VI | EN
58. Hoàng giáp Nguyễn Đăng Sở và việc in kinh Phật (TBHN 2008)
(TBHN 2008)

HOÀNG GIÁP NGUYỄN ĐĂNG SỞ

VÀ VIỆC IN KINH PHẬT

ĐẠI ĐỨC THÍCH THIỆN MINH

Chùa Triệu Khánh quận Hoàng Mai, Hà Nội

Nguyễn Đăng Sở người làng Hương Triện huyện Gia Định trấn Kinh Bắc, nay là thôn Hương Triện xã Nhân Thắng huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh. Xuất thân trong một gia đình giầu truyền thống khoa bảng, ông nội của Hoàng giáp Nguyễn Đăng Sở là Nguyễn Đăng Giai thi đỗ Tiến sĩ năm 1721 làm quan đến Hàn lâm viện Đãi chế. Thuở nhỏ ông được giáo dưỡng rất nghiêm và học rất giỏi, thế nhưng thi cử lận đận mãi. Đến khoa Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống thứ 1 (1787) ông đã 34 tuổi mới thi đỗ Hoàng giáp. Thời nhà Lê, Hoàng giáp Nguyễn Đăng Sở được bổ giữ chức Hiệu lí học sĩ ở Viện Hàn lâm, tước Hương Lĩnh bá. Khi quân Tây Sơn kéo ra Bắc lật đổ chính quyền họ Trịnh, đánh tan quân Thanh xâm lược, Nguyễn Đăng Sở liền theo giúp vua Quang Trung, được triều đình bổ nhiệm làm Tả Thị lang bộ Lại và đóng góp sức lực rất nhiều cho vương triều mới. Đến khi nhà Tây Sơn mất, ông liền lui về quê ở ẩn, thường đi ngao du khắp nơi, đặc biệt thích đến các chùa ở Chí Linh, Thanh Hà, Thanh Lâm thuộc Hải Dương. Khi ở Hải Dương ông từng mở trường dạy chữ Hán, sĩ tử trong vùng đến theo học rất đông. Tại nhiều ngôi chùa nổi tiếng ở xứ Đông này, Nguyễn Đăng Sở đã giúp các sư thày ở bản tự viết văn bia ghi lại sự tích các tổ. Đặc biệt ông rất quan tâm đến việc in ấn Kinh sách. Mỗi khi có sư tăng đến mời ông viết cho lời tựa để khắc in lại Kinh Phật thì ông đều vui vẻ nhận lời. Hiện trong kho sách của Viện Hán Nôm còn lưu giữ được hàng chục bài tựa do ông viết. Năm 1810, ông viết bài tựa cho lần in lại sách Long Thư Tịnh độ. Tác phẩm Long Thư Tịnh độ do Tiến sĩ Vương Nhật Hưu đời Tống biên soạn. Tác giả đã lượm lặt các câu chuyện vãng sinh của các bậc thánh hiền đời xưa, nhằm hướng dẫn người đời làm theo điều thiện, trong sách chẳng có nhắc đến bài thơ của nhà nho đời Tống là Thiệu Khang Tiết.

Cái thằng tôi nói đến ngày xưa

Chính là kẻ ấy lúc bây giờ!

Chẳng biết con người tôi bây giờ

Thì là kẻ nào đó mai sau?

Hoàng giáp Nguyễn Đăng Sở rất tâm đắc với các câu chuyện vãng sinh ấy, nên đã dụng công đọc kĩ toàn bộ tác phẩm rồi viết thành bài tựa mới kêu gọi mọi người hướng thiện.

Nhận thấy đây là bài văn có ý nghĩa giáo dục rất lớn, chúng tôi xin dịch toàn bộ bài văn để giới thiệu trong Hội nghị Thông báo Hán Nôm lần này.

Toàn văn là:

BÀI TỰA KHI KHẮC IN LẠI SÁCH LONG THƯ TỊNH ĐỘ

Con người ta nếu không có lòng tin thì không biết làm thế nào cho phải. Tự mình đã không tin rồi thì sẽ không tin người khác, đến nỗi mọi việc đều không hoàn tất, rồi hối hận bởi vì không có lòng tin.

Ôi! Nói về phép Tịnh độ thì sao lại không tin tưởng được? Vậy phép Tịnh độ là cái gì? Đó chính là thế giới cực lạc ở Tây phương vậy. Bọn ta sinh ra ở châu Nam Thiệm Bộ, từ khi mới lọt lòng mẹ thì đã gào khóc rồi. Xem thế thì biết con người ta khi mới sinh ra đã cực khổ lắm rồi. Đến khi đã có đủ hình hài thì lại bị chết đi, hủy hoại cả tấm thân, thực khổ đau lắm. Lại nữa trong khoảng giữa chừng từ lúc sinh ra đến lúc chết đi con người phải chạy vạy kiếm ăn, ngày đêm vất vả tất bật mà có được no ấm gì đâu. Con người ta sống ở trong đời cùng lắm là một trăm năm mà cả đời phải chịu khốn khổ, nào có biết được thú vị cực lạc gì đâu. Hoặc có người vinh hoa phú quí, tuy ai đó có làm được đến chức quân sư của nhà vua thì vẫn phải lao tâm khổ tứ, có giờ phút nào được an nhàn đâu. Mặt khác, các thứ tội tình đói rét luôn luôn gây ra các thứ ưu sầu, chiến tranh loạn lạc lại khiến phải lo toan. Kẻ kém cỏi hơn một chút thì dẫm phải mũi tên hòn đạn nơi chiến trường, hoặc là lo giữ sổ sách giấy tờ, suốt đời trói mình trong vòng danh lợi, đâu có được cảnh vinh hoa mà đáng hâm mộ đâu. Lại có người mong được sống thanh cao, muốn gửi tấm thân ở nơi rừng hoang núi vắng, thế mà cánh chim hồng bay bổng ấy có lúc còn bị trói buộc, thì cái lợi danh phú quí kia có khi lại bị vướng vào bụi trần rồi, tiếng tăm rồi cũng biến thành cỏ cây gửi gắm nơi bụi trần. Huống hồ là có người lại muốn trồng cúc chăm tùng, nhặt vỏ chằm lại làm tường, lấy lá cây phủ lên làm mái, thế thì cảnh thanh cao ấy có gì đáng hâm mộ đâu. Chỉ có chư Phật chư Bồ Tát thực hành pháp xuất thế gian, khuyên con người ta nên tu theo Tịnh độ, pháp môn này rất dễ thực hành mà con người lại nhanh chóng được bước vào thế giới cực lạc. Vậy thì bọn ta tại sao lại không tin, bọn ta tại sao lại không tu theo.

Ông họ Vương ở Long Thư kia là người sống vào khoảng niên hiệu Thiệu Hưng nhà Tống, đã làm ra sách này, khuyên người ta nên tin theo, rồi làm ra sách này lưu truyền ở đời. Sách Long Thư Tịnh độ này phổ biến vào thời đó, đến thời nhà Tống lại cho in lại. Đến năm Sùng Trinh nhà Minh cuốn sách này được in lần thứ ba.

Ở nước ta từ niên hiệu Chính Hòa (1680-1705) bộ sách này đã được các tổ nhuận chính và cho khắc in, chữ nghĩa rõ ràng rất dễ xem. Thế nhưng trải qua năm tháng lâu dài chữ in không còn rõ nét nữa mà các thí chủ bỏ tiền ra khắc in lại, đến nay còn thiếu. Rất may là gần đây có nhà sư ở chùa Cao Xá đã đứng ra khuyến mộ cho khắc in lại rồi cho lưu hành ở đời. Đến mùa đông năm Kỉ Tị (1809) này Sở tôi đến dạy học ở tỉnh Hải Dương, nhân gặp nhà sư ở Viện Vô Tư. Nhà sư đưa cho tôi xem cuốn sách đó. Tôi nhìn kỹ nhà sư đoán phỏng chừng dưới 30 tuổi, nào ngờ ông đã 50 tuổi rồi, tính nết ôn nhã thuần hậu, nói năng ý tứ hàm súc, tôi đoán chừng hẳn là người đã đắc đạo rồi. Trong lúc trò chuyện nhà sư hẹn hò với Sở tôi rằng cùng nhau đi sang Tây phương Tịnh độ.

Tôi nghiên cứu cuốn sách này chừng hơn một tháng, bỗng nhiên thấy giác ngộ. Ôi! Tự tính A Di Đà, duy tâm Tịnh độ là thế, mà có mấy người gặp được đức Phật A Di Đà để mà xin sang Tây phương Tịnh độ được đâu. Cái chân tính lương tâm của tôi không thể nào che lấp được. Hàng ngày tôi niệm Phật A Di Đà thì cái tính sẽ dần thấy được. Trong khi thấy được chân tính thì thân mình tưởng tượng đang ở bên Tây phương Tịnh độ, thế thì cái tâm dần dần sẽ sáng tỏ. Từ xưa các bậc cao tăng thượng sĩ luyện tính tu tâm, đâu phải là tất cả những người ấy đều trở thành Phật, thành Bồ Tát được, mà chỉ có những người tự tìm về cõi Tịnh độ để thấy được đức Phật Như Lai mà không rơi vào vòng luân hồi sinh tử. Quả thật như vậy thì đức Phật có nói dối được đâu, bọn ta không thể không tin vào đó được.

Ôi! Kiếp phù sinh của con người cực kì ngắn ngủi, giả sử có đại phú đại quý rồi mà khi hơi thở tắt dừng thì chẳng còn thấy được điều gì nữa. Tuy rằng thân thiết như cha con, yêu quí như chồng vợ thì khi nhắm mắt xuôi tay sẽ vứt đi tất cả, chẳng bằng khi còn đương sống hãy chăm chỉ niệm Phật mười tiếng thì ngày khác sẽ gặp được Phật, sẽ được Phật cứu giúp, đồng thời lại có thể siêu độ được cho tất cả thân bằng cố hữu, anh em cha mẹ, thảy đều đến được tòa liên hoa cửu phẩm.

Vậy thì chúng ta ai nấy nên gắng gỏi thêm. Thượng tuần tháng 2 năm Canh Ngọ (1810). Tiến sĩ khoa Đinh Mùi là Nguyễn Đăng Sở kính cẩn ghi lại./.

Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.695-699

Tì Khiêu Thích Thiện Minh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm