VI | EN
57. Tấm bia thần đạo về Thượng thư họ Dương do Nguyễn Nghiễm soạn (TBHN 2008)
(TBHN 2008)

TẤM BIA THẦN ĐẠO VỀ THƯỢNG THƯ HỌ DƯƠNG DO
NGUYỄN NGHIỄM SOẠN

NGUYỄN KIM MĂNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Trong chuyến công tác về thôn Ngọc, xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, chúng tôi được các cụ họ Dương dẫn đến tham quan khu lăng mộ của Thượng thư Dương Công Thụ. Ngôi lăng mộ được người trong họ xây cất khang trang, trên mộ gắn một tấm bia lớn, nhan đề: Gia Lâm huyện, Lạc Đạo xã phụng sự Thượng thư Dương công thần đạo bi ký(1) phần lạc khoản ghi rõ bia do Xuân quận công Nguyễn Nghiễm soạn(2). Ngoài ra tư liệu về Dương Công Thụ đã được tác giả của bài viết này đề cập đến trong bài Vị Trạng nguyên đời Mạc và các vị khoa bảng họ Dương(3) theo gia phả của dòng họ cho biết họ Dương ở Lạc Đạo là dòng họ có truyền thống khoa bảng cha con, anh em cùng đăng khoa, trong đó Dương Công Thụ là một trong 7 Tiến sỹ của dòng họ này. Còn các sách như Đăng khoa lục, hay Đại Nam Kinh Bắc trấn, Lạc Đạo xã, Dương thị thế phả ký(4), hoặc Dương thị gia phả(5) chỉ nhắc đến với vài dòng sơ lược, trong đó cho biết ông đỗ Đồng Tiến sỹ khoa Tân Hợi (1731), niên hiệu Vĩnh Khánh đời Lê. Giữ chức Tả thị lang Bộ Lại, tặng là Thượng Thư, tước Đạo quận công.

Xét thấy, đây là một tấm bia quý cung cấp cho chúng ta thêm nhiều thông tin về vị Tiến sĩ, quan Thượng thư Dương Công Thụ, và cũng là tấm bia ghi lại bút tích của Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm một trong những tác gia của nền Nho học, ông là cha của thi hào Nguyễn Du. Chúng tôi xin giới thiệu phần chính văn của tấm bia để bạn đọc tham khảo.

BÀI KÝ TRÊN BIA THẦN ĐẠO

Bài ký trên bia thần đạo Thượng thư họ Dương do xã Lạc Đạo, huyện Gia Lâm phụng thờ. Sách Lễ ký(6) nói: “Cái quý nhất là có được đạo đức, sau đó mới nghĩ tới việc đền ơn đáp nghĩa, cái ơn dày mà mình đã làm”. Huống chi cái ơn đức mà cụ đã ban cho mọi người đâu phải như một cây chỉ có một quả, báo đền sao hết. Nay cụ họ Dương tên húy là Thụ, hiệu là Nhu Độn, được ban tên thụy là Ôn Nhã, người xã Lạc Đạo, huyện Gia Lâm.

Cụ là cháu của Trạng nguyên(7) đỗ Tiến sĩ khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh (1731). Tiếng tăm tốt đẹp của cụ vang dội khắp nơi, cụ được nhiều lần cất nhắc. Sau lên tới Kim tử Vinh lộc đại phu, chức Nhập thị bồi tụng Tả tư giảng, Hữu Thị lang Bộ Lại, kiêm Tư nghiệp Quốc tử giám, tước Đạo Phái bá. Cụ là người thân tín trong phủ, được phân giúp đỡ Thế tử học tập trau dồi. Văn chương đạo đức của cụ đứng hàng đầu một thời. Nhà nghèo mà trách nhiệm thì nặng, cụ càng thêm gắng gỏi chuyên cần. Cụ hưởng thọ mới có 58 tuổi. Triều đình bàn định, phong cụ chức Tả Thị lang Bộ Công, truy phong chức Thượng thư Bộ Công, tước Đạo Phái hầu. Cụ tính nho nhã đạm bạc, tiết tháo trong sạch. Khi còn sống, cụ đối đãi với mọi người hoà thuận, giải quyết ổn thoả mọi việc cãi vã hiềm nghi trong làng. Cụ sống thảnh thơi, vui hưởng tuổi trời. Khi có chuyện thù hận trộm cướp thì ngay từ khi mới manh nha cụ đã ra tay giải quyết, làm cho cả vùng nhờ cụ mà được yên ổn.

Cụ được triều đình ban lộc, nhưng vẫn giảm bớt chi tiêu, giúp đỡ nhân dân. Các bậc trưởng lão trong làng tìm thế đất đẹp, bàn dựng bia bên cạnh thần đạo lưu truyền mãi mãi để báo đền ơn đức. Thế rồi dân làng chọn đất lập đền thờ và hai bà phu nhân cũng được phối hưởng. Cụ vô cùng cảm kích và vui lòng nên ban thêm của cải để sau khi mất dân làng lấy dùng vào việc thờ phụng hương khói hàng năm. Nay cụ đã ra đi mà đền thờ cụ vẫn trang nghiêm, hương khói ngày ngày, cụ như vẫn còn hiển hiện nơi đây, anh linh của cụ không gì phải bàn cãi. Từ nay về sau dù vật đổi sao rời, mãi mãi đến vô cùng, cái đức của cụ cùng cái nghĩa của dân làng sẽ cùng trời.

Còn như ruộng tốt, tiền bạc mà cụ đã ban cho dân làng cùng việc cúng giỗ, tế lễ hàng năm xin khắc ở mặt sau bia(8). Vậy làm bài văn bia này.

Ngày tốt tháng 7 mùa thu niên hiệu Cảnh Hưng thứ 20 (1759).

Chính Tiến sỹ khoa Tân Hợi, giữ chức Nhập nội thị Bồi tụng Tả tư khấu Xuân Lĩnh hầu Nguyễn Nghiễm soạn.

Trong văn bia có nhắc tới thời kỳ cụ làm Tư nghiệp Quốc tử giám, được vào phủ dạy Thái tử, nên trong ngôi nhà thờ cụ tại xã Lạc Đạo vẫn còn đôi câu đối:

Công tại bang gia danh tại sử;

Sinh nhi sư phó tử nhi thần.

Tạm dịch:

Công đất nước ghi tên trong ghi sử;

Sống ngôi sư phó chết ngôi thần.

Hay: Vi đế vương sư vinh dĩ túc;

Hưởng thần nhân phúc vĩnh vô cùng.

Tạm dịch:

Làm thày vua chúa vinh quang đủ;

Hưởng phúc thần nhân mãi vô cùng.

Dương Công Thụ đỗ Tiến sỹ năm Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh (1731) đời Lê đế Duy Phường, trong giai đoạn đó có nhiều biến động về chính trị, đó vào ngày 15 tháng 8 năm Nhâm Tý (1732) Duy Phường bị chúa Trịnh là Trịnh Khương (tức Trịnh Giang) phế làm Hôn Đức công, tháng 9 năm Ất Mão (1735) Duy Phường bị giết. Theo như nội dung trong văn bia thì Dương Công Thụ rất được coi trọng, còn được mời làm thầy của Thế tử. Vì có nhiều công lao với triều đình, nên những người thân của cụ cũng được ban tặng sắc: Cụ Dương Công Hãn (là ông nội) được phong là Thừa chỉ; bà Trần Thị Phấn (là bà nội) tặng là Liệt phu nhân. Cụ Dương Công Hiển (là cha) được phong là Tự khanh, bà Lý Thị Loan (là mẹ) được phong là Liệt phu nhân; Cụ bà Trần Thị Lưu (là vợ cả) được ban là Phu nhân; cụ bà Trần Thị Ngao (là vợ lẽ) được ban là Tự phu nhân. Người con nuôi là Dương Công Tôn được phong là Hoằng tín đại phu. Bản thân Dương Công Thụ trước sau cũng được ban 20 đạo sắc, đây là nguồn tư liệu quý cho chúng ta hiểu thêm về cuộc đời, cũng như các chức vụ mà ông đã trải qua.

Xin lấy lời một trong bản sắc mà ông được ban làm lời kết. Tiến sỹ Dương Công Thụ xứng đáng là “danh hiền đất Bắc, hy vọng của trời Nam, lúc sống tiêu biểu ở chốn điện quế, công lớn thành tài, khi mất dấu tích linh thiêng còn lưu lại quê nhà, nơi từ đường nghi ngút thơm hương, cứu dân giúp nước, chính khí mãi cùng đất trời, nét đẹp còn lại với cổ kim(9)”. Tên tuổi ông được ghi trong bia Văn miếu để lưu danh muôn thuở. Tóm lại, với nhân cách và những cống hiến của mình ông xứng đáng được trân trọng và tôn thờ.

Chú thích:

1- Bia: Gia Lâm huyện, Lạc Đạo xã phụng sự Thượng thư Dương công thần đạo bi ký, kí hiệu N05262-5263 Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

2- Nguyễn Nghiễm: (1708-1775) người xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, là cha của Nguyễn Khản và Nguyễn Du. Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh thứ 3 (1731) đời Lê Duy Phường. Lúc đầu giữ chức quan văn trong triều, sau bổ chức Tham nhung vụ hiệp đồng tán lý, niên hiệu Cảnh Hưng Tân Dậu (1741) giữ chức Tham chính xứ Sơn Nam, năm 1743 thăng chức Hàn lâm thừa chỉ tước Xuân Lĩnh bá, năm 1746 thăng Hữu tham tri Bộ Công, tước Xuân Lĩnh hầu. (Theo Các nhà khoa bảng Việt Nam, Ngô Đức Thọ chủ biên, Nxb. Văn học, H.1993).

3- Nguyễn Kim Măng: Vị Trạng nguyên đời Mạc và các vị khoa bảng họ Dương, đăng trên Thông báo Hán Nôm học năm 2005, Nxb. KHXH, H. 2006.

4- Đại Nam Kinh Bắc trấn, Lạc Đạo xã, Dương thị thế phả ký: Kí hiệu A.1000 Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm do Dương Tri cháu 5 đời họ Dương ở Lạc Đạo biên tập, cháu 9 đời là Dương Doanh chép lại.

5- Dương thị gia phả: Do dòng họ cung cấp.

6- Lễ kí: Từ gọi chung ba bộ sách Nghi lễ, Chu lễLễ ký, đó là một trong những bộ sách kinh điển của Nho gia.

7- Tức Trạng nguyên Dương Phúc Tư là Thủy tổ khai khoa của dòng họ Dương trên đất Lạc Đạo. Dương Phúc Tư tên húy là Phúc Tư, tự Nhuận Phủ, hiệu là Nột Trai, đỗ Trạng nguyên năm Vĩnh Thịnh thứ 1 (1547).

8- Mặt 2 mang kí hiệu N05263 ghi về số ruộng do Tiến sỹ Dương Công Thụ đặt để chi dùng vào các ngày giỗ chạp của dòng họ, tiếp đó ghi đến các ngày lễ lớn của dòng họ Dương.

9- Sắc ban cho Dương Công Thụ vào niên hiệu Cảnh Thịnh năm 1796./.

Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.690-694

Nguyễn Kim Măng
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm