5. Phát hiện thêm một bản gia phả đá (TBHNH 2001)
PHÁT HIỆN THÊM MỘT BẢN GIA PHẢ ĐÁ
HUỲNH CÔNG BÁ
Khoa Lịch sử -Trường Đại học Sư phạm Huế
Trong quá trình điền dã tại thôn Phong Nhứt, xã Điện An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, chúng tôi được tiếp xúc một tấm đá ghi gia phả của một gia đình họ Trần. Tấm đá màu trắng đục, thuộc loại đá khai thác ở Ngũ Hành Sơn (Non Nước, Hoà Vang, Quảng Nam). Tấm đá có hình gần chữ nhật dày 4.5cm (ở phần đầu) và 5cm (ở phần chân), có chiều dài 51.5cm (ở cạnh phải) và 52.2cm (ở cạnh trái), có chiều rộng 31cm (ở phần đầu) và 32cm (ở phần chân), bề mặt mài nhẵn, bề lưng hơi xù xì. Bề mặt tấm đá được khoét lòng trũng sâu 1.5mm, chiều dài 43.5cm (ở bên phía phải) và 44cm (ở phía bên trái), chiều rộng 27cm (ở phần đầu) và 27.5cm (ở phần chân). Trong lòng trũng khắc 12 dòng chữ Hán lớn. Ngắt đoạn trong các dòng (từ phải qua trái gồm các dòng 3, 4, 5, 6, 10 và 12) là 2 dòng chữ nhỏ ghi chú thích về năm lấy vợ, năm thi đỗ, ngày mất, nơi táng mộ của những người có liên quan. Toàn bộ nội dung bài văn khắc như sau:
Dịch nghĩa:
"Thân phụ họ Trần, tên tự là Bình, (sinh quán) tại thôn Nhất Giáp, xã Khả Phong (tức Ba Phong). Phụ chép thêm: (Người) là con trai thứ năm của ông Bộ Ứng tên huý là Công Du, sinh vào năm Nhâm Tý (1792).
Thân mẫu họ Hồ, người thôn Đông Giáp, tổng Phú Lâu, là con gái út của ông Lập tên tự là Triết, sinh vào năm Giáp Dần (1794).
Vào ngày mùng 4 tháng 9 năm Canh Thìn (1820), đời Minh Mệnh năm thứ nhất, (ông bà) sinh hạ người con thứ nhất đang còn tại thế, tên thường gọi là Thế Hiển. (Vào năm Mậu Tuất (1838) (Thế Hiển) kết hôn cùng với con gái đầu của ông Hương thân Cần ở xã Bằng An là Lê Thị Hựu; vào năm Nhâm Dần (1842) đời Thiệu Trị năm thứ hai sinh con. Vào đời Tự Đức năm thứ nhất, ở Khoa thi (Hương) năm Mậu Thân (1848) Hiển đỗ Tú tài. Đến năm thứ tám (đời Tự Đức), ở khoa thi (Hương) năm Ất Mão (1855) Hiển đỗ Cử nhân).
Người con gái thứ nhất là bà Hanh (mất vào ngày mùng 6 tháng 5 năm Ất Dậu (1825), mộ táng tại Tiểu Phong Đăng, dưới chân mộ bà Thái).
Người con trai thứ hai là Văn Lý (mất vào ngày 29 tháng 12 năm Giáp Thân (1824), mộ táng tại Lãnh Hậu).
Người con trai thứ ba là Văn Tú (mất vào ngày mùng 8 tháng Chạp năm Mậu Tý (1824), mộ táng tại Tiểu Phong Đăng, Đạc Ba, Thứ Tám).
Người con gái thứ ba là bà Quyến (mất vào ngày 21 tháng Giêng năm Mậu Tý (1828), mộ táng tại Lãnh Hậu).
Người con trai thứ tư là Văn Chiêu (mất vào ngày mùng 6 tháng Giêng năm Kỷ Sửu (1829), mộ táng tại Lãnh Hậu, phía Tây - Nam).
Cả thảy năm người đều qua đời trước tuổi trưởng thành.
Vào năm Mậu Tý (1828) đời Minh Mệnh năm thứ 9. Thân phụ nhậm chức Cai tổng tập sự tổng An Lưu. Cùng năm này, vào giờ Mão ngày mùng 3 tháng 2, Thân mẫu qua đời, hưởng dương được 35 năm, mộ táng tại Tiểu Phong Đăng, Đạc Nhì, Thứ Bảy, đầu quay về hướng Tây Bắc, chân duỗi về hướng Đông Nam.
Vào tháng 6 năm Tân Mão (1831) đời Minh Mệnh năm thứ 12, (Thân phụ) được giao giữ chức Cai tổng thực thụ. Trong khoảng thời gian 18 năm làm việc, (người) hết sức cẩn trọng trước những công việc khó khăn gai góc và ban phát cho mọi người những điều hay đẹp cùng với bạc tiền.
Vào giờ Tý ngày 25 tháng 9 năm Ất Tỵ (1845) đời Thiệu Trị năm thứ năm, Thân phụ qua đời, hưởng thọ được 54 năm, mộ táng tại Tiểu Phong Đăng, Đạc nhì, Thứ bảy, bên trái mộ Thân mẫu, đầu quay về hướng Tây Bắc, chân duỗi về hướng Đông Nam, chệch qua vị trí Thìn và Tuất.
Con trai trưởng là Thế Hiển kính cẩn trình bày.
Sau khi Thân mẫu qua đời, Thân phụ đi hỏi bà Thoại, con gái đầu lòng của ông Ngô Hữu Phủ, người tỉnh Bình Định, làm vợ kế. Sinh hạ được hai người con trai là ông Sơn và ông Hà, cùng với sáu người con gái là một bà không biết tên (mộ táng tại ruộng tư ở Biễu Bông, góc phải phía dưới mộ bà Thái), bà Xuyên (mộ táng tại Vườn Ưng ở trong làng), bà Hải, bà Kim, bà Ngân và bà Châu".
Toàn bộ mặt có khắc chữ của tấm đá được đậy bởi một tấm đá nắp, cùng chất liệu với tấm bia kia, có màu trắng đục, dày 3,5cm, chiều dài 46cm, chiều rộng 32.5cm. Cả tấm đá có khắc chữ cùng với tấm đá nắp đậy được chôn nằm ngang dưới đế tấm bia mộ ông Trần Công Bình, cách đế bia 3dm và đế bia cách mặt đất của mộ 2dm. Bên dưới tấm đá là một cọc gỗ lim chôn đứng, dùng để nâng đỡ tấm đá. Vì lâu ngày cọc gỗ đã bị mòn vẹt hai đầu và chỉ còn phần lõi đo được chiều dài 142cm, cùng với chu vi phần giữa đo được 43cm. Xưa nay, trong gia tộc không hề biết có tấm phổ hệ đá ấy. Đến đợt bốc mộ quy hoạch vào năm 1976, người ta mới phát hiện ra chúng và hiện được lưu giữ tại nhà ông Trần Cho ở thôn Nhất Giáp, xã Điện An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Qua bước đầu suy nghĩ, chúng ta thấy cổ vật này có một số giá trị sau:
1. Đây là một bản gia phả khắc trên đá và đặt biệt là chôn trong mộ táng. Tuy chỉ có 2 đời, nhưng việc ghi chép khá đầy đủ, với những chi tiết cần thiết của một bản gia phả như tên, tự, tên huý, ngày sinh, ngày mất, nơi táng mộ, họ tên quê quán người phối ngẫu, số con cái sinh hạ, công việc học hành, chức vụ xã hội... Ở đây, chúng không được miêu tả chi tiết hành trạng và trau chuốt văn vẻ như một bài bi ký nhưng cũng không đơn giản hoá đến mức tối đa các thông tin như một tấm bia chí thông thường.
2. Bấy giờ là lúc thực dân Pháp tiến hành xâm lược nước ta và trận tấn công đầu tiên của chúng là đánh vào Đà Nẵng. Trước tình hình chiến tranh khốc liệt khiến người ta nghĩ đến việc cần phải khắc gia phả trên đá và chôn dấu trong mộ mới có thể bảo tồn các thông tin được lâu dài.
3. Song cũng có thể nghĩ rằng đây là một hình thức phụng sự đối với người quá cố. Nếu đúng như vậy thì đây là một hiện tượng độc đáo, rất đáng suy nghĩ trong việc nghiên cứu về phong tục tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở miền Trung.
4. Ngoài ra, đây còn là một trong 5 họ tộc tiền hiền khai khẩn của thôn Nhất Giáp, xã Ba Phong, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Tổ tiên của dòng họ này đã đi vào khẩn hoang lập nghiệp từ đời Hậu Lê. Nay là một tộc họ lớn ở địa phương, có trên 20 đời. Ông Trần Công Bình, chủ nhân của ngôi mộ có bản gia phả đá ấy, thuộc đời thứ 11. Con trai, cháu nội và chắt nội của ông đều đỗ đạt, nổi tiếng trong làng là 3 đời Cử nhân. Song có điều là sau khi đỗ đạt, cả 3 đời đều ở nhà dạy học, khai hoá cho con em trong làng và trong tổng. Trong tập "Sơ thảo tìm hiểu về truyền thống đấu tranh cách mạng của quê hương Điện An" do Đảng uỷ, UBND và MTTQ xã Điện An tổ chức biên soạn, hoàn thành vào năm 1991, ở mục "Văn hoá - Giáo dục" có đoạn viết: "Phong Nhứt, tộc Trần có 3 đời đỗ Cử nhân: Ông nội Cử Hiển, con trai Cử Nhạc, cháu nội Cử Quy. Ba đời thi đỗ nhưng ở nhà dạy học. Riêng Cử Quy đỗ Cử nhân và là rể của quan Tổng đốc, có thế lực trong hàng ngũ quan lại cấp cao nhưng không tìm được công danh địa vị"(4). Chúng tôi nghĩ đây cũng là một điều đáng trân trọng trong truyền thống học hành và nhân cách đạo đức của những người có tên ghi trong bản gia phả đá. Cũng ở chi tộc này về sau còn có nhiều người học hành rồi tham gia Cách mạng tháng Tám và đóng góp vào hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc.
Nguyên văn chữ Hán:
顯考姓陳字平可封一甲附簿應諱公腴之第五男也以壬子年生
顯妣姓胡富婁東甲村公立字哲之季女也以甲寅年生
明命元年庚辰九月初四日生第一顯當常字世顯《戊戌年配憑安社鄉紳勤之長女黎氏囿為室紹治二年壬寅生下嗣德元年戊申科顯中秀才八年乙卯科顯中舉人》
其第一女氏亨《乙酉年三月初六日卒葬小豊登太墓尾?》
第二男女文理《甲申年十二月廿九日卒葬在領後》
第三男文秀《戊子年二月初八日卒葬小豊登度三次八》
第三女氏絹《戊子年正月廿一日卒葬墓領後》
第四男文昭己丑年正月初六日卒葬領後西南
等五名氏卒以殤亡
顯考於明命九年戊子試差安留該總是年日二月初三日卯刻顯妣壽終亭年三十有五葬小豊登度二次七乾坐巽向
明命十二年辛卯六月奉準定援該總凡十八年間後事敬棘亥賜花暇龍銀
紹治五年乙巳九月二十五日子刻壽終亭年五十有四葬小豊登度二次七顯妣葬之左乾坐巽向兼辰戌《第一男世顯謹說》
西顯考自顯妣終後娶平定省人吳有府之長女氏瑞為繼室生下二男公山公河六女氏無名《葬殍尾私田氏太墓尾之右》氏川《葬內鄉園膺》氏海氏金氏銀氏珠。
Thông báo Hán Nôm học 2001, tr.32-38