiên phát sinh biến hóa cơ thể người ta cũng có thể phát sinh những biến đổi tương ứng. Sách Linh khu - Tà khách viết: “Người và thiên địa tương ứng”. Mặt khác con người còn là một bộ phận của chỉnh thể xã hội, do vậy những biến hóa của xã hội cũng nhất định phát sinh ảnh hưởng đến con người. Đương nhiên con người cũng ảnh hưởng ngược lại đến xã hội. Xã hội và con người quan hệ mật thiết ảnh hưởng lẫn nhau tạo thành một chỉnh thể không tách rời.

1.2.1. Quan hệ mật thiết giữa người và tự nhiên

Y học cổ truyền rất coi trọng quan hệ giữa người và hoàn cảnh tự nhiên. Các yếu tố mùa, ngày đêm, hoàn cảnh địa lý đều ảnh hưởng đến cơ thể.

Ảnh hưởng của mùa đến cơ thể thường biểu hiện rất rõ ràng. Mùa xuân theo ngũ hành thuận về mộc, chủ sinh, thăng phát, khí ấm áp, cây cỏ đâm hoa nảy lộc, những động vật ngủ đông bắt đầu tỉnh giấc và phát dục. Mùa hạ thuộc về hỏa, chủ trưởng, phát tán, khí của nó nóng, động vật tăng cường hoạt động, phát triển rất nhanh. Mùa thu thuộc về kim, chủ thu liễm, túc giáng, khí mát, cây cỏ tiêu điều, tinh hoa đều hướng xuống rễ thu tàng, một số động vật chuẩn bị ngủ đông, cảnh tượng chung của vũ trụ là thu giáng. Mùa đông thuộc thủy, chủ tàng khí, lạnh lẽo, băng phủ vạn vật, tinh hoa của cây cối đều tàng ở rễ, động vật và người hoặc ngủ đông dưới đất hoặc ẩn nấp trong nhà, giữa trời đất chỉ thấy cảnh bế tàng. Quy luật xuân sinh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàng của tự nhiên cũng tương ứng với người. Sách Tố vấn Mạch tượng tinh vi luận viết về biến đổi mạch tượng theo mùa: “mùa xuân mạch phù như cá lớn trong nước; mùa hạ mạch trong da lan tràn như vạn vật hữu dư; mùa thu mạch ở dưới da như côn trùng ngủ đông; mùa đông mạch ở trong xương như côn trùng ngủ kỹ”. Thí dụ trên biểu hiện một cách rõ ràng như biến đổi tương ứng của các hoạt động sinh lí trong cơ thể theo mùa.

Sự tiêu trưởng âm dương của ngày đêm sáng tối, cơ thể theo đó mà có những biến đổi tương ứng. Sách Linh khu - Thuận khí mỗi ngày phân theo tứ thời viết: “mỗi ngày cũng phân theo bốn mùa, sáng sớm là mùa xuân, buổi trưa là mùa hạ, chiều tối là mùa thu và nửa đêm là mùa đông”. Tuy nhiên từ góc độ thay đổi của nhiệt độ ngày đêm thấy tuy chúng chưa biểu hiện rõ bốn mùa nhưng cơ thể vẫn theo sự biến đổi tiêu trưởng âm dương mà có những thay đổi sinh lý tương ứng. Sách Tố vấn - Sinh khí thông thiên luận viết: “dương khí lúc nửa đêm về sáng còn yếu ớt, sáng ra bắt đầu thịnh, đến giữa trưa thì thịnh và cuối ngày suy đi, khí môn sẽ đóng lại”. Sự biến đổi tiêu trưởng âm dương hàng ngày biểu hiện ra một cách rất rõ ràng trên cách mặt thay đổi nhiệt độ của cơ thể, hưng phấn hay ức chế của tinh thần.

Ở các vùng khác nhau do sự khác biệt về khí hậu, chất đất và nước nên có những ảnh hưởng không giống nhau đến cơ thể. Vùng đất bằng, thế đất thấp bằng phẳng khí hậu ấm áp nhưng thấp nhuận, tấu lý của cơ thể sơ thông; miền tây bắc khí hậu lãnh lẽo khô ráo tấu lý của cơ thể thường kín đáo. Trong hoàn cảnh đó người ta đã thích nghi, nay nếu phải đi đến chỗ khác, hoàn cảnh biến đổi đột ngột, lúc đầu sẽ thấy chưa thích ứng, nhưng trải qua một thời gian cơ thể sẽ dần dần thích ứng.

Y học cổ truyền nhận thấy sự thích ứng của con người với thiên nhiên không phải là bị động và tiêu cực mà là chủ động và tích cực. Loài người không những chủ động thích ứng với tự nhiên mà còn cải tạo tự nhiên nhằm có lợi cho sự sinh tồn và sức khỏe của mình. Sách Tố vấn - Di tính biến khí luận viết: “Vận động nhiều để tránh lạnh, trốn vào chỗ mát để tránh nắng”. Sách Thọ thần dưỡng lão tân thư viết: “Nhà ở cần thường xuyên sạch đẹp, mát mẻ về mùa hè, ấm áp về mùa đông”. Sách Dưỡng sinh loại toàn viết: “tích thủy lâu ngày có thể sinh bệnh, cống rãnh thông thoát, phòng ở thanh sạch không có xú khí không thể sinh ôn bệnh”...

Các lĩnh vực của y học cổ truyền như nguyên nhân bệnh, cơ chế sinh bệnh, chẩn đoán, điều trị, dưỡng sinh đều rất coi trọng ảnh hưởng của tự nhiên đến cơ thể.

Sách Nội kinh - Kim quỹ chân ngôn luận viết: “mùa xuân dễ mắc bệnh chảy máu mũi; đầu mùa hạ dễ mắc bệnh ngực sườn đày tức; trưởng hạ dễ mắc bệnh đi ngoài; thu dễ mắc bệnh phong ngược; đông dễ mắc bệnh tê quyết”. Điều đó cho thấy mỗi mùa có thể phát bệnh khác nhau. Mỗi mùa khác nhau việc điều trị dùng thuốc cũng như ăn uống điều dưỡng cũng cần khác biệt. Mùa hạ nóng bức nên ít dùng thuốc nhiệt nên ăn uống các đồ mát. Mùa đông lạnh lẽo nên thận trọng dùng các vị hàn lương nên ăn các vị ấm nóng. Sách Nội kinh - Lục nguyên chính kỷ đại luận viết: “Không dùng thuốc hàn với mùa đông, không dùng thuốc nhiệt với mùa hè. Ăn uống cũng theo thế mà dùng”.

Biến đổi của ngày cũng ảnh hưởng nhất định đến bệnh tật. Nói chung ban ngày các bệnh biểu hiện tương đối nhẹ, ban đêm tương đối nặng. Sách Linh khu - Thuận khí mỗi ngày phân tứ thời viết: “ban ngày đa số bệnh yên tĩnh, càng về đêm càng nặng. Do sáng sớm khí của người ta bắt đầu sinh, khí bệnh kém đi nên tinh thần của bệnh nhân minh mẫn, giữa trưa khí của người tưởng sẽ thắng được tà khí nên tinh thần yên tĩnh. Ban đêm khí của người bắt đầu kém đi, tà khí sẽ thắng, hơn nữa ban đêm khí dồn về tạng, tà khí độc chiếm toàn thân nên bệnh nặng hơn”. Do sáng sớm buổi trưa, buổi chiều và nửa đêm dương khí của cơ thể tồn tại theo quy luật sinh - trưởng - hư - vào tạng do đó bệnh tình cũng biến đổi theo quy luật minh mẫn, yên tĩnh, gia tăng và trầm trọng. Khi quan sát lâm sàng và điều trị bệnh tật đều cần chú ý quy luật biến đổi bệnh tật ngày đêm.

Sự khác biệt về địa lý cũng ảnh hưởng không ít đến phát sinh và phát triển của bệnh tật. Sách Tố vấn - Di phép phương truyện luận viết: “do đất phía đông gần biển nhiều cá muối, dân quen ăn cá và mặn, đa số dân thường đen, mắc bệnh viêm ngứa, nên dùng đá châm. Phương tây là đất giàu khoáng sản, dân thích ăn đồ béo, tà khí không thể gây tổn thương hình thể, dễ sinh bệnh từ bên trong nên dùng các thuốc độc... Phương bắc vùng thiên địa bế tàng, dân sống ngoài điền dã ăn đồ chế từ sữa, tạng hàn gây bệnh mãn tính nên dùng phép cứu để chữa bệnh... Phương nam trời đất trưởng dưỡng, dương thịnh nên dân đều đỏ đắn hồng hào hay mắc bệnh tê bì nên dùng hào chân để điều trị”.

Như vậy ở các vùng đất khác nhau, thể chất khác nhau, bệnh tật sẽ có điều khác biệt nên trong chẩn đoán, điều trị, dưỡng sinh đều cần căn cứ vào đặc điểm của địa lý mà chọn các phép điều trị cho phù hợp.

1.2.2. Quan hệ mật thiết giữa người với xã hội

Con người là một bộ phận tạo thành xã hội, có thể ảnh hưởng đến xã hội, và ngược lại những biến động của xã hội cũng phát sinh những ảnh hưởng đến con người. Trong đó sự tiến bộ của xã hội, xã hội ổn định hay bất ổn định, thậm trí sự thay đổi địa vị xã hội của từng người đều có ảnh hưởng đến con người.

Trước hết nói về sự tiến bộ của xã hội, không còn nghi ngờ sự tác động của nó với sức khỏe con người. Theo sự phát triển của xã hội của cải vật chất ngày càng phong phú, con người ngày càng có thể lựa chọn những gì tốt nhất, phù hợp nhất cho mình. Ngay cả đến điều kiện nhà ở, làm việc cũng ngày càng có lợi cho sức khỏe về bệnh tật của mình. Biết được cách dưỡng sinh, cách phòng bệnh, điều trị bệnh, tuổi thọ con người sẽ theo sự tiến bộ của xã hội mà ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên sự phát triển của xã hội cũng đem đến cho con người những yếu tố không có lợi cho sức khỏe, ví dụ tiếng ồn của phương tiện giao thông hiện đại, sự phát triển công nghiệp làm cho nước đất và môi trường không khí bị ô nhiễm, nhịp điệu sinh hoạt khẩn trương gây ảnh hưởng không tốt đến tinh thần... Những tiến bộ xã hội cũng đem đến cho y học cổ truyền những ảnh hưởng không nhỏ. Chẳng hạn tiếng ồn quá mức có thể dẫn đến điếc tai, ù tai. Thông qua nghiên cứu nếu làm cho thận khí tốt lên có thể hạn chế ảnh hưởng bất lợi của tiếng ồn. Dùng phương pháp bổ thận có thể làm tăng sức chịu đựng của cơ thể với tiếng ồn. Một thí dụ khác sinh hoạt luôn khẩn trương căng thẳng có thể gây nhiều loại bệnh tật, nếu dùng phương pháp tập khí công, tập thái cực quyền, tập dưỡng sinh... giúp cho cả tinh thần lẫn cơ bắp đều được tập luyện thư giãn rất có lợi cho việc phòng bệnh.

Xã hội ổn định hay không ổn định có ảnh hưởng rất lớn đến con người. Khi xã hội ổn định sinh hoạt của con người tương đối ổn định, sức đề kháng cao, khả năng mắc bệnh ít hơn, tuổi thọ con người được kéo dài. Xã hội càng mất ổn định, sinh hoạt của con người càng không theo quy luật, sức đề kháng giảm sút, các loại bệnh tật đều dễ phát sinh, tỷ lệ tử vong cao. Trong các cuộc chiến tranh con người không có chỗ ngủ, no đói bất thường, lao dịch quá mức, dịch bệnh lưu hành, nhiều người chết... là những dẫn chứng cho việc xã hội ổn định hay bất ổn định ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người.

Khi địa vị xã hội của cá nhân thay đổi làm điều kiện vật chất cũng như đời sống tinh thần biến đổi tạo nên những ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Sách Tố vấn - Sơ ngũ qua luận viết: “phàm khi hỏi bệnh cần hỏi trước quý sau tiện, tuy không xếp trong tà khí nhưng bệnh từ trong phát ra gọi là thoát doanh. Trước phú sau bần gọi là thất tinh, ngũ khí luyến mà phát sinh bệnh tật”. Vì thế người xưa thường chủ trương không nên quá ham phú quý giàu sang vì thái quá thường dễ dẫn đến bệnh tật. Sách Tố vấn - Thượng cổ thiên chân luận viết: “Đạm bạc hư vô chân khí đến, tinh thần nội thủ bệnh tật không đến”.

Tóm lại xem cơ thể là một chỉnh thể lấy ngũ tạng làm trung tâm và do tâm làm chủ, đồng thời cho rằng con người có quan hệ mật thiết với tự nhiên và xã hội tạo thành một thể thống nhất hoàn chỉnh. Quan niệm chỉnh thể xuyên suốt trong mọi lĩnh vực và trở thành một đặc điểm quan trọng của hệ thống lý luận của y học cổ truyền.

2. Biện chứng luận trị

Khi tiến hành chẩn đoán và điều trị, y học có ba phương pháp biện bệnh điều trị, biện chứng điều trị và đối triệu chứng điều trị. Trong ba phương pháp, y học cổ truyền xem biện chứng luận trị là quan trọng nhất, thường dùng nhất trong lâm sàng và trở thành đặc điểm của y học cổ truyền.

Muốn hiểu khái niệm về chứng cần làm sáng tỏ các quan niệm về bệnh chứng và triệu chứng. Bệnh là chỉ một quá trình hoàn chỉnh có nguyên nhân gây bệnh riêng, hình thức phát bệnh, cơ chế phát bệnh, quy luật phát triển và sự chuyển biến cũng đặc thù cho bệnh đó. Ví dụ như các bệnh cảm mạo, lị tật, ngứa, trúng phong... Triệu chứng là chỉ biểu hiện lâm sàng cụ thể của bệnh nào đó. Ví dụ như: sốt, ho, đau đầu, hoa mắt, mỏi lưng, mệt mỏi... Chứng không bao gồm toàn bộ quá trình, nhưng cũng không phải là biểu hiện lâm sàng nào của bệnh. Cần hiểu chứng bệnh như là khái quát bệnh lý của một giai đoạn nào đó trong quá trình phát triển của bệnh. Chứng bao gồm nguyên nhân gây bệnh (như phong hàn, phong nhiệt, huyết ứ, đàm ẩm...), vị trí bệnh (như biểu, lý, tạng, phủ, kinh lạc...). Chứng phản ánh toàn diện tình trạng của một giai đoạn biến hóa bệnh lý trong quá trình phát triển bệnh. Do bệnh là toàn bộ một quá trình, còn chứng là phản ánh thực chất biến hóa của bệnh lý của một giai đoạn nhất định nào đó của bệnh tật, vì thế chứng so với bệnh càng cụ thể, càng xác đáng, càng có tính ứng dụng. Trong khi đó triệu chứng chỉ đơn thuần là biểu hiện bên ngoài của bệnh, sự phản ánh bệnh của nó không thể sâu sắc và chính xác bằng chứng. Do vậy chứng phản ánh thực chất của bệnh hơn so với triệu chứng.

Biện chứng luận trị phân thành hai giai đoạn biện chứng và luận trị. Biện chứng là đem các tư liệu, chứng trạng, đặc trưng thu thập qua tứ chẩn (vọng, văn, vấn, thiết), thông qua phân tích tổng hợp, làm rõ nguyên nhân, tính chất, vị trí của bệnh và quan hệ giữa tà chính sau đó khái quát và chẩn đoán ra một chứng nào đó. Luận trị là thông qua kết quả biện chứng xác định phương pháp điều trị, luận trị là mục đích của biện chứng, thông qua hiệu quả của biện chứng luận trị có thể biết được biện chứng luận trị có chính xác hay không. Biện chứng và luận trị là hai mặt của vấn đề liên hệ với nhau không thể tách rời trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh.

Biện bệnh luận trị là sau khi chẩn đoán xác định bệnh, căn cứ vào bệnh mà xác định nguyên tắc điều trị. Đối với các bệnh tương đối đơn giản, biện bệnh điều trị nói chung dễ thực hiện, ví dụ bệnh giun đũa dùng bài thuốc tẩy giun... Tuy nhiên đa số bệnh đều là một quá trình tương đối dài, trong cả quá trình đó biến hóa bệnh lý của mỗi giai đoạn không giống nhau nên khó vạch ra một phương pháp điều trị chung. Vì vậy chỉ có thể dựa vào khái quát bệnh lý của một giai đoạn trong quá trình phát triển bệnh để xác định thuốc và huyệt vị để điều trị. Đó cũng chính là dựa vào chứng không dựa vào bệnh để xác định phương pháp điều trị. Đây chính là lý do tại sao y học cổ truyền dùng biện chứng luận trị nhiều hơn biện bệnh điều trị. Trong cùng một bệnh do các giai đoạn khác nhau diễn biến bệnh lý khác nhau, tức là chứng khác nhau, căn cứ vào nguyên tắc biện chứng luận trị phép điều trị sẽ khác nhau. Tình trạng này gọi là “đồng bệnh dị trị”. Ví dụ như phong ôn thấy kỳ đầu có sốt, hơi sự gió là phong nhiệt ở biểu dùng phép tân lương giải biểu; ở thời kỳ giữa thấy sốt cao, ho, khó thở, khát muốn uống nhiều nước lạnh do phế nhiệt thịnh, điều trị lấy thanh phế nhiệt làm chính; thời kỳ cuối sốt đã lui, lưỡi đỏ miệng khô ho khan ít đờm, mệt mỏi mạch tế vô lục, tức nhiệt tà đã vơi đi quá nửa, phế âm, phế khí đều bị thương, đều trị nên thanh dư nhiệt, tư phế âm, bổ phế khí bệnh sẽ hồi phục. Như vậy không thể không tiến hành “đồng bệnh dị trị”. Ngược lại có lúc ở các bệnh khác nhau lại có thể xuất hiện các biến hóa bệnh lý giống nhau tức là xuất hiện chứng giống nhau thì điều trị giống nhau gọi là “dị bệnh đồng trị”. Ví dụ sau khi mắc bệnh đi ngoài lâu ngày xuất hiện thoát cang thuộc chứng trung khí hạ hãm và sau khi đẻ do điều lí không thích đáng, tử cung sa xuống cũng thuộc chứng trung khí hạ hãm. Như vậy cả hai bệnh nhân đều phải dùng phương pháp ích khí thăng để điều trị. “Dị bệnh đồng trị” cũng được dùng khá phổ biến trong lâm sàng.

Trong thực tiễn lâm sàng, dưới tiền đề biện chứng luận trị và biện bệnh điều trị, trong phương án điều trị tổng thể có lúc cũng cần sử dụng phương pháp đối chứng điều trị nhằm kịp thời làm giảm nhẹ triệu chứng khó chịu nào đó cho bệnh nhân. Tuy nhiên cần hiểu rằng đối chứng điều trị chỉ có thể làm giảm nhẹ triệu chứng tạm thời, không thể giải quyết vấn đề một cách cơ bản. Mặt khác đối chứng điều trị còn có thể làm mờ một số chứng trạng chủ yếu gây khó khăn cho biện chứng luận trị và biện bệnh điều trị. Vì vậy có thể dùng đối chứng luận trị nhưng cần thận trọng và không thể xem đấy là phương pháp điều trị chủ yếu.

Tài liệu tham khảo

1. Vương Cộng Đồ: Hoàng đế Nội kinh nghiên cứu đại thành. Nxb. Bắc Kinh, 1997

2. Bành Khìu, Đặng Quốc Khánh: Những học thuyết cơ bản của Y học cổ truyền. Nxb. Hà Nội, 2003

3. Chu Văn Phong: Chẩn đoán Y học cổ truyền. Nxb. Khoa học kỹ thuật Thượng Hải, 1998./.

Đặng Quốc Khánh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm