VI | EN
5. Tím thấy tấm bia đá cổ có giá trị ở huyện Phổ Yên (Thái Nguyên) (TBHNH 2010)
(TBHNH 2010)

TÌM THẤY TẤM BIA ĐÁ CỔ CÓ GIÁ TRỊ Ở
HUYỆN PHỔ YÊN (THÁI NGUYÊN)

NGUYỄN GIA BẢO

Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Thái Nguyên

Do có sự giúp đỡ của nhân dân mà cán bộ ngành văn hóa tỉnh Thái Nguyên đã tìm thấy một tấm bia đá cổ cùng một số hiện vật khác như 1 bình hương đá và 1 con chó đá tại nhà cụ Trịnh Văn Mạnh (85 tuổi) ở thôn Xuân Vinh xã Trung Thành huyện Phổ Yên. Theo lời kể của cụ Mạnh cho biết: Nguyên tấm bia này được dựng tại đình thôn Triều Lai, xã Thượng Giã. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, ngôi đình này đã bị tiêu thổ kháng chiến, những người trong dòng họ Trịnh ở thôn Xuân Vinh ngày nay đã khiêng tấm bia cổ này về lưu giữ tại dòng họ. Lúc đầu tấm bia này được để ở nhà cụ Trịnh Văn Nghĩa, sau vì gia đình cụ Nghĩa cho là tấm bia phát ra chất phốt pho nên cụ Trịnh Văn Mạnh đã đưa về để ở gia đình cụ cho đến thời điểm hiện nay.

Qua khảo sát cho thấy tấm bia cổ có kích thước: cao 1,1m, rộng 80cm, dày 11cm. Bia được gắn trên một con rùa đá lớn, đường kính mai: 100cm, 4 chân nhỏ quặp phía dưới mai, đầu ngẩng cao, đầu rùa có vết mài. Trên nóc bia được tạc nhô cao giống như mũ trụ của quan võ. Bia có 2 mặt đều khắc chữ và trang trí, chạm trổ công phu, hoa văn đẹp, đạt trình độ nghệ thuật.

Trán bia mặt 1 được khắc 4 chữ Hán lớn: Lập hậu thần bia (Lập bia hậu thần), diềm bia được trang trí hoa văn “hoa cúc dây”, lòng bia khắc một bài ký dài, có 18 dòng theo chiều dọc từ trên xuống, đọc từ phải sang trái, dòng nhiều nhất có 28 chữ, dòng ít nhất có 1 chữ. Nội dung mặt bia 1 cho biết các viên mục, hương lão thôn Triều Lai xã Thượng Giã tổng Thượng Giã huyện Thiên Phúc phủ Bắc Hà cùng chứng nhận vợ chồng kỳ lão nguyên Chánh tổng Trịnh Đình Cơ, tự phúc Thực đã cúng ruộng và tiền vào đình làng được nhân dân tôn bầu làm hậu thần. Mặt 2 bia cũng được trang trí đẹp, trán bia chạm khắc “chữ Thọ”, to bằng chiếc bát lớn, dưới có con chim phượng đang trong tư thế ngậm cuốn thư, 2 cánh xoè ra 2 bên - biểu tượng của đề cao sự học hành. Hai vai bia khắc 2 con lân cách điệu kiểu “long mã” trông dữ tợn, chân con vật choãi rộng như có hàm ý làm nhiệm vụ bảo vệ tấm bia. Lòng bia cũng được khắc dòng chữ Hán lớn: Tạo thạch bi ký (Tạo đá lập bia ghi nhớ), có 11 dòng, dòng nhiều nhất 30 chữ, dòng ít nhất có 4 chữ, tổng cộng cả 2 mặt bia có khoảng trên 800 chữ. Nội dung văn bia mặt 2 khắc tiếp phần mặt 1, quy định về giỗ hậu, niên đại của bia: Gia Long thất niên thập nhất nguyệt nhị thập nhật lập bi từ (tức là ngày 20 tháng 11 năm Gia Long thứ 7 (1808) lập bia, có câu đối: Huyết thực hoa vạn đại/ Hương hỏa diễn ức niên (Cái ăn, của để đến vạn đời/ hương hỏa còn nhớ kéo dài đến muôn năm), cuối cùng là phần ký tên của các chức sắc địa phương và toàn dân cùng ký, người soạn bia là cụ Trịnh Đình Cơ, trông nom khắc bia là viên mục Nguyễn Công Tiến và văn bia cũng không cho biết phường thợ đá ở đâu đã chạm khắc tấm bia này.

Nguyên văn nội dung chữ Hán văn bia như sau:

Mặt 1.

Lập hậu thần bi

Bắc Hà phủ, Thiên Phúc huyện, Thượng Giã xã, Triều Lai thôn, quan viên viên mục xã, thôn trưởng Nguyễn Công Tiến, Trần Công Bản,... Tri, Trần Đình Thực, Hoàng Đình Phụng, Nguyễn Đình Hiển, Lê Trần Kỳ, Nguyễn Đình Ngư, Thôn trưởng Nguyễn Đình Huy, Lê Trần Thực, Trần Công Thực, Nguyễn Đình Tràng, Đặng Đắc Hương, Nguyễn Đình Du, Nguyễn Đình Lộc, đồng thôn thượng hạ đẳng.

Thường văn:

Lý đào chi báo... cư chi tình hữu công tất thù duy đức tất báo thử thiên địa tự nhiên chi thường lý từ tịnh bản thôn kiến bản xã Xuân Vinh thôn kỳ lão Trịnh Đình Cơ tự phúc Thực, thê Nguyễn Thị Tiên, hiệu diệu Loan, nghi dung tuấn chỉnh đức độ khoan hoà nhi tựu kế hành thiện bất giải vu tâm kính. Thần nhân do bản thôn tu tác thánh tượng viên thành sở sử đồng tiền hiến cộng đồng tiền dữ lương điền nhị mẫu dĩ cộng hương tự thế thế bất vong công đức nhi tư mạc khả lượng dã.

Ngoài bản thôn cộng sở ứng bảo vi hậu thần sinh thời kinh nghi tạ thời kính tế phu thê bách tuế chi hậu kỳ bản thôn chức chỉnh tân thiểu niên nhất mễ nhất cụ thiên. Tửu mỹ lưu kim ngân đảng vật tịnh tựu từ đường hàng lễ dữ thực kính ức hựu... chi vu nhược lập dĩ vi bi bi hậu chi nhân kiến kỳ bi nhi tư tư kỳ đức trung kỳ lễ nhi y kỳ công dữ thiên địa trường tồn vĩnh bất thiên ngoài thực bảo sở hữu các liệt khai trần vu hậu.

Kế:

Nhị thửa điền đồng... xứ đương nhất mẫu tam cao...

ư chức khắc... khắc hưởng tư ký chiêu kính chỉ chi nghi.

Bi chức bi xương thượng hành diễn bản tai chi khánh.

 

Mặt 2.

Tạo thạch bi ký

Nhất duy định các lệ liệt kế vu hậu nhất lệ hệ lễ hậu:

Thần kỵ nhật trư nhất... tửư nhất...

Mễ nhị đấu kim ngân nhất thiêu...

Hiệu quan viên tề chỉnh y mạo hành lễ tế tự gia nghi dĩ thực kính ức.

Lễ kỵ nhật nghi tại Trưởng tộc trư nhất thủ.

Nhất liệt sở phúc hạnh ngưu niên trư các dụng kính nhất thủ mễ nhất đấu phù lưu tửu mỹ.

Gia Long thất niên thập nhất nguyệt thập tam nhật lập bi bảo.

Huyết thực hoa vạn đại

Hương hỏa diễn ức niên

Tả bi viên mục Nguyễn Công Tiến ký, 13 người ký tên đồng xã cộng ký”.

 

Một vài nhận xét:

Đây là tấm bia cổ cho đến thời điểm hiện nay vừa tròn 200 năm. Nội dung văn bia ghi chép về một phong tục cổ truyền của người Việt: Tục bầu hậu thần, trong đó cho chúng ta biết về sự diên cách địa lý của huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên ngày xưa (đầu thế kỷ XIX đất này thuộc phủ Bắc Hà, xứ Kinh Bắc), tên làng xã thời bấy giờ, sự tồn tại của di tích đình thôn Triều Lai, niên đại chính xác của tấm bia (1808).

Về hình thức tấm bia còn khá nguyên vẹn, tuy trải qua 200 năm nhưng vẫn được bảo quản tốt, chữ khắc trên bia rõ ràng, nét chữ khắc sâu theo kiểu chữ “chân” thể hiện rõ phong cách chữ thời Nguyễn. Đặc biệt, hình thức trang trí nghệ thuật trên tấm bia đẹp, đồ án rõ ràng đề tài được người xưa sử dụng trạm khắc tấm bia này là đề tài Tứ linh (long, ly, quy, phượng). Con rồng xuất hiện trên tấm bia mang hoàn toàn là yếu tố tượng trưng, có lẽ do sự khiêm tốn của người dựng bia chăng? Bởi chúng ta biết thời điểm xã hội lúc đó khi vua Gia Long vừa mới lên ngôi, chính thể nhà nước, nền kinh tế, văn hóa, xã hội mới được hàn gắn vết thương sau chiến tranh nên ý thức hệ tư tưởng chính thống vẫn còn trong tiềm thức của các chức sắc - bản thân người được ghi tên trong bia nguyên là Chánh tổng của địa phương. Do vậy, con rồng - tượng trưng uy quyền của nhà vua trong nghệ thuật điêu khắc đá nó vẫn chưa được phép sử dụng một cách “tùy tiện” như sau này. Hình ảnh con lân ở trên bia đá như trên đã nói là rất rõ. Thường trong các tấm bia phổ biến là trong trí “lưỡng long chầu nguyệt” ở đây con lân được chạm nổi chầu vào “chữ Thọ” mang ý nghĩa bảo vệ tấm bia. Con rùa thì được người nghệ nhân sử dụng rất chính xác làm nhiệm vụ “đội bia” đúng với câu ca: “Thương thay thân phận con rùa/ Lên đình đội hạc, vào chùa đội bia”.

Đây là tấm bia có giá trị nghiên cứu về phong tục, tập quán cổ của người xưa, đặc biệt nó có giá trị về mặt nghiên cứu nghệ thuật điêu khắc đá đề nghị cơ quan Bảo tàng tỉnh Thái Nguyên có kế hoạch khảo sát, sưu tầm, trưng bày một hiện vật phục vụ nghiên cứu về văn hóa truyền thống của nhân dân./.

(Thông báo Hán Nôm hoc, 2010, tr.31-35)

Nguyễn Gia Bảo
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm