VI | EN
53. Ngũ hành gắn liền với y học cổ truyền (TBHNH 2009)
(TBHNH 2009)

NGŨ HÀNHGẮN LIỀN VỚI Y HỌC CỔ TRUYỀN

NGÔ THẾ LÂN

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Học thuyết Ngũ hành, liên hệ cụ thể trong việc quan sát, quy nạp và sự liên quan của các sự vật trong thiên nhiên. Ngũ hành là tên gọi của năm sự vật: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Người xưa mượn tên và hình ảnh của năm loại yếu tố vật chất để đặt tên cho năm vị trí đó là: Kim (kim loại), Mộc (cây cỏ), Thủy (nước và chất lỏng), Hỏa (lửa) và Thổ (đất) để giải thích ý nghĩa của Ngũ hành. Cách giải thích này không đủ nói lên toàn bộ ý nghĩa mà người xưa muốn nói về Ngũ hành. Như vậy, có thể hiểu Ngũ hành là năm tên gọi, năm khái niệm về triết học thì đúng hơn.

Trong sách Xuân Thu phồn lộ có ghi: "Âm dương sinh Ngũ hành", như thế Ngũ hành được xây dựng trên cơ sở học thuyết Âm dương.

Quan hệ của ngũ hành

Tương tự như mối quan hệ giữa Âm và Dương, Tương sinh và Tương khắc không tách rời nhau, nhờ đó vạn vật mới giữ được thăng bằng trong mối quan hệ với nhau. Thí dụ: Mộc khắc Thổ, nhưng Thổ lại sinh Kim và lại khắc Mộc nhờ đó Mộc và Thổ giữ được thế quân bình, Thổ không bị suy. Có tương sinh mà không có tương khắc thì không thăng bằng, không phát triển bình thường được. Có tương khắc mà không có tương sinh thì không thể có sự sinh trưởng biến hóa. Như vậy, qui luật Tương sinh Tương khắc của Ngũ hành, về bản chất, chính là sự cụ thể hóa Học thuyết Âm dương.

Nhìn vào đồ hình Ngũ hành sinh khắc ta thấy, Ngũ hành liên hệ với nhau một cách chặt chẽ biện chứng.

Sự xáo trộn thay đổi của một hành thường đưa đến sự thay đổi, xáo trộn của bốn hành kia, nghĩa là: gây ra bốn hậu quả.

+ Mộc vượng đưa tới Hỏa vượng, Thủy vượng Thổ suy và Kim suy.

+ Người đang giận dữ (Mộc vượng) thấy mặt bừng nóng, mắt đỏ (Hỏa vượng), người run rẩy (Thủy vượng), nhói đau vùng thượng vị (Thổ suy), thở khó (Kim suy)...

Ngược lại: có thể có 4 nguyên nhân làm cho một hành thay đổi: Hỏa vượng, có thể do:

- Mộc vượng làm Hỏa vượng (Tương sinh).

- Thổ vượng kéo theo Hỏa vượng (Phản sinh).

- Kim suy làm Hỏa vượng (Tương thừa).

- Thủy suy làm Hỏa vượng (Tương khắc).

Tuy nhiên, trên thực tế lâm sàng cho thấy, nhiều khi các mối quan hệ sinh khắc của Ngũ hành không thuần túy như Mộc sinh Hỏa hoặc Thổ khắc Thủy... Mà nhiều khi có những hội chứng trái ngược trở lại như Hỏa vượng mà Mộc suy (thay vì Mộc vượng làm Hỏa vượng hoặc Hỏa vượng phản sinh Mộc vượng) hoặc Thủy vượng mà hỏa cũng vượng (thay vì Thủy vượng thì Hỏa phải suy vì Thủy khắc Hỏa)...

Trong trường hợp trên, ta phải phân tích thật kỹ để tìm ra sự khác thường.

Phân tích hội chứng trên ta thấy: Nguyên nhân gây bệnh ở đây là Thủy suy làm Kim suy và Mộc suy, (Theo nguyên tắc Tương sinh và phản sinh). Thủy suy làm Hỏa vượng (Tương khắc) và Thổ vượng (Tương thừa).

Các hành sinh khắc, đúng ra phải biến chuyển theo cùng chiều: cùng vượng hoặc cùng suy nhưng nếu có biến chuyển khác thường hoặc khác chiều thì đó chỉ là hậu quả của 1 nguyên nhân sinh khắc với nó. Nói khác đi, sự xáo trộn đó phải được tìm nơi hành khác.

Để dễ nhớ, có thể theo cách thức sau: 3 hành liên tiếp biến chuyển cùng chiều, hành ở giữa chính là nguyên nhân.

- Kim suy, Thủy suy, Mộc suy thì Thủy suy là nguyên nhân.

- Mộc vượng, Hỏa vượng, Thổ vượng thì nguyên nhân do Hỏa vượng.

QUY LUẬT HOẠT ĐỘNG CỦA NGŨ HÀNH

Thông thường có hai quy luật:

1. Tương sinh

Tương sinh là quan hệ hỗ trợ để sinh trưởng, thúc đẩy nhau cùng phát triển: Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, cứ như vậy mà tái diễn. Mỗi hành đều có 2 mặt tương quan về hành sinh ra nó và hành nó sinh ra.

Đối với hành Mộc, thì hành Hỏa là hành nó sinh ra và hành Thủy là hành sinh ra nó

Thủy ---- Mộc ---- Hỏa

(Sinh - Nó) (Nó - sinh)

Suy rộng ra thì hình tượng hóa mối quan hệ tương sinh cho dễ hiểu bằng hình ảnh là quan hệ Mẫu - Tử : Đối với Mộc, Thủy sinh Mộc, vậy Thủy là Mẫu (mẹ) còn Mộc là Tử ( con). Mộc sinh Hỏa thì Mộc là Mẫu (mẹ) và Hỏa là Tử (con) . Ta cần nhớ quy luật này để áp dụng vào các nguyên tắc chữa trị: "Hư bổ Mẫu và thực tả Tử", là hai nguyên tắc thường được dùng.

2. Tương khắc

Quan hệ hạn chế sự thái quá: Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy.

Mỗi hành cũng có hai mặt tương quan về hành khắc được nó và hành nó khắc được. Cụ thể là, gọi Mộc là Ta thì, Kim khắc Mộc, Kim là cái khắc Ta, Mộc khắc Thổ, Thổ là cái Ta khắc.

Nếu vì một lý do nào đó phá vỡ sự thăng bằng giữa Ngũ hành với nhau, Ngũ hành sẽ chuyển sang trạng thái bất thường, không còn thăng bằng và hoạt động theo hai qui luật:

+ Phản sinh, Phản khắc

Từ trước, khi nói đến sinh khắc, hầu như người ta chỉ nói đến sinh khắc một chiều: Mộc sinh Hỏa, Kim khắc Mộc. Tuy nhiên đào sâu vào từng hoạt động của Ngũ hành ta thấy: Mộc vượng không làm cho Thổ suy và không sinh được Kim và không khắc được Thủy. Vậy Mộc vượng làm Kim suy Thủy vượng. Nói cách khác, Mộc phản khắc Kim (thay vì Kim khắc Mộc) và Mộc phản sinh Thủy (thay vì Thủy sinh Mộc).

Trong điều kiện bất thường, Hành này khắc Hành kia quá mạnh, khi đó mối quan hệ Tương khắc biến thành quan hệ tương thừa. Chẳng hạn: bình thường Mộc khắc Thổ, nếu có một lý do nào đó làm Mộc tăng khắc Thổ, lúc đó gọi là Mộc thừa Thổ.

+ Tương thừa

Là quan hệ tương khắc không bình thường: Mạnh quá lấn yếu.

- Một hành nào đó, nếu quá mạnh sẽ khắc hành bị nó khắc mạnh hơn. Ví dụ: giận dữ quá độ (Can Mộc thái quá) gây loét dạ dày (Vị Thổ bị tổn hại).... Khi điều chỉnh, phải điều chỉnh ở Can Mộc.

- Ngược lại, nếu nó quá yếu sẽ bị khắc chế mạnh hơn bởi hành khắc được nó.

Ví dụ: Trong chứng lao phổi, người bệnh hay sốt về chiều, phổi bệnh do Phế Kim suy yếu. Theo Ngũ hành, Hỏa khắc Kim, nay Kim suy yếu, Hỏa nhân cơ hội Kim suy, khắc mạnh hơn gây sốt kéo dài, nhất là từ trưa đến chiều tối (là giờ của Hỏa vượng, Kim suy). Khi điều trị, chủ yếu phải điều trị ở Phế Kim chứ không phải ở Tâm Hỏa, cho dù có dấu hiệu của Tâm hỏa.

Nếu Hành này không khắc được Hành kia thì quan hệ Tương khắc trở thành quan hệ tương vũ. Chẳng hạn: Thận (thuộc Thủy) bình thường khắc Tâm (thuộc Hỏa), nếu Thận Thủy suy yếu quá không khắc nổi Tâm Hỏa sẽ sinh chứng nóng nhiệt, khó ngủ…

+ Tương vũ

Đây cũng là 1 quan hệ tương khắc không bình thường, yếu chống lại mạnh.

- Một hành nào đó, nếu mạnh quá, sẽ ức chế ngược lại hành khắc được nó.

Thí dụ: Bình thường thì Thủy khắc Hỏa, trong trường hợp bị trúng nắng, sức nóng (nhiệt) bên ngoài làm cho Hỏa khí bị kéo theo, mạnh hơn, bùng lên, khắc ngược lại Thủy làm cho Thủy suy, gây đổ mồ hôi, sợ lạnh... Khi điều trị, phải điều chỉnh ở Hỏa chứ không phải ở Thủy.

- Ngược lại, nếu nó quá yếu, sẽ bị hành mà nó khắc trở nên khắc ngược lại nó.

Ví dụ: Trong trường hợp trụy mạch, Hỏa suy kém gây lạnh người, huyết áp thấp, Kim nhân cơ hội Hỏa suy, bùng lên khắc ngược trở lại Hỏa, làm cho thở nhanh hơn, tim đập chậm hơn, có khi gây ngưng đập.

Như vậy, Ngũ hành sinh khắc qua lại hai chiều chứ không phải chỉ có một chiều.

Ngũ hành và Y học

+ Ngũ hành và Tạng phủ

- Nếu đem đồ hình Thái cực, áp dụng vào khuôn mặt, nhìn từ sau ra trước, ta thấy:

- Trán thuộc Tâm.

- Cằm thuộc Thận.

- Má bên trái thuộc Can.

- Má bên phải thuộc Phế.

- Mũi thuộc Tỳ (trung ương).

Việc phân chia này giúp ích rất nhiều trong việc chẩn bệnh.

Ví dụ: Nhìn thấy dấu hiệu báo bệnh ở vùng cằm có thể nghĩ đến bệnh lý ở thận, hoặc vùng trán có dấu hiệu báo bệnh có thể nghĩ đến rối loạn ở tâm...

- Nếu xếp đồ hình dọc theo cơ thể con người ta thấy:

- Từ ngực trở lên thuộc Tâm.

- Từ thắt lưng xuống thuộc Thận.

- Nửa bên trái thuộc Can.

- Nửa bên phải thuộc Phế.

- Bụng thuộc Tỳ.

Sự phân chia này giúp rất nhiều, trong việc chẩn bệnh:

Ví dụ: Có nhiều người chỉ cảm thấy lạnh nửa bên người hoặc nửa phần cơ thể như: bên phải lạnh, bên trái nóng hoặc trên nóng dưới lạnh...

- Những người liệt nửa bên trái, thường kèm theo đau nửa đầu, chảy nước mắt sống... (những biểu hiện của Can)... Liệt nửa phải thường kèm theo nói khó khăn, khó đi đại tiểu tiện (những biểu hiện của Phế, Đại tràng)...

+ Ngũ hành và sinh lý

1) Theo quan niệm cổ truyền:

Ứng dụng Ngũ hành vào mặt sinh lý con người là đem ngũ tạng so sánh với Ngũ hành, dựa vào đặc tính sinh lý của Ngũ tạng để tìm ra sự liên hệ với Ngũ hành.

+ Can và Hành mộc: tính của cây gỗ thì cứng cỏi giống như chức năng của Can là một vị tướng, vì thế dùng hành Mộc ví với Can.

+ Tâm và Hành hỏa: lửa cháy thì bốc lên, giống như Tâm bốc lên mặt và lưỡi, vì thế, dùng hành Hỏa ví với Tâm.

+ Tỳ và Hành thổ: đất là mẹ đẻ của muôn vật giống là con người sinh tồn được là nhờ vào các chất dinh dưỡng do Tỳ vị cung cấp, vì thế, dùng Hành thổ ví với Tỳ.

+ Phế và Hành kim: kim loại thường phát ra âm thanh giống như con người phát ra tiếng nói nhờ Phế, vì thế, dùng hành Kim ví với Phế.

+ Thận và Hành thủy: nước có tác dụng đi xuống, thấm nhuần mọi chỗ giống như nước uống vào, một phần thấm vào cơ thể, phần còn lại theo đường tiểu bài tiết ra ngoài, vì vậy đem hành Thủy ví với Thận.

2) Theo quan điểm hiện đại:

Dựa theo công năng cơ thể, tìm sự tương ứng với hành nào đó trong Ngũ hành để giải thích sự biến chuyển của Ngũ hành.

- Hành Mộc và sự vận động: đó là sự vận động của các cơ bắp, các sợi cơ ở khắp cơ thể.

- Hành Hỏa và sự phát nhiệt: đó là sự sản sinh nhiệt năng do sự chuyển hóa của các tế bào.

- Hành Thổ và sự bài tiết: đó là vận động đưa chất ra ngoài cơ thể.

- Hành Kim và sự hấp thụ: đó là vận động thu hút các chất vào.

- Hành Thủy và sự tàng trữ: đó là vận động tàng trữ các chất trong cơ thể để dùng khi cần thiết.

Giữa 2 quan niệm cổ truyền và hiện đại, có một số điều khác biệt:

- Nếu đứng về quan niệm cổ truyền, chỉ có năm chức năng tương ứng: Can Mộc, Tâm Hỏa, Tỳ Thổ, Phế Kim và Thận Thủy. Khi nói đến Can là phải nói đến Mộc, Tâm phải đi với Hỏa... Nếu nói Tâm Thủy hoặc Can Thủy... sẽ bị cho là sai hoặc không biết gì về Ngũ hành. Nếu chỉ hiểu Can là Mộc, Tâm là Hỏa... sẽ khó có thể giải thích được các cơ chế sinh bệnh một cách toàn diện được.

Ví dụ: Cũng bệnh về Tỳ.

- Hỏa của Tỳ vượng gây nôn ra máu.

- Mộc của Tỳ vượng gây co thắt dạ dày.

- Thủy của Tỳ suy gây tiêu chảy.

Nếu chỉ quy Tỳ vào hành Thổ thì khó có thể giải thích được các dấu hiệu gây bệnh do Mộc và Thủy... của Tỳ đã gây ra.

Như vậy, nếu xét một cách rộng hơn thì: mỗi tạng phủ đều có Ngũ hành chi phối.

- Can Mộc, Can Hỏa, Can Thổ, Can Kim, Can Thủy.

- Tâm Hỏa, Tâm Thổ, Tâm Kim, Tâm Thủy, Tâm Mộc.

- Tỳ Thổ, Tỳ Kim, Tỳ Thủy, Tỳ Mộc, Tỳ Hỏa.

- Phế Kim, Phế Thủy, Phế Mộc, Phế Hỏa, Phế Thổ.

- Thận Thủy, Thận Mộc, Thận Hỏa, Thận Thổ, Thận Kim.

Người xưa, khi quy Mộc cho Can, Hỏa cho Tâm... là muốn nhấn mạnh rằng Mộc có liên hệ và chi phối Can nhiều hơn các tạng khác. Nhưng không phải vì thế mà cho rằng Mộc không có liên hệ và chi phối các tạng phủ khác.

Hiểu được như vậy, sẽ rất có lợi trong việc điều trị, nhất là trong việc chọn huyệt châm cứu, kể cả dùng thuốc.

Ví dụ: Cũng một đường kinh Can, xét riêng về Ngũ du huyệt ta có: huyệt Đại Đôn (Can Mộc huyệt), Hành gian (Can Hỏa), Thái xung (Can Thổ), Trung Phong (Can kim), Khúc Tuyền (Can thủy).

Các đường kinh khác cũng đều có năm huyệt tương ứng với Ngũ hành, nhờ đó, giúp cho việc chọn huyệt thêm chính xác và hiệu quả hơn.

Ví dụ: Cũng bệnh về mắt:

- Mắt đau, nóng đỏ, biểu hiện Hỏa của Can vượng, phải tả Hỏa huyệt của Can là huyệt Hành gian.

- Mắt hay bị chảy nước sống là dấu hiệu Thủy của Can suy, cần bổ Thủy huyệt của Can là huyệt Khúc Tuyền.

- Mắt cận thị yếu kém là dấu hiệu Mộc của Can suy, cần bổ Mộc huyệt của Can là huyệt Đại Đôn.

Cũng bệnh về mắt mà ở ba trường hợp chúng ta đã dùng ba huyệt khác nhau dù cũng chỉ ở can Kinh. Nếu không hiểu rõ cụ thể sự rối loạn ở hành nào, bệnh gì cũng chỉ dùng có một huyệt duy nhất của kinh Can thì sẽ khó điều trị thành công.

Ngoài ra, đào sâu hơn ta thấy, mỗi hành đều có hai mặt mâu thuẫn và thống nhất là Âm Dương. Do đó ta có: Âm Mộc, Dương Mộc, Âm Hỏa, Dương Hỏa, Âm Thổ, Dương Thổ, Âm kim, Dương Kim, Âm Thủy, Dương Thủy.

Việc phân biệt này sẽ giúp ích rất nhiều trong việc chọn huyệt để điều trị cho thích hợp với từng loại bệnh.

+ Ngũ hành và chẩn bệnh

Căn cứ vào các triệu chứng xuất hiện qua Ngũ hành như: Ngũ sắc, Ngũ vị, Ngũ quan, Ngũ chí... để tìm ra tạng phủ tương ứng với bệnh.

Ví dụ: Bệnh ở mắt có liên quan đến Can vì Nội Kinh ghi: "Can khai khiếu ở Mắt" hoặc bệnh ở Tai có liên hệ đến Thận vì Nội Kinh ghi:" Thận khai khiếu ở Tai"...

+ Ngũ hành và bệnh lý

Ứng dụng Ngũ hành vào bệnh lý, chủ yếu vận dụng quy luật Sinh Khắc, Tương Thừa, Tương Vũ, Phản sinh Phản khắc, để giải thích các quan hệ bệnh lý khi một cơ quan, tạng phủ nào đó có sự xáo trộn gây ra mất thăng bằng: thái quá (hưng phấn) hoặc bất cập (ức chế).

Ví dụ: Giận dữ ảnh hưởng đến Can (Nội Kinh: Can chủ sự giận dữ), Can khí bùng lên, ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa của Tỳ vị (Can Mộc khắc Tỳ Thổ) sinh ra chứng đau dạ dày, dạ dày loét, gọi là chứng Can Khí Phạm Vị. Nguyên nhân chủ yếu tại Can vượng lên làm hại Tỳ chứ không phải do Tỳ tự suy yếu.

Ngoài ra, có thể dùng các biểu hiện của Ngũ hành để tìm ra sự xáo trộn ở các Hành, Tạng phủ, cơ quan.

Ví dụ: Đau trong xương, tiểu tiện nhiều, lưng đau... có thể nghĩ đến Thận vì: Thận chủ xương, nước tiểu là dịch của Thận, vùng lưng thuộc Thận...

Tuy nhiên, cần lưu ý là sự thay đổi của một Hành, luôn luôn đưa tới sự thay đổi của cả năm hành, nhất là trong các hội chứng bệnh. Do đó, mối quan hệ giữa các hành không phải chỉ là giữa hai -ba hành mà luôn là mối quan hệ giữa năm hành...

Mỗi hành khi có sự xáo trộn (hưng phấn hoặc ức chế), có thể do năm nguyên nhân:

Ví dụ: Hỏa vượng.

- Có thể do tự nó vượng lên, gọi là Chính Tà.

- Có thể do Mộc vượng làm Hỏa vượng (Mộc sinh Hỏa) tức là do tạng phủ sinh ra nó gây ra, gọi là Hư Tà.

- Có thể do Thổ vượng, phản sinh Hỏa, tức là do tạng phủ nó sinh ra, gọi là Thực tà.

- Có thể do Thủy suy, không khắc được Hỏa, tức là có tạng phủ khắc nó theo quy luật Tương Vũ, gọi là Vi Tà.

- Có thể do Kim suy, không phản khắc được Hỏa, nhân cơ hội đó Hỏa bùng lên theo quy luật Tương Thừa, gọi là Tặc tà.

Như vậy, có thể nhận thấy rằng:

Đối với một Hội chứng, gọi là Hỏa vượng, khi thấy có Mộc vượng, Thổ vượng, Kim suy và Thủy suy. Gọi là Thủy suy khi thấy có Mộc suy, Kim suy, Thổ vượng và Hỏa vượng... Các hành khác cũng lý luận tương tự như vậy.

+ Ngũ hành và châm cứu

Các kinh thư cổ đã áp dụng Ngũ hành vào một số huyệt vị nhất định là Tỉnh, Huỳnh, Du, Kinh, Hợp, gọi là Ngũ du huyệt.

