VI | EN
47. Di tích và tư liệu Hán Nôm ở một số quán đạo tại Hà Nội (TBHNH1998)
TBHNH1998

DI TÍCH VÀ TƯ LIỆU HÁN NÔM

Ở MỘT SỐ QUÁN ĐẠO TẠI HÀ NỘI

TRẦN LÊ SÁNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Như nhiều vị đã biết, Đạo gia xuất hiện ở nước ta khá sớm; quán Đạo cũng có nhiều và sớm. Trong thơ ca đời nhà Lý, không ít bài có tư tưởng Đạo gia. Và mọi người cũng đã biết, năm 1195, vua Lý Cao Tông đã mở khoa thi Tam giáo. Như vậy, rõ ràng học thuyết Đạo gia đã có ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa, đến xã hội nước ta đã lâu đời. Đến đời Trần, Đạo gia vẫn tiếp tục có ảnh hưởng sâu rộng. Vào cuối thời nhà Trần, Đạo gia hình như càng thấm sâu hơn. Huyền Thiên quán, Thanh Hư động được quan Tư đồ thoái nghỉ Trần Nguyên Đán tạo dựng quy mô ở Côn Sơn. Vua Trần Duệ Tông, vua Trần Nghệ Tông đều có viết văn bia, văn minh để ở Thanh Hư động. Các vị danh nhân như Trần Nguyên Đán, Chu Văn An, Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi đều có viết về Huyền Thiên quán và Thanh Hư động cùng Côn Sơn. Đến đời Lê, đời Nguyễn, Đạo gia vẫn có ảnh hưởng trong đời sống xã hội nước ta, đặc biệt là ở lĩnh vực văn chương. Theo ý ông Dương Quảng Hàm trong bộ Việt Nam văn học sử yếu, thì: “Trong tác phẩm cũ của ta, bao nhiêu những tư tưởng phóng khoáng, nhàn tản, yếm thế, là do ở Đạo giáo mà ra. Thí dụ trong tập thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm và trong tập hát nói của Nguyễn Công Trứ, những bài vịnh cảnh nhàn đều là chịu ảnh hưởng của đạo giáo cả”. Thực ra, theo ý của chúng tôi, vấn đề ảnh hưởng của tư tưởng Đạo gia đối với văn chương xưa của ta ra sao, vẫn là một trong những vấn đề nên được tiếp tục bàn kỹ; nhưng chuyện có ảnh hưởng thì đã rõ. Có điều, ba phương diện Nho, Phật, Đạo trong sinh hoạt văn hóa của nhân dân ta xưa, thường không bài xích nhau mà lại hòa hợp, bổ sung cho nhau. Về chuyện này, xưa nay cũng đã có người bàn đến bằng lý luận. Ở đây, chúng tôi chỉ muốn nói thêm một chút bằng hiện thực các quán Đạo ở Hà Nội. Hơn nữa, chúng tôi lại phải nói thêm rằng, chúng tôi không thể nói hết được các quán Đạo này mà chỉ nói về hai quán Đạo lớn ở Hà Nội, đó là: Bích Câu quán và Chân Vũ quán.

Về Bích Câu quán và Chân Vũ quán, nhiều người đã biết lai lịch, bởi vậy, ở đây chúng tôi xin không nói dài dòng. Chỉ xin nhắc lại đôi điều để dễ nhớ, đồng thời, chúng tôi muốn nói thực trạng của các Quán này hiện nay.

Bích Câu quán: ở Hà Nội có một đường phố, gọi là phố Bích Câu, nối đường phố Cát Linh sang đường Đoàn Thị Điểm. Nhưng Bích Câu quán lại không nằm ờ đường phố Bích Câu, mà nằm gần khoảng gần giữa phố Cát Linh. Đường Cát Linh nối đường Quốc Tử Giám (chỗ gặp đường Tôn Đức Thắng) với đường Giảng Võ. Bích Câu quán nằm vào số nhà 12 của đường Cát Linh. Bích Câu quán vốn có tên gọi là Bích Câu Đạo quán. Theo sự truyền lại trong văn thơ cổ, thì vào thời vua Lê Thánh Tông, có Nho sinh họ Trần, tên là Tú Uyên, lấy được vợ là tiên Giáng Kiều. Giáng Kiều là người vợ hiền thục, đảm đang, còn Tú Uyên lại là người ham chơi, đến mức chè rượu bê tha. Giáng Kiều đã khéo léo khuyên ngăn chồng, Tú Uyên trở lại sống nghiêm túc, hai người có con trai. Sau cả nhà này thành tiên, được chim hạc đón về trời. Dân sở tại lập đền thờ, sau đổi thành Quán. Như vậy, có thể nói, Bích Câu quán Đạo của ta, thờ Tiên của ta. Sực tích Quán này, càng nghĩ càng thấy thấm thía, tính hiện thực rất bền.

Hiện nay, Bích Câu quán nằm sát An Quốc tự; tổng diện tích vào khoảng gần ba sào. Quán thuộc đất làng An Trạch, nhưng đất do phường Cát Linh quản lý. Đất của Bích Câu quán có chỗ Quán vẫn chưa đòi lại được, nhưng Bích Câu quán cũng mới được sửa sang khang trang. Cổng vào của Bích Câu quán cao rộng, mới được quét vôi nhiều mầu, các câu đối được tô lại; nhưng hàng hóa thuộc các mặt hàng xây dựng như các tấm lợp xi măng, gạch men, khung cửa hoa bằng sắt…, nói chung là các loại vật liệu to nặng chất tràn trước cửa Bích Câu quán. Khách đến tham quan, khảo sát không đọc hết được các câu đối có trước cửa Quán. Chỉ đọc được vài câu phía trong cửa quán Bích Câu như sau:

- Danh lam tự cổ, đế vương châu biệt thành tịnh cảnh;

Đại địa vu lam, thần tiên phủ tân lộc kỳ tung.

Tạm dịch:

Danh lam tự cổ chốn đế vương riêng thành cảnh tịnh;

Đất lớn đến nay phủ thần tiên mới cũ tích kỳ.

- Vân tiên thừa lộ kình sơn hải;

Điện quán danh xuân @ @ thiên (?).

Tạm hiểu là:

Mây cao sương móc nâng sơn hải.

Điện quán danh xuân tiếp vân thiên.

Đặc biệt, trong Bích Câu quán còn rất nhiều câu đối và thơ. Xin chép lại đây một số câu nói về sự tích Bích Câu và có mầu sắc riêng của một quán Đạo:

Thuỷ bích đài cao, diếu vọng kham liên tinh đẩu cận;

Quy triêu hạc mộ, đăng lâm tự kiến hải hồ khoan.

Tạm dịch:

Nước biếc đài cao, trông lên tưởng thấy trăng sao thấp;

Rùa sáng hạc chiều, bước lên như gặp cảnh hải hồ.

Những câu sau đây lại nói về mối quan hệ giữa Bích Câu quán với sự nghiệp thời Lê:

Thi xưng tề thánh đức, phối tiên cung thiên bách tải chí Bích Câu kỳ ngộ;

Mộng hiển bình Chiêm công thùy Lê sử ức vạn niên chi An quốc gia phong.

Tạm dịch:

Thơ ngang cùng thánh đức, sánh cung tiên hàng ngàn năm đến Bích Câu kỳ ngộ;

Mộng báo bình Chiêm công, ghi Lê sử mấy vạn đời được An quốc gia phong.

Câu này nhắc ta nhớ đến việc vua Lê Hiển Tông đổi An Quốc từ ra An Quốc quán. Ngoài ra còn những câu khác như:

Ngọc Hồ du Bạch Mã mộng kỳ ngộ hà niên phỏng cổ tầm tiên thiên tải hạ,

Đan Đình thành Hoàng hạc hiển linh thử nhật đỉnh hương chúc thánh vạn phương nhân.

Tạm dịch:

Ngọc Hồ chơi Bạch Mã mộng gặp gỡ năm nào thăm cổ tìm tiên ngàn thuở nữa.

Đan Đình thành Hoàng Hạc hóa hiển linh ngày ấy đội hương chúc thánh khắp muôn phương.

Lại có câu:

Lê Cảnh Hưng thần hiển chí kim giả bút khai loan huyền ấn đan kinh điện thượng thặng lưu đồ tượng

Thiên Nam Động thiên tòng tự cổ chân nhân khóa hạc bạch vân lục thụ trần trung biệt chiếm bồng lai.

Tạm dịch:

Lê Cảnh Hưng thần hiển đến nay mượn bút khai loan ấn đen kinh đỏ trên điện vẫn còn có tượng;

Nam Thiên Động kể từ thuở cổ chân nhân giá hạc mây trắng cây xanh trong trần riêng chiếm bồng lai.

Ngoài ra, còn có câu:

Tuyết kính chu thiên hoán hồng trần khai giác lộ

Vân hương đặc địa tích thành bích thuỷ hội đào nguyên.

Tạm dịch:

Ngõ tuyết đầy trời mở giúp hồng trần con đường giác

Làng ngõ mây riêng đất gom thành bích thuỷ chốn nguồn đào.

Trong Bích Câu quán còn các tấm biển lớn như: Thiên thượng xưng thần, Phần Kinh tại hội… và có một bài thơ viết chữ lớn, trên đề: Lý Thanh Liên Tiên ông hạc bút. Cả bài thơ như sau:

Cửu trùng kim khuyết hướng vân nhai

Ngọc phách băng tư hiển các đài

Quy phượng triều tôn khai thịnh thế

Long lân nghi giá hiện Thiên Thai

Liên hồ nhật nhiễu phong tòng mã

Sơn hải tân đề hạc chuyển mai

Hồng thuỷ lam kiều văn chiếu kính

Lịch tòng linh tích tận truyền lai.

Bài thơ này có vài chỗ hơi khó hiểu, chúng tôi tạm dịch như sau:

Chín lần cung điện hướng chân mây

Hồn ngọc hình băng hiển gác đài

Rùa phượng chầu hầu nơi thịnh thế

Long lân hộ giá chốn Thiên Thai

Liên hồ gió cuốn ngày đền mã

Sơn hải hạc về đêm vịnh mai

Hồng thuỷ lam kiều văn chép sáng

Theo dòng linh tích đến ngày nay

Như nhiều người đã biết, Đạo giáo cũng như nhiều tôn giáo khác; trong quá trình phát triển đã chia làm nhiều tông phái. Đạo giáp có ba Đạo phái chính, đó là Thiên Sư, đạo hoặc Chính Nhất đạo, Toàn Chân đạo và Tịnh Minh đạo. Khi tìm hiểu Đạo phái ở Bích Câu quán, quả thực chúng tôi chưa rõ Quán này theo Đạo phái nào, bởi trong quán Bích Câu hiện không có kinh sách, từ lâu hình như cũng không có Đạo sĩ. Nhưng bằng vào các hoành phi, câu đối, thơ đề trong Bích Câu quán, có thể nói, Bích Caâ quán đúng là một Quán Đạo, chứ không phải như một số cụ ở bản địa nói, Quán này vốn là quán trọ của các Giám sinh Quốc Tử Giám xưa. Còn Bích Câu quán theo Đạo phái nào, theo chúng tôi, quán Bích Câu cũng như Chân Vũ quán, đều có gốc ở Toàn Chân đạo. Nhưng Bích Câu quán còn có gốc Toàn Chân rõ hơn.

Chân Vũ quán ở cuối đường Quan Thánh, sát đường Thụy Khê. Ngay từ tên gọi, Quán này đã thể hiện tính đa dạng. Ba chữ đề ngoài Quán là Chân Vũ quán, nhưng ở bảy tấm bia khắc ở các lần trùng tu Quán này lại đề tên Quán khác nhau. Tấm khắc trùng tu năm Đức Long thứ 5 (1633), đề là Diệu cảm tu tâm kiến văn lạc đạo bi, tấm bia khắc vào lần trùng tu năm Tự Đức thứ 10 (1857), đề là: Trùng tu Trấn Vũ quán bi ký; bia lần trùng tu Quán này vào năm Thành Thái thứ 5 (1803) lại đề là Chân Vũ quán thạch bi, v.v.. Vị được thờ, khi là Hòa thượng, khi là Đạo sĩ. Nhân dân ở vùng này lại gọi Chân Vũ quán là đền Quan Thánh. Trong Chân Vũ quán, hiện nay có rất nhiều hoành phi, cuốn thư, câu đối, bia đá. Theo chúng tôi nghĩ, Chân Vũ quán tuy có dựng miếu Vũ Đương sơn, biểu hiện theo dùng Toàn Chân đạo; song trong các văn bản của Chân Vũ quán mà chúng ta còn đọc được lại thấy rõ Quán này theo dòng Tịnh Minh đạo. Đây cũng là tình hình thực tế về sự chuyển hóa của Đạo gia ở nước ta. Ở nước ta, Đạo gia và Nho gia, Đạo giáo và Nho giáo vốn đã có mối quan hệ chặt chẽ, càng về sau, mối quan hệ này càng chặt chẽ hơn. Đây là một trong những vấn đề học thuật sâu sắc và lý thú, ở đây chúng tôi chưa bàn đến.

Ở Hà Nội xưa có bốn Quán Đạo lớn còn được ghi lại trong một số thư tịch cổ. Bốn Quán Đạo xưa đó là: Chân Vũ quán, Huyền Thiên quán, Đồng Thiên quán và Đế Thích quán. Nay di tích các Quán Đạo này vẫn còn, nhưng đã đổi thành đền hoặc chùa. Như Chân Vũ quán nay là đền Quan Thánh, Huyền Thiên quán thì nay là chùa Huyền Thiên ở phó Hàng Khoai, chỗ đối diện chợ Đồng Xuân (dân trong vùng lại hay gọi chùa này là đền Bà Chúa Chợ), Đồng Thiên quán nay là đền Kim Cổ ở Đường Thành, Đế Thích quán nay là đền Đế Thích ở phố Thịnh Yên mà dân sở tại gọi là Chùa Vua…

Với sự diễn biến của ngay từng Đạo phái của Đạo gia, việc cung quán, đền điện thờ Văn Xương Đế Quân, Quan Đế cho đến các chỗ thờ Mẫu, thờ Tiên, thờ Thành Hoàng v.v.. cũng đều có thể tính vào hệ các Quán Đạo. Mà nếu kể như vậy, Quán Đạo ở Hà Nội chắc chắn không thể keer là ít được. Và tất nhiên, ở những nơi này còn khá nhiều tư liệu Hán Nôm mà người làm công tác nghiên cứu Hán Nôm cùng mọi người quan tâm đến di sản Hán Nôm đều nên quan tâm đến. Chúng tôi nghĩ, một số di tích và tư liệu Hán Nôm về Quán Đạo ở Hà Nội mà chúng tôi nêu trên, chắc chắn còn rất ít so với thực tế, chúng tôi chỉ dám coi đây như một mảng tham khảo nhỏ trong mảng nghiên cứu di tích và tư liệu Hán Nôm ở các Quán Đạo tại Hà Nội, và ngoài ra, chúng tôi cũng coi đây như một sự gợi ý để tiến tới bổ sung thêm cho việc sưu tầm, nghiên cứu Quán Đạo nói riêng và Đạo gia nói chung trên cả nước ta…

Thông báo Hán Nôm học 1998 (tr.377-384)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm