5. Tìm hiểu thêm về quê hương Lý Nam Đế qua các tư liệu Hán Nôm mới phát hiện tại huyện Hoài Đức (Hà Tây)
TÌM HIỂU THÊM VỀ QUÊ HƯƠNG LÝ NAM ĐẾ QUA CÁC TƯ LIỆU HÁN NÔM MỚI PHÁT HIỆN TẠI HUYỆN HOÀI ĐỨC (HÀ NỘI)
NGUYỄN GIA BẢO
Sở Văn hóa - Thông tin Thái Nguyên
Lý Nam Đế hay còn gọi là Lý Bí (có bản chép là Lý Bôn), là vị vua xưng đế đầu tiên của nước ta, là người đầu tiên đặt niên hiệu triều đại Vạn Xuân thế kỷ VI (542-545). Ông cũng là người đầu tiên xác định rõ vị trí địa lý trung tâm đất nước để đặt kinh đô, vạch rõ cương vực sông núi, khẳng định dân tộc Việt Nam có toàn quyền làm chủ vận mệnh đất nước mình.
Qua các tài liệu nghiên cứu trước đây, vấn đề về quê hương ông vẫn chưa được làm rõ. Các nhà nghiên cứu và sách Lịch sử Việt Nam vẫn cho rằng quê ông ở phủ Long Hưng, tỉnh Thái Bình. Gần đây, UBND huyện Phổ Yên cùng chuyên viên Sở Văn hoá Thông tin Thái Nguyên qua khảo sát 4 di tích ở thị trấn Trôi, huyện Hoài Đức, Hà Nội là: Đền Giang Xá, đình Giang Xá, đình Lưu Xá và chùa Lưu Xá. Kết quả khảo sát cho thấy huyện Hoài Đức có 230 di tích lịch sử văn hoá, trong đó riêng 2 địa bàn xã Đức Giang và thị trấn Trôi có 4 di tích thờ Lý Nam Đế, ngoài ra còn có một số di tích khác thuộc huyện Hoài Đức và huyện Từ Liêm (Hà Nội) cũng thờ Lý Nam Đế.
Tại 4 di tích đoàn khảo sát đã thu thập được những tư liệu quý như: bia đá, sắc phong, hoành phi, câu đối, văn tế. Trong đó, ở di tích đền Giang Xá, đình Lưu Xá còn nhiều tư liệu Hán Nôm có giá trị hơn cả. Sau đây, chúng tôi chọn lọc các tư liệu Hán Nôm là văn bia, hoành phi và câu đối ở các di tích để giới thiệu cùng bạn đọc.
1. Văn bia
Tấm bia đá ở đền Giang Xá ghi thần tích về Lý Nam Đế có kích thước 1,1 x 0,58m, làm bằng một phiến đá nguyên khối. Văn bia khắc một mặt, chữ Hán xen chữ Nôm, chữ khắc theo lối chân phương, khắc nông, nét mảnh. Toàn văn bia có khoảng gần 1 nghìn chữ Hán. Nguyên văn Giang Xá từ bi ký được phiên âm như sau:
"Việt Thường thị tiền Lý Nam Đế Ngọc phả cổ truyền... lưu thiếu bản xã khắc vu bi.
Tích ngã Việt thế truyền thử gian quy ư lương đại đồng chi y dã ! Nam lược vi... khắc sử các gian...
Kinh Bắc xứ, Giã Năng châu, địa hữu ông Lý Toản... Xuyên kinh dư Thanh Hoa Lê Thị Oánh thất kỳ thị... công gia thế diệc âm hành thiện tinh chi dư đa thất.
Thị Lý Công tứ thập ngoại, Lê Thái tam thập dư. Lê Thái viết: Gián... kiến thiên địa... ngọc... linh hoàng bạch... sao thái dương tinh trợ nhiên sinh dong giáng nhập Lê Thái chi khẩu... hữu dựng... Thai nhũ lai chi... cụ cáo Lý Công... thử Lê Thái ức cảm nhi hậu thất Quý Mùi niên, cửu nguyệt thập nhị nhật y tắc sinh, hạ nhất nam khôi ngô khác thường. Nhân thân tam tuế nhân danh viết: Quý ngũ tuế Lý Công mệnh một thế, thất tuế Lê Thái tái mệnh một. Tiền huynh danh... niên Tỵ thập tam nhật phụ mẫu y gia... hỹ !
... Quân thân báo chi gia... kiến bản tự thiền sư vị viết: Danh quý thể... đa kha phi kha... từ môn vị tất thành thân báo văn kỳ dữ mãi vi dư tử thiền sư thất. Niên thập tam thiền sư vãng hồi quốc tuế Đan Phượng hữu Lưu Xá xã Lê, Nguyễn, Trần tam nhân kiến sư đạo đức minh hồi phổ độ gia tiên hựu Giang Xá thôn, hữu Linh Bảo tự tại tiểu giang biên tích thanh thiền hồi tại dán sư mệnh đế quy... đế... thông... chi... thường hưng thử tự điện thần đối... hữu gián hạ... tự gián sư y phong sư hồng đế bất... đế báo thanh... mao.
Tả vu đức trung vân: Ngã giáng tàng điện thần lưu vị... kiến giám tướng y... lai... Lương nội bất ninh Lương kiến điện thần báo ái viết: Sư cẩu y... từ hữu đế... giáng nhiên ngã vô nhân sư thái nhi đế... chi thị kiến thử ái kiến cụ dĩ cáo sư khai sư... Đế viết: Quân ta thanh thế... ứng thần khâm nhân dân trợ quân tuyên ức.. điện thần đắc huống Lương an đế quân vô sư đắc ngoại thập niên... xuất thông minh tài, trí nhân đa sư chi đế bách, Đan Phượng mãi... chu vi đẳng xuyên huyện... Phân sĩ tam thiên thị tuết nhị nguyệt sơ tứ nhật hội binh tại Giang Xá tự lập từ... thiên địa bách thần kiến... lôi linh phong vũ ngũ sắc linh tây hậu thượng chính hồn tri hữu đế vương chi đào... tam nguyệt sư thập nhật hưởng sĩ tốt tạ thiền sư... Binh cố... xuyên địa khuông chiến duyệt binh đa... Đế tái viết: Lý Nam Đế tự xưng.. cố địa quốc chu... trưởng… khởi... giai báo kỳ uy hạnh y... yên! Túc hoàn Quảng Châu lưu tử khởi quang hậu tỷ đế... quốc đế điện... thành sư hoàng đế vị ký nguyên Thiên Đức duyệt đế tái mệnh... tử duy... vấn đẳng... tải duyệt binh đa... đế tái mệnh Phạm Tu tường binh... cửu đức lâm ấp vương hựu... vi nam... Đế thiền quốc viết: Vạn Xuân kỳ dựng đặt... Giang Xá, Thái Bình, Giang Tây, Giang Ninh.. xương... động đẳng địa giai hứa vi Dương Phiêu sắc nhân thị chi lập sinh từ dĩ hậu phụng chi thất niên lục nguyệt duyệt binh tái chiến... Giang Xá binh cụ đế hồi Giang Xá địa nhân thị... gia... viết: Thịnh đế kỳ địa khức kỳ địa Đan Phượng huyện nội... binh khả sở năng hữu... phụng chi đế... gia tự khuông tam nguyệt khai binh đại... đế...
... Bảo... động... quang... tải hưng Lạc tướng Bá Tiên.
Tàng nhị niên trung vị phân thân mỗi hậu hữu thời vân:
Duy hùng vị thứ tại hà chi
Lưỡng tướng phổ đồng báo nghi quân
Vĩ quân nhất tâm ư quốc sự
Danh chiêu thiên cổ thử trung thần
Đế quân động ngũ nguyệt sơ nhị nhật ... kiến thái dương hữu xám chiêm... đế tiền... thành nhất nhân... hứa... vân Lý quân... Lý quân... thiên... vân phật điện xa kim nhật hồi thiên thượng quốc thế truyền lai phật tử... đế... lai cụ... hưng... thần hốt nhiên hiển... tự hóa... vương thử địa... thần tái xử huống Thiên Bảo ngưỡng vương, ngưỡng vị thập nguyệt thập nhị nhật nãi phong đế vi Lý Nam Đế quốc vương thiên tử thái vương truyền nhân Lương lập lăng phụng chi tồn Dương Phiêu ấp chư dân nhân ngưỡng vật...
Đế huống bát niên minh hậu Lý điện y vị lịch triều sắc phong xuân thu quốc tế hậu Đinh, Lê, Lý, Trần tứ sinh khai cơ giai hữu hộ quốc cố lịch đại vương sắc phong mỹ tự huyết thực vô cùng tả.
Nhất húy thứ tự: Lý Toản... mỗi vương kỵ cửu nguyệt thập nhị nhật sinh, ngũ nguyệt sơ nhị nhật hóa.
Diệc lâm hoàng cung sắc...
Đế phụ nhị nguyệt nhị thập hóa.
Đế mẫu chính nguyệt sơ thập nhật hóa.
Thiền sư nhị nguyệt thập ngũ nhật hóa.
Khánh gia nhật dĩ hạ chính nguyệt sơ tứ nhật, thập nguyệt thập nhị nhật. Thập nhị nguyệt sơ nhị nhật.
Nhất bản chính bộ ngoại tứ thập xã tại phụng lễ.
Hồng Phúc nguyên niên chính nguyệt sơ thập nhật. Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn.
Tự Đức ngũ niên tuế tại Nhâm Tý nhị nguyệt cát nhật khắc thành.
Bản tại... Giang Xá thôn hương trưởng Lê Văn Túc phụng tả.
Bản từ diệc triều sắc phong cúng tiến niên xuân tế Lưu, Giang Xá nhị thôn đồng nghinh, đồng tế hệ lệ nhất niên chính nguyệt dữ nhị nhật bát thôn nhập tịch... vu bản từ nghinh tế...(*) tạ từ lễ thử tam giả tự cổ dĩ lai vi”.
Dịch nghĩa(1):
BÀI KÝ ĐỀN GIANG XÁ
(Bản Ngọc phả cổ truyền đền Giang Xá về Lý Nam Đế, nước Việt Thường khắc vào bia đá).
Xưa kia, nước Việt ta bị giặc nhà Lương đô hộ. Vào niên hiệu Đại Đồng nhà Lương, Tường Tiêu Tư được cử làm Thứ sử đất Giao Châu. Tiêu Tư vốn tính tham lam, hà khắc và bạc ác. Nhân dân ta sống một cuộc sống cơ cực, lầm tham khốn cùng.
Lúc đó, ở châu Giã Năng, xứ Kinh Bắc có ông Lý Toản lấy vợ người Châu Ái (nay là Thanh Hóa) tên là Lê Thị Oánh. Hai ông bà bản tính thích làm việc thiện hay giúp đỡ người khốn khó. Ngày 12 tháng 9 năm Quý Mùi, hai ông bà sinh được một người con trai khôi ngô, tuấn tú, tướng mạo khác thường. Ông bà đặt tên con là Bí. Khi Lý Bí lên 5 tuổi thì bố chết, hai năm sau thì mẹ chết. Lý Bí cùng anh là Lý Bảo chịu tang cha mẹ, gia tài bị tiêu tán hết. Hai anh em về ở với người chú ruột. Sau người chú ruột đem bán cho nhà sư làm con nuôi. Lúc ấy, có ba người họ Lê, Nguyễn và Trần ở thôn Giang Xá (xứ Sơn Tây). Thấy nhà sư có đức hạnh bèn đón về trụ trì ngôi chùa trong làng. Lý Bí theo nhà sư về sống ở chùa Bảo Linh thuộc làng ấy. Nhà sư cho Lý Bí học hành. Lý Bí là người có tài văn võ, lại có chí lớn, ông căm ghét chế độ đô hộ của nhà Lương, bất mãn về sự tham lam tàn bạo của Tiêu Tư. Lý Bí ngầm chiêu mộ quân sĩ ở các châu, huyện như Đan Phượng, Giã Năng, Chu Diên được hơn ba nghìn người. Ở các nơi khác thì chiêu mộ được tướng Tinh Thiều, Triệu Túc, Phạm Tu. Quân sĩ kéo về tụ hợp cùng Lý Bí.
Ngày 4 tháng 2 năm 542, Lý Bí họp quân ở chùa Giang Xá, lập đàn cầu trời đất và bách thần. Ngày 10 tháng 3, Lý Bí khao mừng quân sĩ và phát động khởi nghĩa lật đổ ách đô hộ nhà Lương. Nhân dân và hào mục các châu đua nhau hưởng ứng khiến thanh thế của nghĩa quân rất hùng mạnh. Sau khi đánh chiếm các địa phương, nghĩa quân tiến về bao vây châu thành Long Biên. Quân Lương đại bại. Thứ sử Tiêu Tư hoảng sợ chạy về Quảng Châu, nghĩa quân kéo vào giải phóng Long Biên.
Được tin Long Biên mất, vua Lương vội sai Thứ sử Việt châu là Trần Hầu, Thứ sử La châu là Đinh Cự, Thứ sử An châu là Lý Trí, Thứ sử An châu là Nguyễn Hán cùng hợp quân kéo sang đánh Lý Bí. Nhưng chúng vừa kéo xuống đã bị quân của Lý Bý đánh tan.
Mùa xuân năm 534, vua Lương sai Thứ sử Giao châu là Tôn Quynh, Thứ sử Tân châu là Lưu Tử Hùng đem quân sang đánh. Nhưng chúng kéo đến Hợp Phố, đã bị quân của Lý Bí đánh tan.
Đầu năm 544, Lý Bí lên ngôi vua, tự xưng là Nam Việt Đế, đặt niên hiệu là Thiên Đức, dựng triều đình đặt trăm quan, đặt tên nước là Vạn Xuân, phong thưởng cho các tướng sĩ.
Sau đó, Lý Bí kéo quân đi trấn áp, đánh dẹp các lực lượng chưa thuần phục ở các địa phương.
Đời sau có thơ rằng:
Duy hùng vị thứ tại hà chi
Lưỡng tướng phổ đồng báo nghĩa quân
Vĩ quân nhất tâm ư quốc sự
Danh chiêu thiên cổ thử trung thần.
Mùa hạ năm 545, vua Lương lại sai Dương Phiêu và Trần Bá Tiên đem quân sang đánh nước ta. Được tin này, Lý Bí kéo 3 vạn quân ra trấn thủ Chu Diên (phía Bắc Hà Nội ngày nay), đánh nhau dữ dội với quân của Trần Bá Tiên. Bị thua lớn ở đây, Lý Bí kéo quân về trấn giữ vùng cửa sông Tô Lịch chia thành nhiều trại chống nhau với giặc. Ở đây, Lý Bí lại thua trận, chạy về Giang Xá. Quân Lương đuổi theo, Lý Bí chạy về thành Gia Ninh (Bạch Hạc).
Đầu năm 546, Lý Bí đem 2 vạn quân ra đóng ở hồ Điển Triệt (Vĩnh Phúc). Quân Lương tiến đánh. Vì thiếu cảnh giác, quân Lý Bí đã tan rã. Biết tình thế khó kéo dài, Lý Bí giao binh quyền cho tướng Triệu Quang Phục rồi chạy lên vùng Khuất Lão (Tuyên Quang) định chuẩn bị lực lượng tiếp tục chống giặc. Chẳng may, bị cảm đột ngột, ông đã mất tại đây.
Sau khi Lý Bí qua đời, nhân dân các nơi lập đền thờ, nhân dân Giang Xá nhớ tới công lao của Lý Bí đã lập đền và tạc tượng thờ ông.
Ghi nhớ công ơn của Lý Nam Đế các triều đại đều có sắc phong, xuân thu hai mùa cúng tế. Từ đời Đinh, Lê, Lý, Trần cầu đảo đều có linh ứng sắc ban cho vị thần đã bảo vệ tổ quốc, sắc phong mỹ tự thật vô cùng cung kính.
Ghi nhớ ngày giỗ theo thứ tự:
Vua Lý Nam Đế sinh ngày 12 tháng 9, giỗ ngày mùng 2 tháng 5.
Màu vàng phải kiêng trong khi hành lễ.
Thánh Phụ ngày hoá mùng 2 tháng 2.
Thánh Mẫu ngày hóa mùng 10 tháng giêng.
Giỗ Thiền sư vào ngày rằm tháng 2.
Ngày mùng 4 tháng giêng và ngày12 tháng giêng, ngày mùng 2 tháng 12 toàn bản xã cùng vào đại lệ.
14 xã cùng phụng thờ tại đền.
Bản Ngọc phả này do Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn, bản chính lưu tại Bộ Lễ của Quốc gia.
Hoàng triều Hồng Phúc nguyên niên (1572), ngày 10 tháng giêng.
Hoàng triều Tự Đức thứ 5 (1852) ngày tốt tháng 2, theo bản Ngọc phả bèn khắc vào bia đá.
Nghiên cứu và phân tích nội dung tấm bia này, thấy rằng đây là văn bản của cuốn Ngọc phả về vua Lý Nam Đế, bản chính do Đông các học sỹ Nguyễn Bính chép vào năm 1572 niên hiệu Lê Hồng Phúc đời vua Lê Trang Tông ở thế kỷ XVI đang được lưu giữ tại đền Giang Xá. Dựa vào văn bản này, người xưa ở địa phương đã khắc Ngọc phả vào tấm bia đá thờ ở đền. Hiện bia vẫn được đặt ở trong hậu cung của đền, các cụ ta coi đó như một vật báu, một cuốn sách đá đã ghi nhận về quê hương, công lao đóng góp của vị vua Lý Nam Đế. Đặc biệt là cứ liệu quan trọng đối với các nhà nghiên cứu quan tâm. Những dòng chữ quan trọng nói về quê hương của Lý Nam Đế được khắc rất rõ có đoạn viết: "Lúc đó, ở châu Giã Năng, xứ Kinh Bắc có ông Lý Toản lấy vợ người Châu Ái (nay là Thanh Hoá) vợ là Lê Thị Oánh “Kinh Bắc xứ, Giã Năng châu, địa hữu ông Lý Toản… Hai ông bà tính tình từ thiện hay giúp đỡ người khốn khó. Ngày 12 tháng 9 năm Quý Mùi, hai ông bà sinh được một người con trai khôi ngô, tuấn tú, tướng mạo khác thường. Ông bà đặt tên con là Bí. Khi Lý Bí lên 5 tuổi thì bố chết, hai năm sau thì mẹ chết. Lý Bí cùng anh là Lý Bảo chịu tang cha mẹ, gia tài bị tiêu tán hết. Hai anh em về ở với người chú ruột. Sau người chú ruột đem bán cho nhà sư làm con nuôi. Lúc ấy, có ba người họ Lê, Nguyễn và Trần ở thôn Giang Xá (xứ Sơn Tây). Thấy nhà sư có đức hạnh bèn đón về trụ trì ngôi chùa trong làng. Lý Bí theo nhà sư về sống ở chùa Bảo Linh thuộc làng ấy. Nhà sư cho Lý Bí học hành. Lý Bí là người có tài văn võ, lại có chí lớn, ông căm ghét chế độ đô hộ của nhà Lương, bất mãn về sự tham lam tàn bạo của Tiêu Tư. Lý Bí ngầm chiêu mộ quân sĩ ở các châu, huyện như Đan Phượng, Giã Năng, Chu Diên được hơn ba nghìn người. ở các nơi khác thì chiêu mộ được tướng Tinh Thiều, Triệu Túc, Phạm Tu. Quân sĩ kéo về tụ hợp cùng Lý Bí".
2.Hoành phi, câu đối
Ở đền Giang Xá hiện nay có nhiều hành phi, câu đối ghi nhận về quê hương của Lý Nam Đế, trong số các hoành phi có hoành phi ghi: "Thái Bình ấp" (chỉ ấp Thái Bình, quê vua Lý Nam Đế).
Câu đối đình Lưu Xá nằm trong quần thể thuộc thị trấn Trạm Trôi cũng ghi:
"Kinh Bắc xuất thánh minh, khởi Giáp Tý, chung Mậu Thìn, nhất thống sơn hà khai đỉnh nghiệp.
Vạn Xuân tự đế quốc, hậu Triệu, Trưng, tiền Đinh, Lý, thiên thu miếu mạo lẫm dư linh".
(Đất Kinh Bắc nơi sinh ra bậc thánh minh, sinh năm Giáp Tý, mất năm Mậu Thìn, thống nhất sơn hà khai sinh đất nước.
Lập nước Vạn Xuân, sau Triệu, Trưng, trước Đinh, Lý nghìn thu miếu mạo còn linh thiêng).
Từ đây có thể cho phép đặt giả thiết về quê hương của Lý Nam Đế rằng Lý Nam Đế quê ở xứ Kinh Bắc, theo như bản văn bia đã ghi chép. Vấn đề bấy lâu này giới sử học đã từng khẳng định ông quê ở tỉnh Thái Bình. Chúng tôi cũng đã nghiên cứu bài: "Về Lý Nam Đế" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 1 năm 1991, của Minh Tú. Qua phân tích phả hệ họ ông Lý Nam Đế, vốn quê ở Long Hưng (Trung Quốc). Có phải chỉ vì người ta phiên âm chữ “dữ Long Hưng” ấp Thái Bình, chệch thành “cử Long Hưng” ấp Thái Bình mà cho rằng ông quê ở huyện Long Hưng, tỉnh Thái Bình ngày nay chăng? (tỉnh Thái Bình mới thành lập ngày 14/10/1890, cách đây 117 năm)?!
Tham khảo các bài điều tra, nghiên cứu như bài: "Đã phát hiện được dấu tích đại bản doanh Lý Nam Đế ở Lưu Xá, Hoài Đức (Hà Tây)" Báo Quân đội nhân dân ra ngày 3/2/1990, của tác giả Minh Tú cho biết: "Lý Nam Đế quê ở ấp Thái Bình, huyện Phổ Yên, tỉnh Bắc Thái ngày nay"; bài "Về Lý Nam Đế" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 1 năm 1991, ông Minh Tú cũng viết: "Như vậy, châu Giã Năng bao gồm một phần đất huyện Sóc Sơn, Hà Nội và huyện Phổ Yên tỉnh Bắc Thái ngày nay"; bài "Lý Nam Đế với nhà nước Vạn Xuân" đăng Báo Nhân dân Chủ nhật ra ngày 2/11/2003, nhân dịp Kỷ niệm 1.500 năm ngày sinh của Lý Nam Đế và bài "Tìm hiểu thêm về Châu Giã Năng và ấp Thái Bình thời Lý Bí" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 6/1997 của Nguyễn Hữu Khánh. Thông qua bài báo tác giả đã kiến giải về châu Giã Năng và ấp Thái Bình bằng phương pháp nghiên cứu địa lý lịch sử cũng đã cho thấy địa danh ấp Thái Bình, châu Giã Năng, xứ Kinh Bắc xưa, có khả năng là quê gốc của Lý Nam Đế, ngày nay thuộc đất xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Như vậy, có thể cho phép suy nghĩ là: bằng những tư liệu mới phát hiện cho thấy có thể quê hương của vua Lý Nam Đế là ở "ấp Thái Bình, châu Giã Năng, xứ Kinh Bắc” nay thuộc huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Qua cuộc khảo sát di tích đền Giang Xá, đình Giang Xá, đình Lưu Xá ở Hoài Đức ngoài văn bia trên, còn có các tư liệu khác như hoành phi, câu đối ở đền Giang Xá, đình Lưu Xá cũng cho biết những thông tin quan trọng như. Như vậy, bằng chứng là vùng đất huyện Phổ Yên ngày nay, thời xa xưa thuộc châu Giã Năng, xứ Kinh Bắc cuốn Ngọc phả cổ truyền Tiền Lý Nam Đế cổ truyền đã chép là quê hương gốc của Lý Nam Đế. Cần phải nghiên cứu, khảo sát vùng đất Phổ Yên để kết hợp với các tư liệu đã thu thập được ở Hoài Đức để góp phần làm sáng tỏ vấn đề trên về quê hương vị vua Lý Nam Đế.
Chú thích:
(*) Những chỗ có dấu […] là phần bia bị mờ chữ không luận được.
(1) Chúng tôi sử dụng bản dịch nghĩa của Ban quản lý di tích và thắng cảnh Hà Nội./.