49. Một số nghiên cứu về tuồng Việt Nam của các học giả Trung Quốc (TBHNH 2009)
GIỚI THIỆU MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ TUỒNG VIỆT NAM CỦA HỌC GIẢ TRUNG QUỐC
NGUYỄN TÔ LAN
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Tuồng là một thành tố hữu cơ tạo nên bản sắc nghệ thuật diễn xướng dân gian truyền thống Việt Nam nói riêng và rộng ra là văn hóa truyền thống Việt Nam. Với tư cách đó, tuồng đã được giới học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu từ nhiều giác độ như: lịch sử nghệ thuật tuồng. kịch bản tuồng, nghệ nhân, nghệ sĩ, nghệ thuật diễn xướng, nghiên cứu so sánh với các loại hình hý kịch của các nước đồng văn như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc hoặc các loại hình kịch mặt nạ như của các nước Đông Nam Á. Với nhiều sự tương đồng giữa hý kịch Trung Quốc và tuồng truyền thống Việt Nam, một số học giả Trung Quốc đã quan tâm nghiên cứu bộ môn nghệ thuật này. Giới thiệu các thành tựu nghiên cứu của các học giả này cũng góp phần làm cho diện mạo nghiên cứu tuồng Việt Nam thêm phong phú.
Bài viết sẽ đề cập đến nghiên cứu của các học giả Trung Quốc về tuồng Việt Nam từ các điểm chính như sau.
1. Tùng thư về văn hóa truyền thống Trung Quốc, phần giao lưu văn hóa.
Thuộc loại hình này có thể kể đến nhiều bộ tùng thư về văn hóa của Trung Quốc, nhưng một bộ tương đối đi sâu vào các nước Đông Nam Á là cuốn Trung Quốc dữ Đông Nam Á văn hóa giao lưu chí, nằm trong bộ Trung Hoa Văn hóa thông chí do Vương Giới Nam biên soạn (Thượng Hải Nhân dân xuất bản xã, 1998). Ở đây, văn hóa tinh thần được đề cập theo hai chiều hướng tiếp cận là văn hóa tinh thần Trung Hoa truyền nhập vào các nước Đông Nam Á và văn hóa tinh thần các nước Đông Nam Á truyền nhập vào Trung Quốc. Ở khía cạnh thứ nhất, từ tr.183 - 186 tác giả lược khảo về lịch sử các nghệ thuật diễn xướng dân gian Việt Nam mà trọng tâm là nghệ thuật tuồng, ý kiến chủ đạo cho rằng do ảnh hưởng của việc người Trung Quốc phương Nam di dân vào Việt Nam, nên nhạc vũ Việt Nam cũng chịu nhiều ảnh hưởng của nhạc vũ Trung Quốc. Soạn giả cũng đưa ra quan niệm phổ biến trong giới nghiên cứu căn cứ vào sử kí Việt Nam mà cho rằng hý kịch bắt đầu được đưa vào Việt Nam vào thời Tống (Trung Quốc), trong quá trình phát triển của tuồng Việt Nam qua các thời kỳ đều chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hý kịch Trung Quốc thể hiện rõ rệt nhất qua phục trang, vũ đạo, âm nhạc, bài trí sân khấu v.v… Tuy vậy, soạn giả chưa chỉ ra được sự ảnh hưởng cụ thể của loại hình hý kịch nào của Trung Quốc tới Việt Nam. Đây cũng là tình trạng chung của các bộ thông chí về văn hóa, đa phần đề cập nhiều đến diện rộng, có tính chất giới thiệu là chính mà ít có bộ nào đề cập và lí giải một cách xác đáng về tuồng Việt Nam. Đa phần thường kết luận nhanh chóng về sự tương tự và sự ảnh hưởng mạnh mẽ của hý kịch Trung Quốc tới tuồng Việt Nam từ hình thành đến phát triển hoàn thiện.
2. Ghi chép qua những chuyến giao lưu trao đổi nghệ thuật kịch truyền thống giữa hai nước
Đây là những bài viết là kết quả của những chuyến giao lưu trao đổi nghệ thuật giữa các đoàn hý kịch Trung Quốc với các nhà hát truyền thống của Việt Nam (như nhà hát Tuồng, nhà hát Chèo trung ương và địa phương). Bên cạnh những dòng tin tức vắn tắt điểm sự kiện có một số bài viết đã bước đầu đề cập đến lịch sử và đặc điểm của tuồng Việt Nam. Về thể loại này có bài Ghi chép về Hý kịch Việt Nam 越南戏剧札记 của tác giả 奔 trong tạp chí Trung Quốc hý kịch 中国戏剧, tháng 7 năm 2001 (từ trang 58 đến 60). Trong bài này tác giả nhân chuyến lưu diễn giao lưu tại Việt Nam từ ngày 11 đến ngày 22 tháng 12 năm 2000 đã tìm hiểu về 6 loại hình kịch ở Việt Nam trong đó chú trọng giới thiệu về tuồng ở một số điểm như lịch sử hình thành và phát triển, sự phân bố, đặc điểm của tuồng Việt Nam. Bài viết còn tường thuật lại lịch sử thăng trầm của tuồng Việt Nam từ sau 1954 cho đến hoạt động sinh hoạt nghệ thuật tuồng đương thời tại các tỉnh thành phố của Việt Nam. Điểm đáng chú ý là bài viết đề cập đến hoạt động của các đoàn nghệ thuật hý kịch Hoa kiều tại miền Nam, cũng như nguyện vọng của họ trong việc có được sự hỗ trợ về đạo diễn cũng như kịch bản từ các đoàn hý kịch Trung Quốc - quê nhà của họ.
3. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa hý kịch Việt Nam và Trung Quốc
Mặc dù đây là một vấn đề nghiên cứu khá thú vị nhưng điều đáng ngạc nhiên là có không nhiều nghiên cứu đi sâu vào hướng này hoặc đưa đến những kiến giải mới. Tương đối công phu có thể kể đến bài Quan hệ giữa chèo và tuồng Việt Nam với hý khúc Tống Nguyên Trung Quốc của tác giả Bành Thế Đoàn, bài đăng trên mục Đông phương hý khúc, tạp chí Hý khúc nghiên cứu, số 3 năm 2007. Bài viết công phu từ trang 287 đến trang 308 đã triển khai vấn đề này qua các mục: Nghệ thuật diễn xướng Tống, Nguyên thịnh hành ở Việt Nam; mối quan hệ giữa sự hình thành chèo, tuồng với hý kịch Tống Nguyên; những vết tích của yếu tố hý kịch Tống Nguyên trong chèo, tuồng Việt Nam (nghệ thuật diễn xướng, hình thức tự sự và hết cấu tam đoạn thức, sân khấu và biểu diễn). Tác giả đi đến kết luận như sau: “Thông qua nghiên cứu so sánh, chúng ta có thể rút ra được kết luận, sự hình thành của chèo và tuồng Việt Nam có mối quan hệ vô cùng mật thiết với hý kịch Tống Nguyên Trung Quốc. Vì Việt Nam có điều kiện riêng mà những dấu ấn của hý kịch Tống Nguyên còn để lại trong hai loại hình này là rất rõ ràng, không những ở trong hình thức, đề tài, tư tưởng, cũng còn ở trong hình thức biểu diễn, phương pháp biểu diễn của nó.”
Tổng quan mà nói, nghiên cứu về tuồng của học giả Trung Quốc thường thiên về hướng biện luận sự ảnh hưởng của hý kịch Trung Quốc tới tuồng Việt Nam ở nhiều phương diện, đây cũng không nằm ngoài khuynh hướng nghiên cứu chung về khoa học xã hội của Trung Quốc nhằm chứng minh “sức mạnh lớn lao” của văn hóa Hán.
Không chỉ có học giả Trung Quốc, mà học giả Việt Nam trong lịch sử từ những đặc điểm bề ngoài khá tương đồng của tuồng và hý kịch cũng nhiều lần khẳng định tuồng là một “bản sao” của hý kịch Trung Hoa. Có thể kể đến một số quan điểm như sau: Thân Văn Nguyễn Văn Quý trong Khảo cứu văn chương nghệ thuật hát Bội cho rằng: “Dù ta chịu ảnh hưởng Tàu, nhưng có thể nói ta Việt Nam hóa Bình kịch và Triều kịch làm thành Việt Nam kịch tức Hát bội” (tài liệu chưa xuất bản, tr.10); Nguyễn Văn Xuân trong Tân văn nguyệt san, nghiên cứu và phê bình văn học, năm thứ 1, bộ 1, số 4 tháng 8, 1968, Sài Gòn: “Hát Bội là một sản phẩm miền Nam tập theo lối hát Tiều (Triều Châu) trong lối hát truyền thống thời nhà Minh”; Lê Văn Chiêu trong Nghệ thuật sân khấu hát Bội, Nxb Trẻ, tp.HCM, tr.15: “Nguồn gốc là Nguyên tạp kịch (Nguyên khúc) của nhà Nguyên (Mông Cổ) truyền sang miền Bắc nước ta được pha trộn, chế biến, dung hòa với “cái có sẵn” cốt lõi thành ra Hát Bội Việt Nam....” v.v…
Thực tế tình hình nghiên cứu tuồng Việt Nam cho thấy cần phải có nhiều giới thiệu kĩ càng hơn nữa về loại hình nghệ thuật truyền thống đặc sắc này nhằm thu hút nhiều học giả cùng nghiên cứu, để có thể tìm về bản chân nguồn gốc tuồng Việt Nam, cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến nó, ảnh hưởng từ những giác độ nào, mức độ ảnh hưởng đến đâu./.
(Thông báo Hán Nôm học 2009, tr.582-586)