VI | EN
58. Nhóm bia ghi về ruộng đất mang chữ húy đời Trần ở Ninh Bình (TBHNH 2012)
58. Nhóm bia ghi về ruộng đất mang chữ húy đời Trần ở Ninh Bình (TBHNH 2012)

NHÓM BIA GHI VỀ RUỘNG ĐẤT

MANG CHỮ HÚY ĐỜI TRẦN Ở NINH BÌNH

NGUYỄN KIM MĂNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Qua kết quả khảo sát hơn 800 thác bản văn bia tỉnh Ninh Bình, chúng tôi tìm được 5 văn bia có nội dung thuần túy ghi chép về ruộng đất. Tuy vậy, về niên đại có 3 trong số 5 văn bia không ghi niên đại, 1 bia ghi năm Can chi, 1 bia phần ghi niên đại bị mờ mòn, nhưng điều khiến tác giả quan tâm là nhóm bia này đều mang chữ húy đặc trưng của thời Trần.

Thác bản số 1, kí hiệu N0 29110: bia được khắc bên trái của tấm bia Dục Thúy sơn Linh Tế tháp kí (N0 29094) vách đá núi Dục Thúy, thành phố Ninh Bình. Kích thước khắc trên một khung chữ nhật thước 80 x 40cm, toàn bộ văn bản khoảng 300 chữ. Mặt đá không xù xì, bị vỡ mất một phần, nét chữ sâu, viết vuông vắn chân phương, gồm 11 dòng x 32 chữ/1 dòng, không có tiêu đề.

Thác bản số 2, kí hiệu N0 29113: bia được khắc bên dưới của Dục Thúy sơn Linh Tế tháp kí (N0 29094), vách đá núi Dục Thúy, thành phố Ninh Bình. Bia được đặt trong khung chữ nhật cao 80 x 60cm, toàn bộ văn bia khoảng 500 chữ. Mặt đá không nhẵn, có nhiều chỗ rỗ tự nhiên, chữ khắc liên tục nhưng các nét không đều nhau, nhiều đoạn bị mờ mòn, có một số dòng khắc xít vào nhau, đoạn cuối chữ viết to hơn. Văn bản không có tiêu đề, lạc khoản cho biết khắc vào niên đại can chi Quí Hợi.

Thác bản số 3, kí hiệu N0 29097: bia khắc bên phải sát với Dục Thúy sơn Linh Tế tháp kí (N0 29094) vách đá núi Dục Thúy, thành phố Ninh Bình. Bia đặt trong khung chữ nhật cao 160 x 120cm, toàn bộ văn bia khoảng 1300 chữ, mặt đá nhẵn, có nhiều vết nứt tự nhiên. Chữ khắc nhiều quẵng bỏ trống, cỡ chữ to nhỏ không đều. Tiêu đề được khắc to rõ ràng 施 濟 病 田 碑/ Thí tế bệnh điền bi.

Thác bản số 4, kí hiệu N0 29109: bia được khắc phía dưới của Dục Thúy sơn Linh Tế tháp kí (N0 29094) vách đá núi Dục Thúy, thành phố Ninh Bình. Văn bản được chia thành 3 phần, phần đầu ghi nội dung về ruộng đất có niên đại [](1) Trị can chi Ất Tị, phần giữa khắc bài thơ của Hiệp thạch Phạm Sư Mạnh, phần cuối ghi ruộng đất có niên hiệu Thiệu Trị thứ 8 (1848). Cả ba phần được khắc trong khung chữ nhật cao 120 x 120cm, khoảng 500 chữ, mặt đá mặt xù xì nhiều chỗ lồi lõm.

Thác bản số 5, kí hiệu N0 33099: được khắc trên vách đá chùa Kim Cương, thôn Áng Sơn, xã Ninh Hòa, huyện Hoa Lư, kích thước 40 x 25cm, không trang trí hoa văn, 4 dòng gồm 62 chữ, văn bản không có tiêu đề.

Một vài nhận xét bước đầu

+ Về chữ húy: nội dung của nhóm 5 văn bản này chỉ đơn thuần ghi chép về ruộng đất được cúng vào hai ngôi chùa lớn của Ninh Bình vào thời Trần là Sơn Thủy và Kim Cương, điểm chung của chúng là không ghi niên đại. Qua khảo sát kĩ nội dung của nhóm văn bản trên, chúng tôi phát hiện chúng đều mang chữ kiêng húy thời Trần. Đó là trường hợp chữ/Nguyệt được viết bớt nét, chúng xuất hiện 8 lần ở 4 các bản.

Kí hiệu bia

Tự dạng thứ 1

Tự dạng thứ 2

Tự dạng thứ 3

 

N0 29113

 

姊 都 刘 非 施 田 在 朝 洞.

初 五 日.

乙 丑 年 十 十 五 日 銘.

 

 

N0 29109

初 一 日

戊 申 年 三 三十日 施

 

N0 33099

 

 

癸 亥 二 日 施 金 剛 寺

Chữ húy nguyệt do Trần Anh Tông ban vào niên hiệu Hưng Long năm Kỉ Hợi (1290) với mục đích kiêng húy của Thiện Đạo Quốc mẫu Phu nhân của Khâm Minh vương Trần Liễu tên thật là Lí Thị Nguyệt. Trong văn bia chữ nguyệt thường được dùng để ghi lại thời điểm tạo tác, nên tần số xuất hiện rất lớn. "Nếu những chữ đó viết bớt nét (như chữ nguyệt, nam) hoặc bớt nét thêm vòng tròn nhỏ (như thừa, tô) thì đó là đặc điểm rất riêng biệt và đáng tin cậy để xác định niên đại thời Trần của văn bản.

Trường hợp chữ / Bính, tần số xuất hiện của chúng tương đối nhiều, vì chúng được dùng để ghi gianh giới giữa các thửa ruộng. Ví dụ: 丙 近 山 北 近 小 路.

Kí hiệu bia

N0 29110

N0 29113

N0 29097

N0 33099

Số lần

xuất hiện

6

7

21

1

Theo Ngô Đức Thọ "chữ /nam theo lệ kiêng húy đời Trần, ngoài cách viết bớt nét mà chúng ta đã biết, còn được kiêng húy bằng cách dùng chữ đồng nghĩa /Bính để thay thế”. Cũng như chữ nguyệt, chúng ta có thêm một đặc điểm để nhận diện các văn bản đời Trần được khắc từ 1290- 1395.

+ Về hình thức sở hữu ruộng đất: nội dung chủ yếu của nhóm bia này ghi lại việc cúng ruộng vào chùa Non Nước và chùa Kim Cương trong nhiều thời điểm khác nhau. Hình thức sở hữu ruộng đất cũng khác nhau, phổ biến nhất là hình thức sở hữu tư nhân như:

- Ruộng của thân tộc và các viên chức trong bộ máy nhà nước nhà Trần: loại ruộng này chiếm phần lớn, chúng được thể hiện qua việc ghi tên và chức tước của người cúng như: Thục bà Nguyên phi cúng 9 mẫu tại kênh Cá Lãm, làng A Câu.

Huệ Thục Công chúa Nam liệt hầu Thăng (), tự hiệu hầu Trần Nha con gái Huệ Nhân, Đại chính tôn Trần A Ngọc Viện cúng vào chùa Thủy Sơn, Đại Long và Trụ trì Đức Thiệu thủ khán làm tăng môn, lưu truyền không dứt (N0 29120).

Hay Nhập nội Thiếu bảo Trường Yên, Tông cơ trứ cước Tử quần phương phùng lập tụng Trương Hiếu Thuần, người ở vườn trầu cau trong kinh thành cúng 5 mẫu tại đội 7 (N0 29097).

Ruộng của các sư tăng: Tì khưu ni Đức Vân ở chùa này cúng 1 sào ruộng chữa bệnh ở động Kim Cương (N0 29097).

Đức Thông trụ trì chùa Sơn Thủy cúng 2 mẫu ruộng ở hương Ngôi (N0 29113).

Ruộng của người dân: loại ruộng này chiếm tỷ lệ khá lớn, nhưng chúng được chia nhỏ thành nhiều chủ sở hữu. Ví dụ: Tu Phúc bà cúng đất 1 mẫu làm của Tam bảo. Tổng Nhân cư sĩ và Chính Tính bà cùng em gái là Thiện Đức cúng ruộng 1 mẫu 6 sào (N0 29097).

Phạm Thị Khả Đãi tự Ngộ Duyên bà người xã Lê Xá lộ Trường Yên cúng ruộng 2 mẫu ở động Đa Mai (N0 29113).

Ruộng đất thuộc sở hữu nhà chùa: như chúng ta được biết ruộng của nhà chùa phần lớn là ruộng Tam bảo, sau đó đến ruộng gửi giỗ. Trong bài viết này chúng tôi xin đề cập đến loại “Tế bệnh điền/ruộng chữa bệnh”. Ruộng được cúng vào chùa thường có chức năng cung cấp đèn nhang, nhưng ở các văn bản N0 29113; N0 29097 và N0 33099 có nhắc tới “ruộng cúng vào chùa để chữa bệnh”, mặc dù chúng vẫn là ruộng công của chùa nhưng lại có thêm một chức năng riêng biệt là dùng để chữa bệnh. Toàn bộ văn bản N0 29097 có tiêu đề là Thí tế bệnh điền bi 施 濟 病 田 碑/ Bia ghi về việc cúng ruộng chữa bệnh. Tổng số ruộng cúng lên tới 24 mẫu, ruộng này do nhiều người thuộc các tầng lớp khác nhau trong xã hội cúng, như vậy đủ cho thấy ở chùa Non Nước vào thời điểm này đã có một tổ chức y tế khá lớn, chùa có nguồn thu để chữa bệnh riêng và có lẽ các sư tăng là đội ngũ thầy thuốc chính. Việc đóng góp ruộng để chữa bệnh thời Trần chỉ thấy để cập đến hai ngôi chùa đó là Non Nước và Kim Cương mà thôi.

+ Việc mua bán và sử dụng đất trong nhà chùa:

Nhóm văn bia này cũng cho ta biết thêm về hiện tượng mua bán và sử dụng ruộng đất tư ở thời này, quan lại, sư sãi hoặc dân chúng đều có thể mua bán ruộng. Ruộng thường trụ tiền Tam bảo 210 quan mua đứt ruộng của Tống Chương tại đội thứ 2, động Pha, xã Vân 1 thửa 3 mẫu (N0 29097).

+ Về địa danh và chức tước thời Trần xuất hiện trong văn bia:

Địa danh thời Trần thật phức tạp và ít ỏi. Nhiều cuốn sách nghiên cứu về địa lí đã dụng công đi sâu tìm hiểu nhưng phần lớn đều lấy nguồn tư liệu của đời sau. Địa danh hành chính đời Trần được đề cập thường ở phạm vi rộng như lộ, phủ, địa danh ở phạm vi nhỏ hẹp ít được để cập đến. Trong các văn bản trên, chúng cung cấp cho ta nhiều địa danh thời Trần ở Ninh Bình nói riêng và cả nước nói chung như:

天 長 路 嘉 鄉 巨 了 社/Xã Cự Liễu, hương Gia, lộ Thiên Trường (N0 29110), là một lộ có tên từ cuối đời Lý, cuối thời Trần đổi gọi là lộ Thiên Trường, nay thuộc tỉnh Nam Định.

建 昌 府 太 堂 宮/Cung Thái Đường, phủ Kiến Xương (N0 29110).

在 河 陽 鄉 伯 侯 □□□□□□并 室 內 户 阮 永 貞 有 田 在 清 化 府/Bá hầu và vợ người hương Hà Dương, […] cùng Nội hộ Nguyễn Vĩnh Trinh có ruộng ở phủ Thanh Hóa (N0 29113), có tên từ cuối đời Lý, tức đất Ái Châu thời Đinh Lê, cuối thời Trần, Hồ Quí Li gọi là trấn Thanh Đô, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa.

在 長 安 路 黎 舍 社 范 氏 可 待/ Phạm Thị Khả Đãi người xã Lê Xá lộ Trường Yên (N0 29113).

在 應 豐 路 虫 立 个 低 社 天 長 翰 林 書 火 勇 首 武 量/ Thiên Trường Hàn lâm thư Hỏa dũng thủ Vũ Lượng, người xã Cá Đê, hương Trùng? Lập, lộ Ứng Phong (N0 29097). Sử chép rằng vua Trần Thái Tông cho đổi 24 lộ đời Lý làm 12 lộ, nhưng thứ tự các lộ không được ghi chép rõ ràng. Và đến cuối đời Trần số phủ, lộ được tạm ấn định ở con số 20 trong số đó không có lộ Ứng Phong, phải chăng đây là một lộ của thời Trần nữa mà chúng ta không được biết.

大 黃 路 盎 社 金 剛 洞/Động Kim Cương, xã Đại Áng, lộ Đại Hoàng (N0 29109).

長 安 路 多 稼 社/ Xã Đa Giá, lộ Trường An (N0 29109), nay thuộc tỉnh Ninh Bình.

Trong các văn bản xuất hiện một số ngôi chùa nổi tiếng thời Trần ở Ninh Bình đó là: chùa Kim Cương金 剛 寺, chùa Sơn Thủy山 水 寺và chùa Đại Long大 龍 寺, đặc biệt có nhắc đến chợ Kim Chú/金 昼 市(N0 29097).

Chức tước được xuất hiện khá nhiều trong văn bản như: Thượng phẩm/上 品;Hỏa tri/火 知; Á thượng phẩm/亞 上,Bá hầu/伯 侯;Hỏa đầu tu/火 頭 須;Hỏa dũng thủ/火 勇,Sung nghi /充 儀

Với những cứ liệu về chữ kiêng húy, về địa danh, chức tước và cách hành văn chúng tôi xếp những văn này thuộc nhóm văn bia thời Trần theo các khung niên đại sau:

Các bản N0 29110; N0 29097; N0 33099 đều có chung niên đại từ 1290 -1395, bởi lẽ đó là thời điểm chữ kiêng húy Nguyệt, chữ Nam ban hành và có hiệu lực.

N0 29113 có niên đại từ 1325 - 1385, bởi lẽ trong khoảng thời gian các chữ húy có hiệu lực, nhà Trần có 2 năm Ất Sửu. Năm Ất Sửu thứ nhất thuộc đời vua Trần Minh Tông, niên hiệu Khai Thái thứ 2 (1325), năm Ất Sửu thứ hai thuộc đời vua Trần Phế Đế, niên hiệu Xương Phù thứ 9 (1385).

N0 29109: bia có ghi niên đại nhưng chỉ đọc được chữ niên đại thứ 2 đó là chữ /Trị, theo niên biểu nhà Trần có 2 năm Ất Tỵ. Năm Ất Tỵ thứ nhất thuộc đời vua Trần Thái Tông, niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình thứ 14 (1245). Năm Ất Tỵ thứ hai thuộc đời vua Trần Dụ Tông, niên hiệu Đại Trị thứ 8 (1365). Quan điểm chúng tôi thiên về niên hiệu Đại Trị thứ 8 (1365) bởi lẽ phần lớn các văn bản ruộng đất trên đều được khắc vào cuối đời Trần.

Văn bia do tính bền vững của chất liệu nên được lưu truyền lâu dài, nó được ví như “những trang sử đá” muôn đời trường cửu và xưa nay luôn được xem là nguồn sử liệu chính xác bổ sung cho nguồn tư liệu chính sử. Nhóm văn bia này hi vọng phần nào cung cấp thêm tư liệu cho các nhà nghiên cứu thời Trần - một thời kì còn ít sử liệu.

 

Chú thích:

(1). Chữ bị mờ không đọc được.

(Thông báo Hán Nôm học 2012, tr.465-472)

Nguyễn Kim Măng
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm