46. Một bản tấu của Viện Cơ mật có chứa đựng thông tin về thời điểm ra đời của Đại Nam đồng văn nhật báo (TBHNH 2009)
MỘT BẢN TẤU CỦA VIỆN CƠ MẬT CÓ CHỨA ĐỰNG THÔNG TIN VỀ THỜI ĐIỂM RA ĐỜI CỦA ĐẠI NAM ĐỒNG VĂN NHẬT BÁO
PHẠM VĂN KHOÁI
Trường Đại học KHXH & NV, HN
Khi đề cập đến lịch sử báo chí Việt Nam những thập niên cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, các bộ sách lịch sử báo chí Việt Nam thường dành rất ít trang cho báo chí chữ Hán. Thật là một điều đáng ngạc nhiên khi mà ở nước có cả một truyền thống Hán học, giáo dục khoa cử bằng chữ Hán đến tận năm 1919 mới bị loại bỏ hoàn toàn thế mà số trang dành cho lịch sử báo chí chữ Hán lại ít đến như thế. Đúng là số báo chí chữ Hán ở ta quả có ít nhưng cũng có một số tờ khá lớn, chúng là một bộ phận cấu thành của báo chí Việt Nam trong bước chuyển ngôn ngữ - văn tự từ Hán văn sang Quốc văn trong những thập niên giáp lai giữa hai thế kỷ. Trong số các tờ báo viết bằng chữ Hán ấy cần phải kể đến tờ Đại Nam đồng văn nhật báo 大南同文日報 .
Đại Nam đồng văn nhật báo, ra vào Chủ nhật hàng tuần, 8 trang, bán với giá 4 quan một năm, đăng tin tức của chính quyền và chịu sự kiểm duyệt của chính quyền. Báo được đóng gói gửi đi các làng ở Bắc kỳ theo danh sách đã được chính quyền ấn định. Từ khi bắt đầu đến số 792, báo có tên là Đại Nam đồng văn nhật báo. Từ số 793 đến 826, báo có tên là Đại Nam đồng văn nhật báo - Đăng cổ tùng báo. Điều đó đã nói lên mức độ phổ biến của tờ báo này trong những thập niên giáp lai giữa hai thế kỷ XIX và thế kỷ XX. Báo lại được in theo kiểu xếp chữ có tính công nghiệp cao chứ không phải ở tình trạng in mộc bản phổ biến lúc bấy giờ thì ta mới thấy hết những phương diện xã hội của tờ báo. Hơn nữa, như ghi chép của một người đương thời - Cố Giáo học hưu trí Nguyễn Bá Học (1857-1921), trên Nam Phong Phần chữ Nho rằng, tình hình in ấn và phổ biến sách vở chữ Hán đương thời khá là hạn hẹp thì ta càng thấy ý nghĩa xã hội của Đại Nam đồng văn nhật báo với tư cách là một ấn phẩm công bố rộng rãi. Nguyễn Bá Học viết: “Những sách mà nước ta coi là quốc giáo gồm Tứ thư, Ngũ kinh, Bắc sử. Đó được gọi là Nội thư. Còn như các sách thi văn, thuật số, chư tử, liệt truyện, tiểu thuyết thì được gọi là Ngoại thư. Những sách này đều không phải là các sách mà sĩ tử coi là cần đọc. Các sách pháp luật, kinh tế thì triều đình tàng trữ ở Quốc sử quán nơi kinh thành, nhân dân dẫu có muốn học cũng không thể động đến nó được. Những trước thuật của các bậc danh gia đều được cất giữ ở trong nhà riêng, không đưa ra công bố với đời. Vả lại sao chép cũng rất vất vả nên ít người được xem. Còn các sách bán trên chợ thì toàn là ca dao quốc âm, ghi chép những chuyện quái đản dâm tà. Quốc nhân đã không có kiến thức để chọn, triều đình cũng không thực thi quyền kiểm duyệt, thảy mặc kệ cho người ta nghe bậy, nói bậy. Xã hội mỗi ngày một trở nên hủ bại, phần nhiều là do sách vở tạp loạn”. (Nam Phong tạp chí, số 54, phần chữ Nho)
Còn sự ra đời của báo chí chữ Hán ở Việt Nam thì lại rất muộn nếu như ta so sánh với các nước trong vùng đồng văn (cùng chung văn tự - chữ Hán) Đông Á. Đến tận năm Đồng Khánh thứ nhất (1886), Viện Cơ mật mới tâu lên đề nghị đặt cơ quan nhật báo. Sau đây là tâu của Viện đó.
Năm Đồng Khánh thứ nhất [1886], tâu xin chuẩn: “Theo phong tục của các nước đều có nhật báo tin tức, giúp truyền bá, trên là việc triều chính, xuống đến tình hình xóm làng, giá cả đắt rẻ của hàng hoá. Việc ấy tuy còn xa lạ, nhưng lấy đó làm nghị luận chung về phải trái, để rõ tình hình trong và ngoài, gặp lúc xử sự tức biết nghị luận, dư luận ra sao. Đó là một việc, mà ý khuyên răn cũng chứa trong đó. Nước ta từ xưa đến nay chưa hề có làm nhật báo này, vì thế tình hình bên trong không thể truyền đạt ra bên ngoài. Đã không truyền ra được bên ngoài làm sao thông suốt được ngoại tình. Trước mắt đối với việc giao thiệp, nhật báo là ưu tiên. Khảo xét các nước đều thiết lập Cục để coi sóc. Các Cục này đều liên hệ [34b] đến những người rảnh rang, những kẻ ở ẩn, cho nên nghị luận phần lớn cao xa khoáng đạt, mà bản in chữ rời nên dễ dàng in ấn sửa chữa. Hằng ngày đều có nhật báo. Ban đầu thực hiện, về những chuyên viên và máy in chữ rời không phải là không hao tốn kinh phí, mà in ra cho lưu hành, các nước tranh mua, thu lại tiền thưởng cũng không ít, thành ra có lợi. Nước ta chưa tiện thiết lập Cục, mà bản in chữ rời lại trải qua việc ghi chép, sửa chữa, khắc in, cũng rườm rà chậm chạp, cần phải xem xét, bàn định. Nay xin bắt chước phương pháp của các nước mà lập ra Đại Nam Công báo cục, nhưng do Sử quán kiêm nhiệm. Cứ 10 ngày hợp làm một tờ báo. Viện của chúng thần cùng các nha thuộc Bộ, mỗi nơi căn cứ vào công việc thực thi ghi chép rồi giao cho Cục. Cứ 10 ngày một lần, Cục đó kiểm xét tổng quát, hằng ngày viết giao cho thợ khắc in truyền bá. Lấy ngày mồng một tháng này làm khởi đầu [35a]. Đó là thử nghiệm qua lần đầu. Xin đừng đòi hỏi giá trị. Chờ gởi mua riêng bản chữ in rời (chữ Hán) cùng máy in dễ tiện việc kiểm tra, chiếu theo đó mà phát hành bán ra. Còn như chữ Pháp chờ có bàn định sau”.
Kính được Châu phê: “Phải hết sức có kết quả mới tốt”.
Lại kính được Châu phê: “Các khanh một lòng, muốn bỏ cái cũ của nước nhà mà bắt chước điều mới của người. Biết một ngày một việc, ngàn ngày ngàn việc thì may mắn chừng nào, đó là điều trẫm mong ước hết sức. Còn như nói bỏ đi tục lệ nào đó thì suy, thay đổi tục lệ nào đó thì hưng, theo các khanh có cho là đúng không. Trẫm nghĩ vì thế mà hưng suy quả thật là vô lý”(Nguồn: Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ tục biên, Nxb. Giáo dục, H. 2004, tập I, tr.188-119).
Như vậy, Đại Nam đồng văn nhật báo là một tờ báo lớn. Hán văn trên Đại Nam đồng văn nhật báolà Hán văn thuộc phong cách báo chí, một phong cách chưa từng có trong lịch sử Hán văn Việt Nam. Thế nhưng thời điểm ra đời của nó lại được đề cập rất khác nhau trong các bộ lịch sử báo chí Việt Nam. Nguyên nhân của tình hình này là ở chỗ, báo không còn giữ được những số đầu tiên. Hiện nay tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm chỉ lưu giữ được từ số 171, ngày 27-1-1895 tức năm Thành Thái 7 (1895)đến năm Thành Thái 15 (1903). Vấn đề về niên đại của Đại Nam đồng văn nhật báođược các nhà đề cập đến trong các công trình về lịch sử báo chí Việt Nam như sau:
Tiến sĩ Huỳnh Văn Tòng trong công trình Báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, ở mục b. Trường hợp của tờ Đại Nam đồng văn nhật báo, tr.86, không đề cập nhiều đến nguồn gốc cũng như hệ thống bài vở của tờ báo.
Đề cập đến tờ báo này chi tiết hơn ta có thể thấy trong Lịch sử báo chí Việt Nam 1865-1945, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia H. 2000, do Đỗ Quang Hưng chủ biên. Ở mục a) Trường hợp Đại Nam đồng văn nhật báo, sách này có dẫn ra ý kiến của nhiều người, chẳng hạn như: “Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu cho rằng tờ báo xuất hiện lần đầu vào năm 1892”. Trần Huy Liệu khi “giới thiệu lịch sử báo chí Việt Nam” thì ấn định tờ báo ra đời vào năm 1893. Đứng trước hai ý kiến đó, các tác giả của Lịch sử báo chí Việt Nam cho rằng: “Song, sự bắt đầu tính từ số báo sớm nhất hiện còn giữ được (số 171, ngày 27-1-1895) lần ngược trở lên thì có thể, nó ra đời sớm hơn, vào năm 1891", tức năm Thành Thái thứ ba. Sự chi li trong chi tiết đã làm cho lập luận của nó có cơ sở hơn. Lập luận ấy lại được minh chứng bằng tờ tấu của Viện Cơ mật mà chúng tôi sẽ trình bày dưới đây.
Trong khi đi tìm về nguồn gốc của báo, chúng tôi đã tìm được một tập mẫu các loại văn bản Hán văn có niên đại vào cuối thế kỷ XIX. Tập này có kí hiệu là VHv.1523, hiện đang được lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Trong tập mẫu các văn bản có bản tấu của Viện Cơ mật đề ngày 16 tháng 11 năm Thành Thái thứ ba (tức năm 1891). Bản tấu đó của Viện Cơ mật có số thứ tự là số 356, ở mục 35. với tiêu đề là TẤU PHÚC SỚ BIỂU trong tập văn bản ký hiệu VHv.1523 nêu trên. Theo lời tấu ấy, “vào tháng 7 năm nay (tức 1891), toàn quyền đại thần Đa La Niết Xan đã thiết lập tại Hà Nội báo quán chữ Hán 大南同文日報”. Như vậy, thời điểm ra đời của Đại Nam đồng văn nhật báolà tháng 7 năm 1891. Sự tính theo số của các tác giả Lịch sử báo chí Việt Nam là có cơ sở. Nguyên văn bản tấu như sau:
"Thành Thái tam niên thập nhất nguyệt thập lục nhật. Cơ mật Viện thần thần đẳng O O tấu".
Bản niên thất nguyệt O O quí toàn quyền đại thần Đa La Niết Xan tại Hà Nội thiết Đại Nam nhật báo quán Hán tự. Phàm tại O kinh lục tư dữ Bắc kỳ chú thố hưng trừ dân chính thương tình chư sự, giai nhất nhất lục báo. Thị sử: thị thính du đồng, chúng tình thông đạt, lưỡng quốc giao nghị ích đôn, thành vi mĩ sự. Nhưng phụng tra. Đồng Khánh nguyên niên phụng thiết hữu Đại Nam công báo. Tùy dĩ sự phồn, định biện. Tư O quí đại thần hiện thiết nhật báo quán. Thả hướng lệ phụng O O chuẩn chư đại chính, quân phụng thông lục trung ngoại. Tư thỉnh do thần phủ viện tịnh lục bộ chư nha phụng hữu nghĩ nghị tấu O O chuẩn sự kiện tịnh trừ thụ ấn quan, phàm hữu quan chính thể sở tại quân lục do Bắc kỳ Kinh lược sứ nha nhất bản. O Đại sứ thần, nhưng ủy tham tá chuyên biện Nhật báo thần Dương Lâm tường kiểm. Tựu trung hữu ưng đăng báo toàn lục, trích lục như hà hợp nghi, chiếu Nhật báo chương trình biện lý. Tỷ O O triều đình kinh hoạch trung ngoại vô gián, thứ kỳ nhật trăn trị lý. Kinh trình Phụ Chính thân thần duyệt chiếu. Triếp cảm thanh tự. Hậu O O chỉ tuân biện.
Cơ mật viện cung lục.
Bắc kỳ Kinh lược nha tuân biện".
Dịch: "Thành Thái năm thứ 3 tháng 11 ngày 16, Viện Cơ mật tấu.
Năm nay tháng 7, quí toàn quyền đại thần Đa La Niết Xan mở tại Hà Nội báo Đại Nam đồng văn nhật báo bằng chữ Hán. Phàm là các việc có liên quan đến thương nghiệp, dân chính mà ở kinh lục ra để tư cho các tỉnh ở Bắc kỳ đều nhất nhất phải được trích lục cho báo in. Đó là làm cho: "thị thính du đồng - nhìn nghe cùng chỗ", "chúng tình thông đạt", "hai nước giao hảo hữu nghị càng thêm thắm thiết”, thành nên việc đẹp. Nhưng phụng tra, vào năm Đồng Khánh nguyên niên (1885), đã đặt Đại Nam công báo, song do công việc phồn tạp quá nên việc này đã bị đình lại. Nay quí đại thần thiết lập lại báo quán. Vả lại theo lệ trước có, phụng chuẩn cho các chính sách lớn đều phụng thông lục trong và ngoài. Nay xin Phủ Phụ chính, Viện Cơ mật và các nha của Lục bộ nếu có những việc gì như tư nghĩ tấu chuẩn và những việc thăng giáng của các quan thuộc hàng ấn quan, nếu như chúng liên quan đến chính thể sở tại đều phải sao lục cho Nha Kinh lược Bắc kỳ một bản. Quan Bắc kỳ Kinh Lược sứ sẽ ủy thác cho tham tá chuyên biện về nhật báo là thần Dương Lâm tường kiểm. Tựu trung có những gì cần được đăng báo ở dạng toàn lục hay trích lục thế nào cho hợp thì phải chiếu theo chương trình của nhật báo mà giải quyết để triều đình kinh hoạch, trong ngoài không có gián đoạn, ngõ hầu ngày càng đi lên. Đã trình cho thân thần ở phủ Phụ chính duyệt chiếu. Dám xin, chờ chỉ tuân biện.
Viện Cơ mật kính lục.
Nha Kinh lược Bắc kỳ tuân biện."
Như vậy, qua tờ tâu của Viện Cơ Mật, ta biết rõ thêm một loạt vấn đề về Đại Nam đồng văn nhật báo.
Một là, Báo quán chữ Hán này do Toàn quyền Đông Dương La Niết Xan chỉ đạo thiết lập.
Hai là, Nha Kinh lược Bắc kỳ là chủ quản lúc đầu của tờ báo.
Ba là, đây là tờ công báo, đăng các văn bản của triều đình Huế liên quan đến Bắc kỳ cũng như các văn bản của Nha Kinh lược, Thống sứ Bắc kỳ, Toàn quyền Đông Dương, và chính phủ bảo hộ nói chung.
Bốn là, Dương Lâm là Tham tá chuyên biện nhật báo lúc thành lập.
Năm là, tờ báo hoạt động chủ yếu vào thời gian hoạt động của Nha Kinh lược Bắc kỳ (1886-1897) nên nó trực thuộc Nha Kinh lược sứ. Sau khi Nha Kinh lược bị bãi bỏ (26/7/1897), chuyển giao toàn bộ chức năng của Kinh lược sứ vào tay Thống sứ, chuyển toàn bộ các nhân viên của Nha Kinh lược vào phủ Thống sứ, quyền điều động, bổ nhiệm thăng giáng quan lại ở Bắc kỳ đều do Thống sứ quyết định thì Đại Nam đồng văn nhật báo cũng hoàn toàn thuộc về Phủ Thống sứ.
Trong tờ tâu trên không hề đề cập đến François Henri Schneider - người mà trong các công trình lịch sử báo chí thường cho là “người sáng lập Đại Nam đồng văn nhật báo”. Chẳng hạn, Lịch sử báo chí Việt Nam 1865-1945, tr.40 đã viết như sau:
“Đại Nam đồng văn nhật báo được ra vào ngày chủ nhật theo mô thức như sau: Chính quyền cung cấp tài liệu cho Henri Schneider chậm nhất là vào thứ năm hàng tuần. Ban biên tập do H. Schneider điều hành sẽ sắp xếp bài để đưa sang phủ Thống sứ duyệt. Hạn chót cho việc duyệt là vào thứ bảy. Duyệt xong báo sẽ được in, đóng gói gửi đến các làng theo danh sách đã định trước. Mọi việc làm chậm trễ sự phát hành đều bị phát theo hợp đồng. F. Henri Schneider đã thu lợi 40.000 franc mỗi năm nhờ hợp đồng về Đại Nam đồng văn nhật báo”.
Đúng là vai trò của F. Henri Schneider vô cùng quan trọng đối với đời sống của tờ báo nhưng vai trò đó thể hiện ở thời gian sau chứ không phải ở giai đoạn đầu của báo. F. Henri Schneider chỉ thể hiện vai trò của mình từ năm 1893. Điều đó ta có thể thấy được ngay trong lời của F.Henri Schneider đăng trong số 793 tháng 3 năm 1907, lúc Đại Nam Đồng văn Nhật báo chuyển thành Đăng cổ tùng báo.
Trong bài đó, F. Henri Schneider viết: “Đến năm 1893 tôi đã xin và được phép đặt ra ở Hà Nội một cái nhật báo bằng chữ Nho vì khi bấy giờ ở Bắc kỳ chưa mấy người biết chữ quốc ngữ”.
Sau đó F. Henri Schneider viết tiếp:
“Từ đấy thế sự đã đổi và chính phủ nước Đại Pháp cũng đã biết rằng dân An Nam đã qua thuở âm - a rồi, cho nên bấy giờ cho phép đặt ra báo quán tự do.
Vậy cái “Đại Nam đồng văn nhật báo” cũng phải theo thời. Trước kia là quán báo, nay xin cải ra làm một trương nhật báo thực sự tự do, đem trình cùng các quý khách từ phương Bắc đến phương Nam cõi Đông Dương.
Kỳ thủy tôi đã định bỏ hẳn chữ Nho đi chỉ làm bằng chữ Quốc ngữ thôi, vì chữ Nho quả là một cái hàng rào hiểm trấn ngang đường văn minh, làm cho kẻ đi học mỏi lưng, tốn cơm gạo mới dùng được chữ; khi dùng được chữ thì trán đã dăn, lưng đã còng; vì nỗi dùi mài một đời học các điều cao xa quá. Chữ thảm, chữ hại làm cho ai mó đến thì phải quên cả việc thường đời nay, để học việc đời xưa, đời xưa thực chết rồi! thực xa rồi! Trước tôi nghĩ thế, song lại nghĩ rằng ở Bắc kỳ với Trung kỳ còn ít người biết chữ quốc ngữ lắm. Rồi tất cũng biết cả, chắc cũng không lâu, và việc học chữ Quốc ngữ bản báo sẽ dùng hết chước để cho dân đều biết”...
“Vì thế cho nên tôi mới đặt ra hai cái nhật báo, cùng theo đuổi một mục đích: một cái bằng chữ Lãng Sa để nhủ lòng người Lãng Sa, tên là “Tribune Indo - Chinoise”, một cái bằng chữ Quốc ngữ và chữ Nho để nói với người bản quốc tên là Đại Nam đồng văn nhật báo.
Hai chương báo khác tên nhau nhưng cũng một tên nhỏ là “Đăng cổ tùng báo” ý cũng dựa chữ “Tribune”.
Như vậy, từ các nguồn tư liệu trên, ta có thể khái quát lại 3 giai đoạn của Đại Nam đồng văn nhật báo như sau:
Giai đoạn thứ nhất: từ 7-1891 đến 1893 do Toàn quyền Đông Dương La Niết Xan đặt ra, Phủ Thống sứ Bắc kỳ và Kinh lược sứ Bắc kỳ là người tổ chức. Dương Lâm là người biên tập bài.
Giai đoạn thứ hai: từ 1893 đến 3-1907. Đây là giai đoạn Đại Nam đồng văn nhật báo do F.H. Schneider làm chủ, theo hợp đồng giữa chính quyền thực dân với ông chủ nhà in này.
Cả hai giai đoạn trên đều là quan báo, chữ Nho thuần túy, 792 số (từ số 1 đến số 792). Mỗi số 8 trang.
Giai đoạn ba là Đại Nam đồng văn nhật báo - Đăng cổ tùng báo (34 số, từ số 793 ngày 28-3-1907 đến số 826 ngày14-11-1907), báo tự do, song ngữ, chữ Nho và Quốc ngữ (Quốc ngữ abc và có khi lại có cả Quốc ngữ chữ Nôm - quốc âm tự).
Như vậy, việc tìm thấy văn bản tấu của Viện Cơ mật đề ngày 16 tháng 11 năm Thành Thái thứ 3 (tức năm 1891) đã xác lập được thời điểm ra đời của Đại Nam đồng văn nhật báo là từ tháng 7 năm 1891. Xin cung cấp tư liệu trên cho các nhà viết lịch sử báo chí Việt Nam./.
(Thông báo Hán Nôm học 2009, tr.556-564)