Sự sắp xếp thứ tự của Ngũ du huyệt không thay đổi nhưng thứ tự của Ngũ hành lại thay đổi tùy thuộc vào Âm Dương của đường kinh. Kinh Âm khởi đầu bằng Mộc, kinh Dương bắt đầu bằng Kim, sau đó cứ theo thứ tự tương sinh mà sắp xếp huyệt.

 

Ngũ Du

Tỉnh

Huỳnh

Du

Kinh

Hợp

Kinh Âm

Mộc

Hỏa

Thổ

Kim

Thủy

Kinh Dương

Kim

Thủy

Mộc

Hỏa

Thổ

Nhận xét về cách phân chia của cổ điển ta thấy:

Nếu chỉ phân chia như trên, sẽ không đủ để giải quyết vấn đề mâu thuẫn thống nhất là Âm Dương trong mỗi hành. Ngay trong mỗi hành đều có Âm Dương, do đó, mỗi huyệt của Ngũ du cũng đều có Âm Dương. Vì vậy, cùng một huyệt, cùng một tên, cùng một chức năng nhưng lại có hai công dụng khác nhau: Dương Hỏa (hưng phấn Hỏa) và Âm hỏa (ức chế Hỏa)...

Ví dụ: Huyệt Ngư tế, tuy là Hỏa huyệt của phế kinh, nhưng cũng có thể là Phế âm Hỏa hoặc Phế dương Hỏa, tùy theo vị trí bên phải hoặc bên trái của huyệt.

Việc phân chia cụ thể theo Âm Dương sẽ giúp rất nhiều trong việc xác định và chọn vị trí của huyệt thích hợp trong điều trị.

Ví dụ: Người bệnh ho ra máu, chứng này do Hỏa của Phế vượng lên.

Tuy nhiên: Trong trường hợp cấp tính, thực chứng do Dương Hỏa vượng, cách chữa là Tả Dương Hỏa huyệt của Phế tức Tả huyệt Ngư tế bên trái.

- Trong trường hợp mãn tính, hư chứng do Âm Hỏa suy, không ức chế được Dương Hỏa làm cho dương Hỏa bùng lên, cách chữa là phải bổ Âm hỏa huyệt của Phế là huyệt Ngư tế bên phải.

Nguyên tắc này được ứng dụng nhiều trong châm cứu.

+ Ngũ hành và Dược liệu

Y học cổ truyền dùng Ngũ hành áp dụng vào việc sử dụng thuốc, dựa vào màu sắc mùi vị của thuốc mà phân loại thuốc theo Ngũ hành và từ đó suy ra tác dụng của thuốc đi vào tạng phủ tương ứng đối với bệnh tật của tạng phủ trên cơ sở liên quan giữa Vị, Sắc... đối với tạng phủ. Đây là nền tảng của việc Quy Kinh.

Ví dụ: Vị chua, màu xanh vào Can

Vị ngọt, màu vàng đi vào Tỳ.

Vị cay, màu trắng vào phế...

Ngoài ra, trong việc bào chế có thể vận dụng đặc tính của Ngũ hành để thay đổi tính chất của thuốc bào chế thích hợp để biến đổi tính năng và hiệu quả của thuốc.

Ví dụ: Sao thuốc với dấm (vị chua) để dẫn thuốc vào Can... Sao với đường, mật để vào Tỳ; tẩm muối để đi vào Thận. Sao với gừng để vào Phế. Sao cho vàng để vào Tỳ, chế cho đen để vào Thận…

Việc áp dụng màu sắc của Ngũ hành vào Dược liệu cũng đang được các nước quan tâm đến.

Theo Canadian Consumer Bộ y tế và phúc lợi xã hội Canada, đề ra chương trình dán nhãn vào các loại thực phẩm bán ở thị trường, căn cứ theo giá trị dinh dưỡng của các loại:

- Nhãn xanh đậm trên các sản phẩm sữa, chỉ rõ rằng các loại thực phẩm đó tốt cho xương và răng. (Xương và răng là biểu hiện của Thận, màu xanh đen là màu của Thận).

- Màu vàng dán vào bánh mì và các loại ngũ cốc chỉ rõ rằng những loại này là thức ăn cung cấp năng lượng (màu vàng là màu của Tỳ, Tỳ chủ tiêu hóa, sinh cơ nhục...).

- Màu xanh lục dán vào rau quả là bổ mắt (Can khai khiếu ở mắt, màu xanh là màu của Can).

- Màu đỏ dán vào cá và thịt chỉ rõ những loại này bổ máu và cơ (màu đỏ là màu của Tâm hỏa, Tâm chủ huyết - Cân cơ thuộc về Can, ở đây là Hỏa phản sinh Mộc).

+ Ngũ hành và điều trị

Trong việc điều trị, cần nắm vững quy luật Sinh Khắc của Ngũ hành thì việc trị liệu mới đạt được hiệu quả cao.

Điều trị bệnh chủ yếu dựa vào nguyên tắc: “Con hư bổ mẹ, mẹ thực tả con”.

Ví dụ: Phế yếu (Phế Hư) phải làm mạnh Tỳ Vị lên (Kiện Tỳ) gọi là nguyên tắc bồi thổ sinh Kim.

Tương sinh

Cần nhớ nguyên tắc: "Hư bổ mẫu, Thực tả tử".

a) Hư bổ mẫu: Trong trường hợp Thổ sinh Kim thì Thổ là mẫu và Kim là con. Trong trường hợp bệnh mạn tính, hư chứng, Tạng phủ bị bệnh lâu ngày, không đủ sức tự phục hồi được, cần nhờ 1 nguồn cung cấp khác giúp nó phục hồi. Muốn thế, cách hay nhất là nhớ ngay chính cái sinh ra nó, tức bổ cho mẹ nó để mẹ nó giúp cho nó.

Ví dụ: Người bệnh lao phổi lâu ngày (Phế hư lao).

Trên nguyên tắc, bệnh ở Phế, Phế suy, sẽ được điều trị ở Phế, tức là bổ Phế, tuy nhiên vì bệnh lâu ngày, Phế kém chức năng, không đủ sức tự phục hồi, do đó, cần áp dụng nguyên tắc: "Hư bổ mẫu". Tỳ Thổ sinh Phế Kim, do đó phải bổ Tỳ Thổ. Thực tế lâm sàng cho thấy, trong việc điều trị lao phổi, ngoài việc dùng thuốc diệt trùng, ăn uống bồi dưỡng tốt sẽ giúp việc điều trị lao phổi phục hồi nhanh hơn. Đây là ý nghĩa mà người xưa thường đề cập đến: "Dĩ thổ sinh Kim".

Trong châm cứu có hai cách áp dụng nguyên tắc Hư bổ mẫu:

- Có thể dùng ngay một đường kinh để bổ. Thí dụ: Phế Kim suy, có thể bổ huyệt Thái uyên vì Thái uyên là Thổ huyệt của Phế Kinh.

- Nếu dùng huyệt khác kinh thì Phế kinh suy, bổ ở kinh Tỳ vì Tỳ Thổ sinh Phế Kim.

b) Thực Tả Tử: theo nguyên tắc này, thay vì Tả trực tiếp Tạng phủ hoặc kinh bệnh, thì lại điều trị ở Tạng phủ hoặc Kinh được nó sinh. Mộc sinh hỏa thì thay vì Tả Mộc lại Tả Hỏa.

Ví dụ: Chứng cao huyết áp do Can Dương vượng.

Theo ngũ hành, Can Mộc sinh Tâm hỏa, khi điều trị, điều chỉnh ở Tâm (an thần).

Trong châm cứu, thay vì Tả Huyệt Đại Đôn (Mộc huyệt của can) lại Tả huyệt Hành gian (Hỏa huyệt của Can).

Tương khắc

Dùng quy luật tương khắc để điều chỉnh rối loạn giữa các hành.

Ví dụ: Người bệnh xuất huyết. Huyết màu đỏ thuộc Hỏa, có thể dùng những vị thuốc màu đen (hoặc sao cháy thành than) như Cỏ mực, Trắc bá... để chữa, vì màu đen thuộc Thủy, Thủy khắc Hỏa.

BẢNG TÓM TẮT ĐIỀU TRỊ BẰNG NGŨ HÀNH

 

Tạng Phủ

Bổ - Hư Bổ Mẫu

Lý Do

Tả-Thực

Tả Tử

Lý Do

Can - Mộc

Thận-Thủy

Thủy sinh Mộc

Tâm - Hỏa

Mộc sinh Hỏa

Tâm - Hỏa

Can - Mộc

Mộc sinh Hỏa

Tỳ - Thổ

Hỏa sinh Thổ

Tỳ - Thổ

Tâm - Hỏa

Hỏa sinh Thổ

Phế - Kim

Thổ sinh Kim

Phế - Kim

Tỳ - Thổ

Thổ sinh Kim

Thận - Thủy

Kim sinh Thủy

Thận-Thủy

Phế - Kim

Kim sinh Thủy

Can - Mộc

Thủy sinh Mộc

+ Ngũ hành và Phòng bệnh

- Dựa vào Ngũ hành vận khí để biết được đặc điểm của bệnh tật từng năm để dự phòng.

Ví dụ: Năm Hỏa thái quá, bệnh sốt nhiệt nhiều, bệnh viêm nhiễm nhiều... cần tăng cường cách phòng chống nhiệt: ăn nhiều thức ăn mát, ở chỗ thoáng... Bổ các Thủy huyệt...

- Dựa vào màu sắc, khí, vị của thức ăn, mà biết người bị bệnh gì thì nên ăn hoặc kiêng ăn những thức ăn gì.

Ví dụ: Thận suy kém, không nên ăn thức ăn quá mặn, vì vị của Thận là vị mặn, mặn quá làm hại Thận. Không uống nước đá vì Nội Kinh ghi: "Thận ố Hàn - Thận ghét lạnh"...

+ Ngũ hành và Biện chứng

Dùng Ngũ hành, áp dụng vào từng trường hợp, từng sự việc để tìm ra mối quan hệ gây rối loạn dẫn đến xáo trộn bệnh lý. Công việc này đòi hỏi phải đào sâu vào từng hành, tìm ra những mối quan hệ giữa các rối loạn với các hành như thế nào về phương diện Y học cổ truyền lẫn Y học hiện đại. Nếu nắm được phương pháp lý luận biện chứng, sẽ giúp rất nhiều trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh.

BIỂU ĐỔ TỒNG KẾT QUY LOẠI NGŨ HÀNH

Tự nhiên

Ngũ hành

Phát triển

Phương

Thời gian

Mùa

Khí

Vị

Sắc

Tính

Quẻ

Số sinh

Số thành

Mộc

Sinh

Đông

Sáng

Xuân

Phong

Chua

Xanh (Lục)

Vặn vẹo thẳng

Tốn

3

8

Hỏa

Trưởng

Nam

Trưa

Hạ

Nhiệt

Đắng

Đỏ

Bốc lên

Ly

2

7

Thổ

Thay đổi

Trung ương

Giữa trưa

Tứ quý

Thấp

Ngọt

Vàng

Cấy gặt

Khôn

5

10

Kim

Thu

Tây

Chiều

Thu

Táo

Cay

Trắng

Thay đổi

Đoài

4

9

Thủy

Tàng

Bắc

Tối

Đông

Hàn

Mặn

Đen

Thấm xuống

Khảm

1

6

Cơ thể

Tạng

Phủ

Giác quan

Dư ra

Thể

Chí

Dịch

Biến động

Thanh

Âm

Chức

Cơ năng

Thích

Ghét

Ồ mắt

Ồ lưỡi

Can Mộc

Đởm

Mắt

Móng tay chân

Gân cơ

Giận

Nước mắt

Co quắp

Gọi

Giốc

Tướng quân

Vận động

Tỉnh

Rung động

Tròng đen

Rìa trái

Tâm Hỏa

Lưỡi

Tóc

Mạch máu

Mừng

Mồ hôi

Nhăn nhó

Nói

Quân chủ

Tuần hoàn

Mát

Nóng nẩy

2 khoé

Đầu lưỡi

Tỳ Thổ

Vị

Miệng

Da

Thịt

Lo

Nước miếng

Ọe

Hát

Cung

Cai kho

Tiêu hóa

Khô ráo

Ẩm ướt

2 mí

Giữa lưỡi

Phế Kim

Mũi

Lông mao

Da

Buồn

Nước mũi

Ho

Than

Thương

Quản trị

Hô hấp

Hoạt nhuận

Khô ráo

Tròng trắng

Rìa lưỡi

Thận thủy

B. quang

Tai

Răng

Xương

Sợ

Nước tiểu

Run

Rên

Sức mạnh

Bài tiết

Ôn

Lạnh

Con ngươi

Cuống lưỡi

(Thông báo Hán Nôm học 2009, tr.609-625)

Ngô Thế Lân
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm