54.Bút tích của Nguyễn Thuật (1842 – 1911) mới phát hiện ở Thanh Hóa (TBHNH 2002)
Thứ Sáu, 30/03/2007 07:51
TBHNH2002
HỒNG PHI – HƯƠNG NAOBan Hán Nôm – tỉnh Thanh Hoá Nguyễn Thuật là một danh nho người Quảng Nam, ông giữ các chức quan to trong triều đình nhà Nguyễn và được đánh giá là một nhà nho, một đại thần, có nhân cách cao đẹp(1). Trong thời gian giữ chức Tổng đốc Thanh Hoá, ông đã tỏ rõ sự quan tâm đến sự nghiệp giáo dục của địa phương đất rộng, người đông này, qua hành động viết sớ dâng lên vua, xin mở lại trường thi Hương cho tỉnh. Vì khoa thi năm Mậu Tý Đồng Khánh thứ 3 (1888), sĩ tử Thanh Hoá phải vào Nghệ An dự thi. Với lý do số thí sinh Thanh Hoá hàng năm đến hàng ngàn, phần nhiều nghèo túng, hay đau ốm, lại phải đi thi xa, nên ngày càng giảm sút, khiến: “Tương lai khó mà bù đắp được sự nghiệp học hành”. Sớ trình của ông được vua Thành Thái chấp nhận nên trường thi Thanh Hoá được mở lại. Để tỏ lòng biết ơn ông, nhân dân và sĩ phu xứ Thanh đã dựng bia, ghi lại nội dung tờ sớ. Tấm bia này hiện còn ở địa điểm gọi là Ngã Ba Bia, thuộc phường Trường Thi, thành phố Thanh Hoá. Sự nghiệp chủ yếu của Hà Đình Nguyễn Thuật là một số trước tác thơ, văn có giá trị như: Mỗi hoài ngâm thảo, Vãng sứ Thiên Tân nhật ký, Thời chính tạp biên(2), Hà Đình ứng chế thi sao, Hà Đình văn sao, Hà Đình văn tập(3), mà một số sách báo đã công bố. Vừa qua, trong mấy chuyến đến khảo sát khu thắng tích Kim Sơn, ở xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá(4), chúng tôi đã phát hiện thấy trên vách đá cao trong động Ngọc Kiều có một bài ký chữ Hán, của Hà Đình Nguyễn Thuật. Chúng tôi dập lại và xin dịch ra Việt ngữ bài ký này, để mong góp thêm phần bảo tồn và bổ sung vào số trước tác của danh nho Nguyễn Thuật, đồng thời cũng mong giới thiệu thêm một tác phẩm của ông với bạn đọc quê hương Quảng Nam cũng như cả nước(5) Phiên âm: TU NGỌC SƠN ĐỘNG KÝ Tự cổ, thiên bài địa thiết, chi thắng hữu bất gia nhân lực nhi cảnh trí cố tự công dã. Do phù sơn chung nhạc giáng chi sĩ hữu vị kinh phẩm đề nhi thanh giá cố tự tại dã. Nhiên ái sĩ giả nhẫn (?) kỳ tuyền thạch chung yên, nhi ái danh thắng giả nhẫn (?), kỳ tần phất yên nhi mạc bổ tạo hoá chi kỳ hồ? hựu đãi hồ kỳ nhân giả. Dư Đốc học Thanh Châu chi tứ niên sự giản nhật chi Bàn A Châu Phong ký (?) Chi cựu Quan Lan Sào, diệc cấu chi tân tiêu Hạ Đình diệc lạc dữ đề nhàn du chi chí dã. Ngọc Sơn động diệc nhĩ, kỳ thắng nhi khứ quận thành sao viễn nhất nhật tỉnh xu tòng thừa khinh giai thắng hữu vãng yên, chí bán dĩ tiểu đính khoa thâm đàm trảo động môn động chi trung lang hồ kỷ hữu dung như thiên gian chi đại hạ động chi (?) thuỷ tĩnh hồ kỳ vô chỉ như băng hồ chỉ trực tả trạo chàng nhi thạch chung hưởng. Đỉnh xuyến nhi sơn quan xạ gián dĩ ty trúc như quân thiên chi tấu hồ! Quảng Hàn chi dạ, động chi bàng khả trù khả thoán khả phong khả dũ, vãng tích y nhiên, nhược hữu tị thế giả thử giai thuỷ động chi kỳ tráng nan nhất nhất tả! Lục động: tác Thạch tỉnh thục khai, thạch ỷ thục toạ? Thạch khung thực tế? Thạch kiều thục giá?... Thần chuỳ quỷ tạc chi diệu! Cánh linh nhân đoạt mục nhi hãi tra. Hồi thị Bàn A Châu Phong hữu biệt nhất giai thắng dã! Mạnh Tử viết: “Ư Tề quốc chi sĩ ngô tắc dĩ Trọng Tử vi cự tích.” Dư diệc viết: “Ư Vĩnh Lộc chư sơn ngô tắc dĩ Ngọc Sơn (Kim Sơn) động vĩ đại quan. Hồ công vi hạ luận dã! Thả sơn động khai ư Lê mạt ngật kim bách hữu dư niên, nhi cựu chí bất đăng đề vịnh! Hãn cập gián hữu nhất nhị kỷ du chi tác yên nhĩ, kỳ ư nham quynh chi thắng khái động hác chi kỳ ảo, tiễn năng biểu nhi xuất chi? Cận nhật, hoạn du kỷ bất tri kỳ hữu Ngọc Sơn động giả. Sơn do như thử, huống ư kỳ tài khôi hạnh ẩn ư nham a luân ư thảo trạch tri chi nhi tưởng bạt giả dịch thuỳ hồ? Dư ư tư du cánh hữu sở cảm dã. Nãi quyên phí ngân trình tượng công biến động nhi tiêu yết chi, hoạch ngạn nhi giai cấp chi, ngoan thạch nhi sàng kỷ chi, kỳ vi chi tu trị nhi danh kỳ bàng chủ động, tắc đổng du tiền Thanh Niệt Thiện Lan Nguyễn sứ quân dã. Nguyễn sứ quân hữu thắng tình cùng dung bất dĩ, ư sơn thuỷ chi ngoại biệt hữu ngộ hồ, thị dư vọng dã: Y! Thiên nhi nhân chi, ninh phi hiếu vi kỳ lao hồ! Nhiên bất thiên bất nhân bất thức thế sự đại đô như thử. Tư sơn câu dư kỳ hữu đãi hồ? Vô đãi hồ ? Kỳ vô đãi nhi hữu đãi hồ? Ký dư chi thuỷ tu dĩ thọ vu thạch văn tắc Giáo dụ Lê giải nguyên Đoài Trạch thảo chi, nhi dư nhuận nhi. (Thái tử Thiếu bảo Hiệp biện Đại học sĩ lĩnh Thanh Hoá Tổng đốc Hà Đình Nguyễn thư Thuật lặc. Thành Thái Nhâm Thìn, thu trọng).Tam dịch nghĩa: BÀI KÝ VỀ VIỆC TRÙNG TU ĐỘNG Ở KIM SƠN Từ xưa, trời bày đất đặt ra bao thắng cảnh. Có những cái đâu phải nhờ sức người mà vẫn thấy vô cùng khéo léo! cũng giống như bao kẻ sĩ tài năng do trời hun đất đúc, chưa từng có gì gọi là phẩm đề, thế mà thanh danh phẩm giá vẫn ung dung tự tại! Thế nhưng, kẻ ân sĩ vẫn thuỷ chung cùng tuyền thạch (nguồn sâu suối đá) và những kẻ yêu thích danh lam thắm cảnh nỡ nào để cho những danh lam thắng cảnh đó hoang lương vắng vẻ, mà không điểm xuyết cho cảnh trí của tạo hoá thêm kỳ ái ? Đó chính là chờ đợi ở con người! Ta bốn năm làm Đốc học Thanh Châu (Thanh Hoá), có lần đã đi thăm Bàn A châu phong cựu Quan Lan Sào (4), xây dựng lại Hạ Đình bị mất đi cũng là để làm vui cho những người thích đi du ngoạn. Đối với Ngọc Sơn (Kim Sơn) cũng thế. Kỳ quan này cách quận thành khá xa. Có một hôm người coi giữ ngựa của tỉnh chèo thuyền nhẹ đưa đi thăm danh thắng này. Đến nơi lại thay bằng thuyền nhỏ, vượt qua đầm sâu vào cửa động. Trong động có một chỗ thênh thang như ngôi nhà nghìn gian rộng lớn, nước trong lặng không chút gợn nhỏ, tuôn ra như một băng hồ. Khua chèo thì tiếng chuông đá âm vang. Thuyền xuyên qua thì thấy ánh sáng bắn lên tung tóe, nghe vang vọng như tiếng tơ tiếng trúc, khác gì bản hoà tấu trên chốn quân thiên? Bên cạnh động tựa như chốn Quảng Hàn trong đêm. Nơi thì có chỗ giống như bếp núc nấu nướng. Nơi thì như phòng ở, có cửa sổ, dường như tích của những kẻ tránh đời thuở xưa? Đó là những cái kỳ tráng của Thuỷ động, khó mà từng cái, từng cái mô tả hết được! Trong sáu động thì giếng đá ai khơi? Ghế đá ai ngồi? Khoảng trống ai che? Cầu đá ai bắc? Quả là nhờ cái khéo của thần dùi quỉ tạc, khiến con người trông thấy mà kinh dị! Nhìn lại thì cảnh Bàn A Châu phong có khác, nhưng cũng là một giai thắng! Mạnh Tử nói: Những kẻ sĩ ở nước Tề thì ta coi Quản Trọng là cánh tay đắc lực! Ta cũng nói: Tất cả núi non ở đất Vĩnh Lộc thì ta cũng coi Kim Sơn là một đại kỳ quan. Động Hồ Công (5) chưa đủ thời giờ rỗi mà bàn luận đến. Vả lại Sơn động đã mở ra từ thời Lê mạt, đến nay đã hơn một trăm năm có lẻ, mà cựu chí không hề đăng tải đề vịnh? Giá thử một vài thế kỷ sau, những sáng tác của du khách, những thắng cảnh của núi non, những kỳ quan của khe động, ít có điều kiện để diễn đạt, mô tả ra cho hết! Gần đây, mấy ai trong các vị hoạn du biết nơi này có hang động Ngọc Sơn? Núi non còn như thế, huống những bậc kỳ tài, khôi hạnh ẩn dật nơi chốn sơn lâm, đắm chìm trong đầm cỏ, thì ai là người biết mà tưởng nhớ tới? Ta đi du ngoạn lần này, cái mà ta cảm nhận được là như vậy! Bèn quyên góp tiền bạc, nhờ thợ khắc biển, đặt tên động mà tiêu yết lên. Còn vạch bờ tạo thềm bậc, lấy đá cứng mà làm ghế ngồi, tu sửa lại mà đặt tên cho từng động, thì do những người đồng du trước kia như Thanh niết Thiện Lan Nguyễn Sứ quân, có chút thắng tình sâu nặng, ngoài tình sơn thủy, một ngày nào đó có được duyên kỳ ngộ chăng? Đó là niềm hy vọng của ta! Ôi! Trời mà cũng là ta! Đâu phải là việc làm phí sức? Thế nhưng, không có trời đâu phải do không có người? Kẻ không biết việc đời đại bộ phận là như vậy! Núi non này bắt buộc ta phải có sự chờ đợi, hay không chờ đợi? Thực ra không đợi mà có sự đợi chờ, để ta bắt đầu sửa sang cho tuổi thọ của những động này còn mãi mãi ghi trên vách đá. Văn thì do Giáo dụ Lê giải nguyên Đoài Trạch soạn thảo, mà ta là người nhuận bút.(Thái tử Thiếu bảo Hiệp biện Đại học sĩ Tổng đốc Thanh Hoá Hà Đình Nguyễn Thuật viết và khắc. Tháng 8 năm Nhâm Thìn, triều Thành Thái (1892).Chú thích: (1) Tiểu sử nhân vật Nguyễn Vĩnh Tu chưa tra cứu rõ. Nhưng căn cứ vào bút tích ở Kim Sơn, thì có thể ông là người trong Hoàng tộc, triều Tự Đức đã dẫn một số triều thần về bái yết tổ tiên nhà Nguyễn ở Gia Miêu (huyện Hà Trung, Thanh Hoá), rồi đến Kim Sơn vãn cảnh, đề thơ để lại.(2) Tạp chí Hán Nôm, số 4 (53) – 2002, tr. 70 – 72.(3) Lê Đoái Trạch người xã Thụy Liên, huyện Hoàng Hoá, tỉnh Thanh Hoá, đỗ giải nguyên khoa thi Hương năm Kỷ Mão, triều Tự Đức (1879).(4) Khu thắng tích ở xã Thiệu Khánh, huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá, có núi Bàn A và Quan Lan Sào là: Nơi ngồi ngắm sóng do Hoàng giáp Ngô Thì Sĩ (1726 – 1780) xây dựng trong thời gian ông nhậm chức ở Thanh Hoá.(5) Động Hồ Công ở xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hoá bây giờ. Vua Lê Thánh Tông (1442 – 1497) đã đến nơi này vãn cảnh, đề thơ và ca ngợi là động đẹp nhất trong 36 động ở phương Nam.Chú thích: Nguyễn Quang Thắng, Nguyễn Bá Thế – Từ điển nhân vật lịch sử VN – Nhà XB Khoa học xã hội 1992 – tr. 652, 653. Tạp chí xưa và nay số 118 ( 6 – 2002) tr, 39.Trần Văn Giáp (chủ biên) – Lược truyện các tác gia Việt Nam – Tập I – Nhà XB Khoa học xã hội Hà Nội 1976 – Tr 457.Quốc Chấn – Bí ẩn về khu thắng tích Kim Sơn – Văn hoá văn nghệ công an – Số 8 – 2002 . Tr 40 – 44.Chúng tôi vừa sưu tầm được một bài thơ chữ Hán, thể Đường luật của Hà Đình Nguyễn Thuật đề danh thắng Kim Sơn, chép trong cuốn Thanh Hoá kí thắng bản chữ Hán chép tay của Hoàng Mậu và Lê Bá Đằng, năm Thanh Thái 15 (1903), mới được phát hiện, xin sẽ giới thiệu sau.Thông báo Hán Nôm học 2002, tr.444-449
|