VI | EN
59. Học xá điền thổ bi ký - Tấm bia đề cập đến việc dựng trường dân lập và đặt học điền sớm nhất ở nước ta (TBHN 2008)
(TBHN 2008)

HỌC XÁ ĐIỀN THỔ BI KÝ TẤM BIA ĐỀ CẬP ĐẾN VIỆC DỰNG TRƯỜNG DÂN LẬP VÀ ĐẶT HỌC ĐIỀN SỚM NHẤT Ở NƯỚC TA

NGUYỄN HỮU MÙI

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Ở nông thôn nước ta trước đây có một nền giáo dục Nho học tồn tại bên cạnh hệ thống trường lớp do nhà nước thiết lập từ cấp phủ huyện trở lên. Người dân tại các địa phương trong cả nước, tùy theo điều kiện, hoàn cảnh ở từng nơi mà tạo các chính sách khuyến học khác nhau, trong đó có xây dựng trường lớp và đặt học điền. Tuy nhiên, việc dựng trường và đặt học điền sớm nhất ở nước ta phản ánh qua tư liệu thành văn vào thời điểm nào là điều chưa ai đề cập đến.

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi xác định tấm văn bia Học Xá điền thổ bi ký là tư liệu sớm nhất đề cập đến vấn đề này. Đó là văn bia đặt tại Văn chỉ chung cho hai xã Văn Trưng và Lăng Trưng của huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Yên (nay là thôn Văn Trưng và Vĩnh Trưng thuộc xã Tứ Trưng huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc). Thác bản của văn bia do Học viện Viễn đông Bác cổ Pháp (EFEO) in rập trước đây, hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, mang ký hiệu N014252-14253. Văn bia gồm 2 mặt, kích cỡ vào loại lớn, rộng 74cm, cao 120cm, khắc chữ Hán và trang trí hoa văn trên một mặt phẳng của bia, có đủ 3 thành phần cùng tham gia tạo tác văn bản, là người soạn, người viết chữ và người khắc chữ.

Mặt trước, trán bia chạm đôi rồng chầu mặt nguyệt, xung quanh có mây nổi. Tiếp đến là dòng tiêu đề chính, khắc hàng ngang, gồm 6 chữ lớn: Học Xá điền thổ bi ký = Bia ghi đặt ruộng đất trường học. Diềm thân bia và chân bia khắc hoa văn thực vật, với những nét chạm mềm mại, tinh tế. Lòng bia, ngoài tiêu đề phụ, ghi đủ 6 chữ như tiêu đề chính, khắc tổng cộng 23 dòng, ước khoảng 700 chữ. Chữ khắc ở đây chân phương, rõ ràng và còn gần như nguyên vẹn. Niên đại của văn bia đặt tại mặt này ghi dòng chữ: Hoàng triều Chính Hoà vạn vạn niên, tuế đại Nhâm Ngọ, mạnh xuân, cốc nhật. Tức bia được dựng vào ngày tốt, tháng 1, năm Nhâm Ngọ (1702) đời vua Chính Hoà (1680 - 1705).

Mặt sau, trang trí hoa văn tương tự như mặt trước, chỉ khác ở dòng tiêu đề, khắc bằng dòng chữ Tập thiện tính danh bi ký = Bia ghi họ tên các vị thiện tín góp ruộng đất cho trường học. Mặt này khắc 28 dòng, ước khoảng 2000 chữ, chữ ở đây bị mờ mất nhiều chỗ, bởi chất lượng bản rập thác bản chưa cao.

Nội dung văn bia ghi nhận: Trường học là để bồi dưỡng giáo dục nhân tài, học điền là để ngụ ý tôn sùng đạo làm thầy, bởi người mà không học thì lấy gì để mở mang thông minh mà làm phương tiến đức? Học mà không có ruộng đất thì lấy gì để ưu đãi sư nho mà bày tỏ ý trọng đạo? Nay mừng văn vận quốc gia hanh thông, nhân tài thịnh vượng, trong triều thiết lập nhà Giám để đào luyện anh tài trong nước, ngoài nội tạo dựng phủ học để dưỡng dục người tài trong quận ấp. Đặt thầy giỏi để rèn dũa việc dạy bảo, cấp học bổng để hậu đãi lương bổng. Đó là sự sùng chuộng chính học, tác thành nhân tài lớn lao vậy". Xuất phát từ nhận thức đó, mọi người trên dưới già trẻ của xã Văn Trưng và Lăng Trưng bàn bạc: "Làng ta là nơi văn vật, sinh ra nhân tài ở đây, chẳng phải không nhiều, người ham chuộng thi thư ở đây, không phải là ít, nhưng trường học của làng chưa dựng, giáo pháp còn thô sơ, e rằng việc học sẽ do từng hộ khởi phát, triệt đường tiến bước, dường như chẳng phải là để dẫn dụ hậu học, chấn tác văn phong". Do vậy, mọi người trong hai xã " không hẹp hòi gia sản, quyên góp ruộng đất, cộng được 37 thửa, với tổng số 4 mẫu 7 sào 5 thước. Trong đó trích 3 sào đất lưu làm trường học, còn 4 mẫu 4 sào 5 thước lưu đặt làm học điền".

Qua đoạn tư liệu vừa dẫn, chúng ta thấy vào năm 1702, tức đầu thế kỷ XVIII, hai xã Văn Trưng và Lăng Trưng huyện Bạch Hạc phủ Tam Đới trấn Sơn Tây đã liên kết với nhau để xây dựng một ngôi trường lấy làm nơi cho con em họ học tập. Quy mô của ngôi trường này không thấy đề cập trong văn bia nhưng về sau, căn cứ vào văn bia Tăng tập hương học bi ký cho biết ngôi trường thường xuyên được duy tu, nâng cấp, đến năm Tự Đức thứ 4 (1851), chỉnh sửa thành 10 gian, vẫn lấy làm nơi cho con em của hai xã học tập(1). Còn số học điền thì đã rõ.

Việc hai xã góp công sức xây dựng chung một ngôi trường giúp con em mình có nơi học tập cũng như đặt học điền để nuôi dưỡng thầy dạy duy trì trong suốt một thời gian dài gắn với nền giáo dục khoa cử đang thịnh hành chính là nhân tố quan trọng tạo cho nơi đây trở thành làng văn hiến, với nhiều người đỗ đạt khoa trường. Theo thống kê của chúng tôi trong cuốn Tam xã đăng khoa lục(2), cả hai xã có 401 người đỗ ở ba hạng đại khoa, trung khoa và tiểu khoa, đã nói lên điều đó.

Như vậy, theo nghiên cứu của chúng tôi, cách đây trên ba thế kỷ, ở hai làng thuộc xứ Đoài, nơi có điều kiện kinh tế, văn hóa, khoa cử phát triển gắn với câu ca "Nhất Tam Đới nhì Khoái Châu" đã xây dựng một ngôi trường dân lập và đặt học điền đầu tiên ở nước ta phản ánh qua văn bia. Từ đây trở đi, việc xây dựng trường lớp dân lập cũng như đặt học điền xuất hiện ngày một nhiều ở vùng đồng Bắc Bộ của nước ta.

Dưới đây chúng tôi công bố nguyên văn bản dịch của tấm văn bia này để bạn đọc cùng tham khảo.

Phiên âm:HỌC XÁ ĐIỀN THỔ BI KÝ

Thường văn: Học hiệu giả sở dĩ vi dưỡng dục nhân tài, học điền giả sở hữu ngụ tôn sùng sư đạo, cái nhân nhi phi học tắc hà dĩ khải phát thông minh nhi vi tiến đức chi phương; học nhi vô điền tắc hà dĩ ưu dưỡng sư nho nhi biểu trọng đạo chi ý tai! Khánh kim quốc gia văn vận thái hanh, nhân tài đỉnh thịnh, nội tiết trụ Giám dĩ chung thiên hạ chi anh tài, ngoại thiết phủ học dĩ dục quận ấp chi tuấn ngạn. Trí chi minh sư dĩ đôn kỳ giáo; tích chi học điền dĩ hậu kỳ lộc, kỳ sùng thượng chính học, tác thành nhân tài giả chí hỹ. Sĩ sinh tư thế trù bất cảnh ngưỡng huy phong, bồi thực tư đạo, dĩ đáp sùng văn chi hưu tai?

Quyến tư: Văn Trưng, Lăng Trưng xã tập thiện đẳng chư công, dĩ đạo học chi chân Nho, tục tư văn chi chính mạch; hữu thân bồi ngọc điện, nga trãi quán nhi mật tiếp thanh quang; hữu chính thí quận phù, dưỡng bằng phiên nhi cao bác vân hán, tiềm du ư Phán thủy giả; hữu thốn ngưu chi chí, tiệm tiến ư huỳnh xá giả, giai thổ phượng chi tài. Khoa mục tương vọng, y quan hách dịch, đích tẫn thị tây phương chi hào kiệt dã. Nãi ư phần hương yên hạ tương dữ nghị viết: “Ngô hương văn vật chi hương dã, nhân tài chi sản ư tư giả, phi bất đa, thi thư chi thượng ư tư giả phi bất đốc đệ, dĩ đảng tường vị thiết, giáo pháp thượng sơ, khủng hoặc học giả hộ dũ tự khai, triệt đồ sậu sính, đãi phi sở dĩ dụ tiến hậu học, chấn tác văn phong giả dã. Viên tư cận gia sản, quyên xuất thổ điền, cộng đắc tam thập thất sở, cộng tính tứ mẫu thất cao ngũ xích. Kỳ thổ tam cao lưu trí dĩ vi học xá, điền tứ mẫu tứ cao ngũ xích nhiệm thủ dĩ vi học điền, sử vi giáo giả đắc cung lẫm cấp ư chuyên ý nhi huấn nhân, vi học giả đắc hữu y quy nhi lưu tâm ư tu nghiệp vu tư chi thời. Sư đạo tôn nghiêm, học đồ sâm tập, xuân phong thượng tòa, thái nhiên thần khải phát chi cơ cổ, tứ thăng đường; ái nhiên hữu tòng du chi lạc nhĩ, đề diện mệnh. Thám thánh hiền chi khổn áo, thần thụ tâm dự đắc đạo thống chi uyên nguyên, tương kiến đạo học thịnh hành, hiền tài bối xuất. Nhân Tắc Khiết nhi hương Trâu Lỗ, gia Khổng Mạnh nhi hộ Trình Chu. Chí chi văn chương, tắc túc dĩ bổ trường xà, khu hổ báo, đê Khuất Tống ư hạ phong; phát chí khoa cử, tắc túc dĩ khôi long bảng, chiếm ngao đầu, chính Âu Tô chi cao đệ. Dĩ thị vi nhi triều đường chi sự nghiệp; dĩ thị nhi kiến xã tắc chi quy mô. Chí [] Nghiêu, Thuấn, tề thế Đường, Ngu, điện hoàng đồ ư Thái sơn bàn thạch chi an. Thố thiên hạ ư kim thành thang trì chi cố. Học chi hữu ích ư nhân, quốc gia dã. Như thử phù sự, toại khắc vu thạch dĩ thọ tư văn chi truyền, vân vu thử chi thời hiến trưng quảng [] chi nhân, văn giả hứng khởi, diệc đồng tập yên.

Hoàng triều Chính Hòa vạn vạn niên tuế tại Nhâm Ngọ mạnh xuân cốc nhật.

Quốc phủ nội văn chức nhất phiên, Mậu lâm tá lang, Quốc Oai phủ Tri phủ, Bạch Hạc, Văn Trưng Nguyễn chuyết, soạn .

Bính Dần khoa thí trúng Thư toán, Ất Hợi niên, sung Quốc Oai phủ Đề lại, Thanh Lâm, Trác Châu Phạm Công Phương, tả.

Thạch công Đông Sơn huyện Yên Hoạch xã Lê Văn Lý; Bạch Hạc huyện Lũng Ngoại xã Nguyễn Hưng An, khắc.

Dịch nghĩa: BIA GHI ĐẶT RUỘNG ĐẤT TRƯỜNG HỌC

Thường nghe: Trường học là để bồi dưỡng giáo dục nhân tài, học điền là để ngụ ý tôn sùng đạo làm thầy, bởi người mà không học thì lấy gì để mở mang thông minh mà làm phương tiến đức? Học mà không có ruộng đất thì lấy gì để ưu đãi sư nho mà bày tỏ ý trọng đạo? Nay mừng văn vận quốc gia hanh thông, nhân tài thịnh vượng, trong triều thiết lập nhà Giám để đào luyện anh tài trong nước, ngoài nội tạo dựng phủ học để dưỡng dục người tài trong quận ấp. Đặt thầy giỏi để rèn dũa việc dạy bảo; cấp học bổng là để hậu đãi việc lương bổng. Đó là sự sùng chuộng chính học, tác thành nhân tài lớn lao vậy. Kẻ sĩ sinh ở đời này không ai không ngẩng trông cảnh đẹp, vun đắp tư đạo, để đền đáp sự tốt lành ở việc sùng chuộng văn học.

Nay nghĩ: Hai xã Văn Trưng và Lăng Trưng tập hợp mọi người thiện tín, lấy chân nho đạo học để nối tiếp chính mạch tư văn. Có thân thương đùm bọc, giúp đỡ nhau nơi làng xóm, mới tiếp nhận hào quang; có chính học thi tài ở quận huyện, nuôi dưỡng cánh chim bằng, mới bay liệng trên cao, tiềm du vào phán thủy(3); có tỏ chí khí nuốt trâu, dần bước vào huỳnh xá, đều sẽ trổ tài nhả phượng. Khoa mục luôn trọng vọng, mũ áo giúp xênh sang, tất thảy là do hào kiệt ở phía tây(4). Thế rồi mọi người trên dưới già trẻ trong làng bàn bạc với nhau rằng: “Làng ta là nơi văn vật, sinh ra nhân tài ở đây, chẳng phải không nhiều, người ham chuộng thi thư ở đây, không phải là ít, nhưng trường học của làng chưa dựng, giáo pháp còn thô sơ, e rằng việc học sẽ do từng hộ khởi phát, triệt đường tiến bước, dường như chẳng phải là để dẫn dụ hậu học, chấn tác văn phong”. Nay bèn cùng nhau không hẹp hòi gia sản, quyên góp ruộng đất, cộng được 37 thửa, với tổng số 4 mẫu 7 sào 5 thước. Trong đó trích 3 sào đất lưu đặt làm trường học, còn 4 mẫu 4 sào 5 thước lưu làm học điền, khiến người dạy được cấp thóc để chuyên tâm vào việc dạy dỗ học trò, còn người học thì có chỗ dựa lưu tâm tu nghiệp. Thời nay đạo người thầy tôn nghiêm, người đi học đông đúc, trên tòa xuân phong, thần thái phấn chấn tạo cơ phát triển, cùng bước vào học đường, giữ niềm hòa nhã yên vui, mà tỏ tài thi thố. Tìm nghĩa lý sâu sắc của thánh hiền, trong lòng thanh thản, tiếp thu ngọn nguồn của đạo thống, sẽ thấy được đạo học thịnh hành, hiền tài nối nhau xuất hiện. Người giỏi như Tắc, Tiết(5), làng như Trâu, Lỗ(6), nhà như họ Khổng, họ Mạnh(7), họ sẽ như Trình, Chu(8). Ban phát văn chương ắt để bắt trường xà, đuổi hổ báo, xứng danh là môn đệ của Khuất, Tống(9); phát khoa cử, sẽ đủ để đoạt bảng rồng, chiếm đầu ngao(10), hẳn là khoa đệ như Âu, Tô(11). Lấy đó để giúp sự nghiệp cho miếu đường, tạo quy mô cho xã tắc. Giúp nước đạt thịnh trị như thời Nghiêu, Thuấn(12), bước lên cõi Đường, Ngu(13), củng cố điện nhà vua vững chãi như bàn đá Thái Sơn, phù thành trì nước nhà vững vàng kiên cố. Học có ích cho mình, với cả quốc gia. Công việc như thế bèn khắc vào đá truyền cho tư văn, cho người ở đây và ở mọi nơi biết để hứng khởi, tập hợp cùng nhau làm điều thiện vậy.

Dựng bia ngày tốt, tháng 1, năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Hoàng triều Chính Hòa vạn vạn niên (1702).

Quốc phủ nội văn chức, Mậu lâm tá lang, Tri phủ phủ Quốc Oai, họ Nguyễn, người xã Văn Trưng huyện Bạch Hạc, soạn.

Thi đỗ Thư toán khoa Bính Dần, năm Ất Hợi được sung làm Đề lại phủ Quốc Oai, là Nguyễn Công Phương, người xã Trác Châu huyện Thanh Lâm, viết chữ.

Thợ đá người xã Yên Hoạch huyện Đông Sơn, là Lê Văn Lý, hiệp với thợ đá xã Lũng Ngoại huyện Bạch Hạc, là Nguyễn Hưng An, cùng nhau khắc chữ.

(Mặt sau của văn bia ghi họ tên người đặt ruộng đất, tổng cộng 33 thửa dùng vào dựng trường và đặt học điền, bản dịch của mặt bia này xin không đề cập đến).

Chú thích:

(1) Tạo năm Tự Đức thứ 4 (1851), ở Văn chỉ xã Văn Trưng. N014250-14251.

(2) Tam xã đăng khoa lục: do nhà nghiên cứu Đặng Xuân Vĩnh công bố, in trong cuốn Tứ Trưng quê tôi. Nxb. Văn học, 2008.

(3) Phán thủy: còn gọi bằng các tên như phán cung, huỳnh xá, huỳnh vũ, học xá đều chỉ là nơi trường học thời xưa ở Trung Quốc.

(4) Hào kiệt ở phía tây: tức chỉ địa điểm của hai xã Văn Trưng và Lăng Trưng huyện Bạch Hạc nằm về phía tây của kinh thành Thăng Long.

(5) Tắc, Tiết: tức Hậu Tắc và Tiết là hai vị hiền thần thời vua Thuấn ỏ Trung Hoa.

(6) Trâu, Lỗ: tức ấp Trâu, quê hương của Khổng Tử (551 TCN - 479 TCN) và ấp Lỗ, quê hương của Mạnh Tử (372 TCN - 289 TCN).

(7) Họ Khổng, họ Mạnh: tức Khổng Tử và Mạnh Tử.

(8) Trình, Chu: tức Trình Hạo, Trình Di và Trình Hy, là ba nhà đại nho đời Tống, tham gia chú giải kinh truyện, người đời sau coi đây là học phái Trình Chu.

(9) Khuất, Tống: tức Khuất Nguyên và Tống Ngọc, đều người nước Sở thời Chiến quốc, rất giỏi về từ phú, là bậc thầy cho các nhà từ phú về sau.

(10) Chiếm đầu ngao: ngao là loài rùa lớn sống ở biển ghi trong truyền thuyết Trung Hoa. Khoa cử thời xưa chỉ người đỗ Trạng nguyên là chiếm đầu ngao.

(11) Âu, Tô: tức Âu Dương Tu và Tô Đông Pha, hai vị danh nho khoa bảng đời Tống.

(12) Nghiêu, Thuấn: tức Đế Nghiêu và Đế Thuấn là hai vị vua lý tưởng trị vì hai triều đại thượng cổ ở Trung Hoa.

(13) Đường, Ngu: Đường là tên triều đại trị vì của Đế Nghiêu, Ngu là triều đại trị vì của Đế Thuấn. Sử sách Trung Hoa cũng như Việt Nam thường nhắc đến Nghiêu, Thuấn, nhằm chỉ hai vị vua anh minh, trị vì hai triều đại Đường, Ngu mang lại hạnh phúc ấm no cho dân./.

Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.700-707

Nguyễn Hữu Mùi
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm