VI | EN
6. Bộ CƯU ĐÀI THI TẬP (A.2132) có phải của Nguyễn Húc? (TBHNH 2005)
TBHNH 2005

BỘ CƯU ĐÀI THI TẬP (A.2132) CÓ PHẢI CỦA NGUYỄN HÚC ?

PHẠM VĂN ÁNH

Viện Văn học

Nguyễn Húc (, ? - ?) là tác giả quen thuộc trong văn học Trung đại Việt Nam. Tác phẩm của ông sớm được ghi lại trong Trích diễm thi tập (1497), bộ tuyển tập thơ ca do tác giả Hoàng Đức Lương () biên soạn. Các tuyển tập, tổng tập thơ ca xuất hiện sau đó như: Toàn Việt thi lục (1768), Hoàng Việt thi tuyển (1788), Lịch triều hiến chương loại chí (1819), đều giới thiệu về Nguyễn Húc và các tác phẩm của ông. Thời hiện đại, Nguyễn Húc tiếp tục được quan tâm nghiên cứu, tác phẩm của ông được dịch, giới thiệu rộng rãi qua nhiều sách vở, tài liệu, trong đó có các bộ lịch sử văn học, hợp tuyển văn học, tổng tập văn học(1)… Trong nhận thức chung, Nguyễn Húc được coi là cây bút đĩnh đạc, trước tác phong phú về thể loại, là nhà thơ phong cách độc đáo, có vị trí khá quan trọng trong lịch sử văn học. Sở dĩ Nguyễn Húc được đánh giá cao như vậy là do ông còn để lại bộ Cưu đài thi tập (鳩 苔 詩 集. Văn bản lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu: A.2132).

Như là một sự mặc nhận rằng Cưu đài thi tập là của Nguyễn Húc nên lâu nay, việc nghiên cứu, giới thiệu về Nguyễn Húc cũng như các tác phẩm của ông thường được thực hiện qua khai thác trực tiếp các trước tác trong bộ Cưu đài thi tập A.2132 song đáng tiếc vẫn chưa hề có sự giám định kỹ càng về văn bản. Ngay như nhà thư mục học Trần Văn Giáp trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm Việt Nam khi giới thiệu về Nguyễn Húc và Cưu đài thi tập cũng chỉ cho biết một vài thông tin sơ lược về tác giả và tác phẩm. Đề cập đến bộ Cưu đài thi tập A. 2132, thông tin do ông cung cấp được khai thác trực tiếp từ phần đầu sách này chứ không phân tích, đánh giá về văn bản(2).

Lần tìm lại các sách xưa, ta thấy ngay trong Kiến văn tiểu lục (1777) của Lê Quý Đôn, nhân nói về Trích diễm thi tập đã cho biết: “Trích diễm thi tập chọn nhặt văn thơ đĩnh đặc cao siêu của tiền bối về triều nhà Trần và hồi Lê sơ… Trong thi tập có chép đến các tập… Tố cầm tập 素 琴 集của Vũ Quỳnh 武 瓊, Cưu đài tập của Nguyễn Húc về bản triều. Những sách kể trên nay đều không còn”(3).

Ta đều biết Lê Quý Đôn là học giả uyên bác, rất dụng công trong việc sưu tầm các thư tịch cổ. Một khi ông khẳng định Cưu đài tập của Nguyễn Húc đã mất thì đó là ý kiến đáng được lưu tâm. Và vì vậy, sự xuất hiện trở lại của tập sách mang tên Cưu đài thi tập (A.2132) sau này cần được xem xét một cách thật cẩn trọng, đặc biệt cần minh xác về tính chân ngụy của nó trước khi tiến hành các thao tác khác. Đơn giản bởi lẽ, khi vấn đề văn bản tác phẩm chưa sáng tỏ thì mọi sự phân tích, đánh giá về nó, rồi đi đến các nhận định về các vấn đề khác cơ hồ chưa đủ thuyết phục người đọc, nếu không muốn nói là không đáng tin cậy.

CƯU ĐÀI THI TẬP (A.2132) KHÔNG PHẢI CỦA NGUYỄN HÚC

1. Bố cục tập sách

Cưu đài thi tập A.2132 hiện còn là bản chép tay, không ghi niên đại, không ghi tên người chép, có đóng dấu của Viễn Đông bác cổ Pháp, dày 77 trang.

Bố cục tập sách gồm các phần:

- Phần mở đầu: Phần này cho biết: “Cưu đài thi tập gồm 1 quyển - Nguyễn Húc soạn. Húc tự là Di Tân 夤 賓, hiệu là Cúc Trang 菊 莊, người ở Kệ Sơn, Đông Triều [nay là thôn Cậy Sơn, xã Hoành Sơn, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương]. Làm quan đến chức Tri phủ”.

Dòng giới thiệu tác giả với với các thông tin như trên không sai khác đáng kể so với các sách xưa, chẳng hạn với Toàn Việt thi lục (A.1262/5): “Nguyễn Húc tên tự là Di Tân, hiệu là Cúc Trang, người ở Kệ Sơn, Đông Triều, làm quan đến chức Tri phủ. Có Cưu đài tập”, thậm chí hoàn toàn giống ghi chép của Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí (VHv.1541/3).

- Tự tựa: Đây là một bài tựa ngắn của tác giả, cho biết ông học theo các bậc thánh hiền xưa như Khổng Tử, Lão Tử, Tư Mã Thiên, “vì thế nên nhân công việc nhàn rỗi mà có tình ý ở việc ngâm vịnh”, rồi tập hợp thành sách, “dành khi công việc nhà rỗi thì xem chơi, để di dưỡng cái tính tình”. Phần cuối ghi rõ: “Cúc Trang chủ nhân làm bài tựa vào tháng Hai, mùa xuân năm Kỷ Dậu, năm thứ 2 niên hiệu Thuận Thiên (1429)”. Bài tự tựa là nguồn quan trọng để bổ sung thêm những thông tin vốn rất sơ lược về tác giả Nguyễn Húc.

- Mục lục: Phần này ghi thứ mục các thể loại song cách ghi có phần cẩu thả và không thống nhất. Phần ca dao ghi “Ca dao điệu tứ thiên” (調- Điệu ca dao 4 bài, thực tế có 5 bài), phần thập sách thi ghi “Thập sách tứ” ( - Thập sách 4, lẽ ra chí ít phải chép là “Thập sách thi tứ thiên ”); các phần còn lại chỉ ghi tên thể loại mà không ghi rõ số lượng. Riêng thể thơ thất ngôn cổ thể, từ và khúc không được liệt kê cùng các thể loại khác, sau mới được chép bổ sung bằng chữ nhỏ lên phía trên (Phần từ và khúc được chép liền nhau là “từ khúc” trong khi đó phần nguyên văn chép phần từ gồm 31 bài rồi đến phần khúc 9 bài; từ riêng, khúc riêng, phân biệt rạch ròi).

- Chính văn: Gồm các bài thuộc các thể loại khác nhau: Ca dao điệu 5 bài (Mục lục ghi là 4 bài), ngũ ngôn cổ 6 bài, thập sách thi 4 bài, thất ngôn cổ 12 bài, ngũ ngôn luật 31 bài, thất ngôn luật 40 bài (sau phần này còn có phụ lục những câu thơ lẻ tẻ trong 12 bài khác, được gọi chung là “Phụ lục thặng cú 附 錄 剩 句), ngũ ngôn tuyệt 2 bài, thất ngôn tuyệt 13 bài, từ 31 bài, khúc 9 bài. Không tính các câu lẻ tẻ trong phần “Phụ lục thặng cú”, tổng số các tác phẩm trong bộ Cưu đài thi tập A.2132 gồm: 153 bài.

Ngoài ra, rải rác từ đầu tác phẩm cho đến bài cuối cùng còn có 58 lời bình.

2. Những nghi vấn về văn bản và gợi mở bước đầu về tác giả đích thực của Cưu đài thi tập A.2132

- Con số 153 đơn vị tác phẩm tuy đã khá dày dặn song không phải toàn bộ trước tác của tác giả Cưu đài thi tập A.2132(4). Thêm nữa tập sách rất phong phú về thể loại. Đặc biệt còn có các thể loại như ca dao, từ, khúc, vốn rất ít xuất hiện trong văn học Trung đại Việt Nam. Chẳng hạn như thể loại từ, xuất hiện rất sớm với bài từ điệu Nguyễn lang quy 阮 郎 歸của sư Khuông Việt, sáng tác năm 987. Tuy thể loại này đến thời Nguyễn vẫn được một số tác giả sáng tác, song sơ khảo tiến trình phát triển của nó, tư liệu hiện còn cho thấy, thể loại từ ở Việt Nam khởi đầu từ Khuông Việt, vắng bóng qua các thời Lý, Trần, Hồ; thế kỷ XVI trở đi mới dần dần xuất hiện trở lại. Trong khi đó Cưu đài thi tập của Nguyễn Húc thời Lê sơ, thế kỷ XV, lại có đến 31 bài với 25 điệu(4). Từ điệu chuẩn xác, bút pháp điêu luyện, điều đó có phần lạ và độc đáo. Đối với thể loại từ trong văn học Việt Nam, đây là bước phát triển đột biến.

- Các sách xưa sớm ghi chép về tác phẩm của Nguyễn Húc, song số lượng không nhiều.

Trích diễm thi tập ghi lại được 5 bài tứ tuyệt: Sơn thôn khiển hoài 山 村 遣 懷, Ký Nam Hoa xử sĩ 寄 南華 處 士, Chu quá Động Quan cảng 舟 過 洞 官 港, Nguyệt Sơn kiều dạ bạc月 山 橋夜 泊 Nguyên nhật du Triệu Khánh tự 元 日 遊 肇 慶 寺.

Toàn Việt thi lục ghi 6 bài tứ tuyệt: Du Trung Nghĩa am 遊 忠 義 庵, Sơn thôn khiển hoài, Nguyệt Sơn kiều dạ bạc, Ký Nam Hoa xử sĩ, Nguyên nhật du Triệu khánh tự và bài Chu quá Cầu Quan cảng 舟 過 求 官 港 .

Hoàng Việt thi tuyển chép lại được 2 bài thơ tứ tuyệt: Du Trung Tiết am Sơn thôn khiển hoài.

Lịch triều hiến chương loại chí ghi lại duy nhất một bài tứ tuyệt: Khiển hoài 遣 懷.

Các bài: Sơn thôn khiển hoàiKhiển hoài, Du Trung Tiết amDu Trung Nghĩa am, Chu quá Động Quan cảngChu quá Cầu Quan cảng tuy đầu đề có sai khác nhất định, song nội dung giống nhau.

Như vậy, qua các sách trên, các tác phẩm của Nguyễn Húc xuất hiện trong Trích diễm thi tập, Hoàng Việt thi tuyển, Lịch triều hiến chương loại chí đều không vượt ra ngoài con số 6 bài của Toàn Việt thi lục. Chỉ vẻn vẹn 6 bài tứ tuyệt, một con số có phần khiêm tốn so với các trước tác trong bộ Cưu đài thi tập A.2132 (153 bài). Dung lượng, sự phong phú về thể loại, giá trị về nội dung và nghệ thuật của Cưu đài thi tập A.2132 tạo ra hấp lực to lớn đối với các nhà nghiên cứu. Vì vậy, Nguyễn Húc với tư cách một tác gia văn học cũng như vị trí của ông trong văn học sử, về cơ bản được phác họa trên chính tập Cưu đài này, mà ít nhà nghiên cứu chú ý khai thác 6 bài thơ tứ tuyệt của ông hiện còn trong các nguồn tư liệu khả tín trên đây(5).

Các tác giả từ Hoàng Đức Lương đến Lê Quý Đôn trong khi giới thiệu sơ lược về hành trạng Nguyễn Húc đều cho biết Nguyễn Húc có tập Cưu đài. Sau đó trích tác phẩm của ông. Đến Toàn Việt thi lục, số lượng tác phẩm của Nguyễn Húc được giới thiệu nhiều nhất, gồm 6 bài tứ tuyệt. Như vậy rất có khả năng 6 bài này chính là tác phẩm được rút ra từ tập Cưu đài. Thế nhưng khi đối chiếu vào Cưu đài thi tập A.2132 hiện còn, trong tổng số 13 bài tứ tuyệt, không hề có mặt bất cứ một bài nào trong số 6 bài đã nêu.

- Trong phần lời tựa tập thơ, tác giả viết rằng ông: “nhân công việc nhàn rỗi mà có tình ý ở việc ngâm vịnh”. Thế nhưng khi đọc kỹ tập sách, các địa danh được nhắc đến lạ thay tuyệt đối không có một địa danh nào ở Việt Nam, hết thảy đều thuộc về Trung Quốc.

- Các địa danh mà tập sách nhắc tới dao động trong phạm vi một số tỉnh của Trung Quốc, song tập trung với tần số lớn nhất là các địa danh thuộc tỉnh Giang Tô 江 蘇, như: Chùa Linh Nham 靈 岩 寺, hồ Chấn Trạch 震 澤 湖, gò Hổ 虎 丘, thành Thạch Đầu 石 頭 城, hòn Yến Tử 燕 子 磯, hồ Triều Thiên 朝 天 湖… Kết quả khảo sát các địa danh được đề cập trong tác phẩm khiến ta băn khoăn, phải chăng Nguyễn Húc có sang Trung Quốc, dành nhiều thời gian du ngoạn ở các địa danh trên và có thi tập viết về thời gian ở đó?

Các nhân danh được nhắc đến trong tập sách không nhiều, trong số đó chít ít ta biết có một người ở Mân Trung, Trung Quốc, đó là Kha Bá Cao (柯 伯 高, nhắc đến 1 lần, trong bài Tống Mân trung Kha Bá Cao (送 閩- Tiễn Kha Bá Cao ở Mân Trung). Ngoài ra tập sách có nhắc đến một số nhân vật nữa như: Lục Tử Linh Trường (陸 子 靈 長, 1 lần), Tử Định (子定, 2 lần), Triển Thành (展 成, 22 lần)…

Trong các nhân vật, Triển Thành là nhân vật được tác giả nhắc đến nhiều lần nhất. Có 22 bài trực tiếp nhắc đến ông, đồng thời ông được tác giả dành cho những tình cảm đặc biệt, với các đề bài như: Mộ thu ký hoài Triển Thành (暮 秋 寄 懷 展 成- Cuối thu gửi nỗi nhớ Triển Thành), Thu dạ bệnh trung hoài Triển Thành (秋 夜 病 中 懷 展 成- Đêm thu đương ốm nhớ Triển Thành), Xuân vãn ức Triển Thành (春 晚 憶 展 成- Chiều xuân nhớ Triển Thành)… Có tới 14 bài họa vần thơ Triển Thành, như: Dạ sầu thứ Triển Thành (夜 愁 次展 成 - Đêm sầu làm theo vần thơ Triển Thành), Ức Tây Tử hồ thứ Triển Thành vận (憶 西 子 湖 次 展 成- Nhớ hồ Tây Tử làm thơ theo vần thơ Triển Thành), Nguyệt hạ thứ Triển Thành vận (月 下 次 展 成- Dưới trăng làm theo vần thơ Triển Thành), v.v và v.v… Những điều này chứng tỏ tác giả và Triển Thành có quan hệ rất mật thiết. Nếu ta biết được hành trạng của Triển Thành thì hẳn sẽ sáng tỏ được nhiều điều thú vị. Vậy rốt cục Triển Thành là nhân vật như thế nào ?

- Các sách xưa xếp chung Nguyễn Húc với các thi gia đời Lê: Trích diễm thi tập xếp ông sau Vũ Quỳnh (武 瓊, thế kỷ XV), trước Đàm Văn Lễ 覃 文 禮, (1452-1505), Hoàng Đức Lương (thế kỷ XV); Toàn Việt thi lục xếp ông sau Hoàng Đức Lương, Trần Cảnh 陳 景, trước Phùng Thạc 馮 碩. Hoàng Việt thi tuyển xếp ông sau Trần Cảnh, trước Phùng Thạc. Còn Lịch triều hiến chương loại chí thì xếp tác phẩm của ông sau Vũ Quỳnh (tác giả của Tố cầm tập), trước Lương Như Hộc [梁 如 鵠, thế kỷ XV, tác giả củaCổ kim chế từ tập 古 今 制 詞 集]…

Qua các sách, cách sắp xếp tuy không hoàn toàn thống nhất song đủ cho ta biết Nguyễn Húc sống vào khoảng đầu thời Lê, thế kỷ XV.

Thế nhưng trong tập Cưu đài thi tập A.2132, sau phần thơ thất ngôn bát cú có phần phụ lục các câu thơ tha (Phụ lục thặng cú). Phần này chép các câu thơ lẻ tẻ thuộc 11 bài khác nhau. Trong các bài ấy, có bài mang tiêu đề là: Điếu Tiểu Thanh 弔 小 青.

Ta biết rằng, Tiểu Thanh 小 青là nhân vật cuối thời Minh, mất năm Nhâm Tí, niên hiệu Vạn Lịch năm thứ 40 (1612) khi mới 18 tuổi(6). Câu chuyện về người con gái tài hoa bạc mệnh này sau gợi cảm hứng sáng tác cho rất nhiều tác giả. Ta không đi sâu vào khía cạnh đó, chỉ biết rằng tác giả Nguyễn Húc là người sống vào thế kỷ thứ XV, làm sao có thể làm thơ điếu nàng Tiểu Thanh đáng thương của thế kỷ XVII được!

- Rải rác từ phần đầu đến bài cuối cùng trong Cưu đài thi tập có tất cả 58 lời bình. Lời bình sau bài từ Nguyệt dạ ức Triển Thành thứ Phong vũ ký ức vận (月 夜 憶 展 成 次 風 雨 寄 憶 韻 - Đêm trăng nhớ Triển Thành, họa vần bài Phong vũ ký ức) điệu “Mãn đình phương” (滿) ghi: “Tấm lòng của cố nhân vẫn đấy nhưng người mang tấm lòng xưa chẳng còn thấy đâu. Mỗi khi ngâm ngợi, lặng thầm mà thương nhớ”. Căn cứ vào nội dung và cách xưng hô của trong các lời bình, có thể phỏng đoán người viết các lời bình là một trong số những người bạn của tác giả tập sách và lời bình viết sau khi tác giả đã qua đời. Lời bình ngắn nhất chỉ có 2 chữ, như: “Đại nhã 大 雅” (lời bình sau bài Khuê hạ 閨 夏- Mùa hè nơi khuê phòng), “Tuyệt bút 絕 筆” (lời bình sau bài Mộ lâu khổ vũ 暮 樓 苦 雨 - Lầu chiều khổ vì mưa ); lời bình dài có khi lên đến mấy hàng như lời bình sau bài Phụ bệnh (婦 病- Vợ ốm).

Vậy 58 lời bình này cung cấp những thông tin gì?

* Các lời bình 13 lần cho biết tác giả của những bài trong Cưu đài thi tập hiện còn là Khanh Mưu . Như: “… Khanh Mưu lại có câu thơ: Nhân đồng cao thụ tĩnh/ Sơn xuất viễn thiên dư (Người cùng cây cao tĩnh lặng / Núi vươn dư khỏi trời xa). Núi vươn khỏi trời xa, ấy là họa rồi. Chữ “dư ” càng chẳng phải cái mà họa có thể đạt tới (lời bình sau bài Bạc mộ thu sầu 薄 暮 秋 愁- Chiều tối thu sầu). Hay những câu: “… Người như Khanh Mưu có thể dự vào đạo lớn vậy” (lời bình sau bài Đăng Hàm Không các 登 涵 空 閣- Lên gác Hàm Không), “Nguyên bình: Xưa Lục Tử Linh Trường có bài tuyệt bút rằng:… Nay Khanh Mưu cũng nói như vậy, há chẳng phải là lời sấm hay sao?” (lời bình sau bài Ngọ nhật 午 日- Giữa trưa)…

Khanh Mưu không phải tên tự, cũng không phải tên hiệu của Nguyễn Húc, nhưng lại là tác giả của những bài thơ trong tập Cưu đài hiện còn. Vậy Cưu đài thi tập hiện còn không phải của Nguyễn Húc. Quyền tác giả rõ ràng phải thuộc về Khanh Mưu. Nhưng Khanh Mưu là ai, hành trạng thế nào ?

* Các lời bình ngoài việc khen thơ Khanh Mưu là “tinh tế”, “tao nhã”… còn cho ta biết ông là người tính tình lãnh đạm: “Đọc vế đối câu 5 và 6 thì tính lãnh đạm của Khanh Mưu có thể thấy vậy. Tâm sự ban đêm như thế, tuy sầu cũng vẫn đẹp” (lời bình sau bài Thoại sầu 話 愁- Nói về nỗi sầu), yếm thế: “Thơ Khanh Mưu viết rằng: Đồ cùng vô khả hận / Phả hỷ thuyết thương châu (Đường cùng không thể hận / Rất thích nói bãi xanh). Hợp lại mà xét, đã có ý yếm thế” (lời bình sau bài từ Lâu thượng sầu 樓 上 愁- Nỗi sầu khi ở trên lầu, điệu Lãng đào sa 浪 淘 沙). Không chỉ vậy, ông còn bị chết yểu: “Nguyên bình: Bốn câu đầu tựa thơ tiên, bốn câu sau tựa thơ quỷ. Xem hai câu kết hồn đã lìa khỏi xác, làm sao trụ lại được lâu? Thơ đến chỗ tuyệt diệu, đoạn nào đoạn ấy chẳng phải của người nhân gian. Thế nhưng tác giả há có thể tự nhận biết được điều ấy” (lời bình sau bài Tạc mộng 昨 夢- Giấc mộng đêm qua), hay như đoạn: “Khanh Mưu lại có thơ ngọa bệnh, lạc cú ghi: Mộng hồn bất thức quan san oán / Ái trục giang đầu hoàng diệp phi (Mộng hồn chẳng biết quan san oán / Thích được đuổi theo chiếc lá vàng bay nơi đầu sông). Cùng kỳ diệu như bài này nhưng tứ thơ quá lạnh lẽo, chính là điềm chết yểu vậy” (lời bình sau bài Nhàn dạ - Đêm thanh nhàn).

Đọc vào các bài trong Cưu đài thi tập A.2132 có thể thấy bàng bạc trong tác phẩm là những nỗi bi sầu oán hận, với những tiêu đề như: Bạc mộ thu sầu (Chiều tối thu sầu), Thoại sầu (Nói về nỗi sầu), Lâu thượng sầu (Sầu khi đứng ở trên lầu), Thu khuê oán (秋 閨 怨- Nỗi oán phòng khuê vào mùa thu), Xuân hận (春 恨- Nỗi hận lúc mùa xuân)… Thống kê sơ bộ thấy những từ gợi tâm trạng buồn xuất hiện dày đặc: khóc (, xuất hiện 1 lần), thương tâm (傷 心,10 lần), hận (, 6 lần), bệnh (, 5 lần), sầu (, 46 lần), oán (, 9 lần), rầu rĩ (trù trướng 惆 悵, 3 lần), lệ (, 9 lần)… trong khi đó những từ gợi tâm trạng vui rất hiếm, đáng kể có 3 lần nhắc đến tiếng cười.

- Các lời bình cho ta biết một thông tin quan trọng về sự kiện xảy ra thời tác giả: “Cái họa của bọn Mã - Nguyễn 馬 阮có nguồn gốc sâu xa, Khanh Mưu là người thấy trước tiên” (lời bình sau bài Bắc lai giả tranh truyền khấu phân phạm khuyết giá dục nam tuần tẩu bút chí phẫn 北 來 爭 傳 寇 氛 犯 闕 駕 欲 南 巡 走 筆 志 憤- Những người từ phía bắc đến tranh nhau truyền tin giặc cướp xâm phạm vào cửa khuyết, xa giá muốn tuần du về phía nam, cầm bút ghi nỗi phẫn uất, bài 2).

Họa Mã - Nguyễn là nói đến sự thao túng về chính trị của hai gian thần Mã Sĩ Anh 馬 士 英,1591?- 1646) và Nguyễn Đại Thành (阮 大 鋮, 1587-1646).

Mã Sĩ Anh tự là Dao Thảo 瑤 草, người ở Quý Dương cuối thời Minh. Từng thi đỗ Tiến sĩ thời Vạn Lịch, được làm quan rồi bị bãi chức. Sau nhờ Nguyễn Đại Thành nên được khởi phục là Hữu thị lang bộ Binh. Nhà Minh bị diệt vong, Mã Sĩ Anh giúp lập Phúc Vương 福 王lên ngôi tại Nam Kinh, được làm Đông các đại học sĩ rồi thăng lên Thái bảo; chuyên quyền quốc chính. Mã Sĩ Anh cấu kết với Nguyễn Đại Thành để thao túng chính sự, loại trừ những người không ăn cánh với mình. Quân Thanh phá Nam Kinh, Mã Sĩ Anh bỏ chạy, bị giết. Sau bị Minh sử 明 使liệt vào phần “Gian thần truyện 奷 臣 傳.

Nguyễn Đại Thành tự là Tập Chi 集 之, hiệu là Viên Hải 員 海, Thạch Sào 石 巢và Tây Tử Sơn Tiều 西 子 山 樵. Người ở Hoài Ninh thời Minh. Đỗ Tiến sĩ năm Vạn Lịch 44 (1616). Từng vào hùa cùng bọn gian thần Ngụy Trung Hiền 魏 忠 賢. Thời Sùng Trinh bị phế truất 17 năm. Phúc Vương lên ngôi, Nguyễn Đại Thành phụ tá Mã Sĩ Anh nắm quyền chính sự, làm quan đến chức Thượng thư. Quân Thanh phá được Nam Kinh, xin hàng. Ít lâu sau cùng bọn Mã Sĩ Anh ngầm dâng sớ xin Đường Vương 唐 王xuất quân, Nguyễn sẽ làm nội ứng. Việc bại lộ, biết không thoát chết nên Nguyễn Đại Thành đâm đầu vào vách đá tự tử. Nguyễn Đại Thành có tài năng thi văn, trước tác có giá trị nghệ thuật, song vì bị coi là loại người ti tiện bỉ ổi nên tác phẩm không được chú ý. Sau cũng bị Minh sử liệt vào phần “Gian thần truyện”.

Do Mã Sĩ Anh và Nguyễn Đại Thành cấu kết với nhau để thực hiện mưu đồ chính trị nên khi nói đến Mã Sĩ Anh, các tài liệu Trung Quốc thường nhắc đến Nguyễn Đại Thành và ngược lại(7).

3. Những lời giải đáp

- Những nghi vấn và thông tin trên khiến ta có thể phán đoán tác giả Khanh Mưu của những bài trong Cưu đài thi tập A.2132 là một tác giả Trung Quốc, sống khoảng cuối thời Minh.

Kết hợp hai thông tin: năm mất của Tiểu Thanh (1612), năm chết của Mã Sĩ Anh và Nguyễn Đại Thành (1646), ta biết được Khanh Mưu sống cùng thời với Mã Sĩ Anh, Nguyễn Đại Thành và mất sau năm 1612.

Tiến hành tra cứu các tác giả Trung Quốc theo sự khoanh vùng trên ta tìm được tác giả Khanh Mưu. Khanh Mưu chính là tên tự của Thang Truyền Doanh 湯 傳 楹, một tác gia cuối thời Minh.

Có thể tìm thấy mục từ Thang Truyền Doanh trong Trung Quốc từ học đại từ điển 中 國 學 詞 大 辭 典Trung Quốc tác gia đại từ điển 中 國 作 家 大 辭 典.

Theo Trung Quốc từ học đại từ điển: Thang Truyền Doanh (1620-1644), tên tự là Tử Phụ 子輔[có chỗ tài liệu ghi là Tử Hàn 子 翰], một tự khác là Khanh Mưu卿 謀, người ở Ngô Huyện (Nay thuộc Giang Tô). Năm Sùng Trinh thứ 13 (1640), cùng nhóm Vưu Đồng 尤侗ở Trường Châu lập ra Khuông xã; năm sau cùng Vưu Đồng và nhóm Hoàng Thuần Diệu 黃 淳 耀ở Gia Định tới Thường Thục để tham gia vào Lâm xã. Về sau thi Hương không đỗ, buồn bã khôn nguôi. Tháng Ba năm Giáp thân, nghe tin quốc biến, càng thêm bi phẫn, khóc ròng 3 ngày rồi chết khi mới 25 tuổi. Vưu Đồng có soạn Tiểu truyện Thang Khanh Mưu (Thang Khanh Mưu tiểu truyện 湯 卿 謀小 傳), ghi lại hành trạng của ông. Ông có 2 sách lưu hành ở đời là Nhàn dư bút thoại 閑 餘 筆 話Tương trung thảo 湘 中 草. Có một quyển là sáng tác từ mang tên Tương Trung thảo từ 湘 中 草 詞nằm trong sách Tích Âm Đường hối khắc Minh từ惜 陰 堂 匯 刻 明 詞.

Kết quả tra cứu trên đây giúp ta sáng tỏ phần nào về tác giả đích thực của các tác phẩm trong Cưu đài thi tập A.2132 tuy chưa phải hoàn toàn thuyết phục.

- Căn cứ vào thông tin trên ta thấy Vưu Đồng hẳn là người có quan hệ rất mật thiết với Thang Khanh Mưu. Vưu Đồng từng cùng Khanh Mưu lập ra Khuông xã, tham gia Lâm xã, lại viết hành trạng cho Khanh Mưu khi ông qua đời. Vậy Vưu Đồng là nhân vật thế nào, hành trạng ra sao?

Tiếp tục tìm kiếm, ta biết được những thông tin cần thiết về Vưu Đồng. Hàng loạt sách công cụ của Trung Quốc như: Trung Quốc từ học đại từ điển, Trung Quốc tác gia từ học đại từ điển, Trung Quốc văn học đại từ điển 中 國 文 學 大 辭 典, từ điển Từ hải 辭 海, Từ nguyên 辭 源… đều có mục từ này.

Theo các sách trên, Vưu Đồng (1618-1704), tên tự là Đồng Nhân 同 人, một tên tự khác là Triển Thành 展 成, hiệu là Hối Am 悔 庵, lại hiệu là Tây Đường 西 堂, người ở Thường Châu, Giang Tô (nay là Tô Châu). Ông là tác gia nổi tiếng đầu đời Thanh, giỏi về thơ, từ, hý khúc; trước tác phong phú…

Khéo thay Vưu Đồng không phải ai khác mà chính là Triển Thành, người có quan hệ đặc biệt thân thiết với tác giả Khanh Mưu của những tác phẩm trong bộ Cưu đài thi tập A.2132 hiện còn, người mà ta đang muốn “tìm gặp”, thực hết sức bất ngờ!

Tới đây tưởng mọi thắc mắc của ta đã được giải đáp. Song để chắc hơn, ta tiến hành tìm hiểu rõ thêm một bước.

Cưu đài thi tập A.2132 có một phần là các tác phẩm từ, gồm 31 bài, viết theo 25 điệu, trong đó có 4 bài nhắc tên Triển Thành. Sau các bài từ có tất cả 5 lời bình, trong 5 lời bình ấy có 2 lần gọi tác giả các bài từ là Khanh Mưu. Xem bảng thống kê:

 

TT

Tªn ®iÖu tõ

Tªn bµi

Sè l­îng

1

Nh­ méng lÖnh

Thu nhËt hiÓu hµnh

1

2

Bå t¸t man

L©u th­îng xu©n

3

3

Bå t¸t man

Thu tø håi v¨n

 

4

Bå t¸t man

Chu trung xu©n väng håi v¨n

 

5

c thiÕu niªn

Xu©n khø

1

6

Canh lËu tö

Xu©n mé

1

7

NguyÔn lang quy

Thu trang (Lêi b×nh gäi t¸c gi¶ lµ Khanh M­u)

1

8

§µo nguyªn øc cè nh©n

Xu©n hiÓu øc TriÓn Thµnh

1

9

T©y giang nguyÖt

Xu©n hËn

1

10

Th¸m xu©n lÖnh

§¹n oanh

1

11

Nghinh xu©n l¹c

§Êu th¶o (Cã lêi b×nh)

1

12

H¹nh hoa thiªn

§¹m nguyÖt

1

13

Tóy hoa ©m

§Ò s¬n trung l­

1

14

L·ng ®µo sa

L©u th­îng sÇu (Lêi b×nh gäi t¸c gi¶ lµ Khanh M­u)

1

15

Gi¸ c« thiªn

Giai nh©n

1

16

Vò trung hoa

L¹c hång o¸n

1

17

Ngu mü nh©n

Töu b¸n thÝnh H÷u thõa cæ cÇm

1

18

Ngäc l©u xu©n

MÉu ®¬n

1

19

TiÓu trïng s¬n

HiÓu trang (Cã lêi b×nh)

1

20

§iÖp luyÕn hoa

Xu©n mé

2

21

§iÖp luyÕn hoa

ThÝnh s¬n h÷u cæ cÇm

 

22

Giang thµnh tö

Thu l÷

1

23

M·n giang hång

Xu©n khuª

2

24

M·n giang hång

Th¸i hå v·n thiÕu

 

25

M·n ®×nh ph­¬ng

NguyÖt d¹ hoµi TriÓn Thµnh phong vò ký øc chi vËn (Cã lêi b×nh)

1

26

QuÕ chi h­¬ng

NguyÖt h¹ thø TriÓn Thµnh vËn

2

27

QuÕ chi h­¬ng

§éc sö, dông tiÒn vËn

 

28

Phong l­u tö

S¬n T©y v·n thiÕu

1

29

ThÊm viªn xu©n

Tr­êng th¸n thø TriÓn Thµnh vËn

2

30

ThÊm viªn xu©n

 

 

31

M« ng­ nhi

Th¹nh hå v·n thiÕu

1

*31 bài,25 ®iÖu

Kết quả tra cứu về Thang Khanh Mưu cho biết ông có 1 quyển Tương trung thảo từ, nằm trong bộ Tích Âm Đường hối khắc Minh từ. Vậy ta thử tìm thông tin về tác phẩm này. Tiếp tục tra cứu cách sách công cụ, ta tìm thấy mục từ “Tương trung thảo từ” trong Trung Quốc từ học đại từ điển.

* Theo sách này, Tương trung thảo từ là tác phẩm do Thang Truyền Doanh sáng tác, gồm 31 bài. Con số 31 trùng khớp với số lượng các bài từ trong Cưu đài thi tập A.2132.

* Sách trích dẫn đánh giá của một số tác giả khác nhau về 4 điệu từ trong Tương trung thảo từ. Đó là các điệu: Giá cô thiên 鷓 鴣 天, Tây giang nguyệt 西 江 月, Quế chi hương 桂 枝 香Mô ngư nhi 摸 魚 兒. Bốn điệu từ này đều có mặt trong số 31 bài từ của Cưu đài thi tập A.2132.

- Sách dẫn đánh giá về Tương trung thảo từ, đồng thời trích nguyên văn một số câu chữ trong các điệu thuộc tập từ.

* Trước hết là lời khen của Trần Đình Trác 陳 延 焯đối với bài từ điệu Giá cô thiên, cho rằng bài này “Thâu tóm được cái đẹp trong các tác phẩm của Án (Thù), Âu (Dương Tu), Chu (Bang Ngạn), Tần (Quán)”, trong bài từ “7 chữ đoạn ‘mấn trắc 鬢 側 mô tả một cách sống động” (Từ tắc 詞 則 - Nhàn tình tập 閑 情 集). Nguyên đoạn “mấn trắc” này trong Cưu đài thi tập A.2132 chép là:

一 片 傷 心 花 影 封,

美 人 初 出 曉 雲 宮.

簾 前 泥 落 傷 憎 燕﹐

鬢 側 花 搖 數 避 蜂

Nhất phiến thương tâm hoa ảnh phong,

Mỹ nhân sơ xuất hiểu vân cung.

Liêm tiền nê lạc thương tăng yến,

Mấn trắc hoa dao sổ tỵ phong...

(Một nỗi thương tâm được bóng hoa phong kín / Người đẹp vừa bước ra khỏi cung mây buổi sớm / Trước rèm bùn rơi, thường trách chim én / Bên nhánh tóc mai hoa lay động, thường tránh loài o­ng…).

* Còn Minh từ đề yếu 明 詞 提 要 lại khen ngợi các bài từ điệu Tây giang nguyệt, Quế chi hương; đặc biệt khen ngợi các câu: “Giang tả phong lưu tảo đa hĩ. Thán kích tiÕp trung lưu, vu kim kỷ hữu江 左 風 流掃 地 矣. 擊 楫 中 流 ,于 今 幾 有.…” trong bài từ điệu Quế chi hương. Đoạn này trong Cưu đài thi tập A.2132 chép là:

江 左 風 流 掃 地 矣.

嘆 擊 楫 中 流,

于 今 幾 有.

滿 目 新 高 啞 啞,

笑 言 而 已.

更 無 一 點 山 河 淚,

望 蒼 生 更 人 何 是

Giang tả phong lưu tảo đa hĩ.

Thán kích tiếp trung lưu,

Vu kim hữu kỷ.

Mãn mục Tân Đình ách ách...

Tiếu ngôn nhi dĩ.

Cánh vô nhất điểm sơn hà lệ,

Vọng thương sinh, cánh hà nhân thị…

(... Gió ở Giang Tả cuốn sạch bụi bặm trên mặt đất rồi / Than rằng gõ mái giữa dòng / Ngày nay có mấy / Choán đầy trong mắt là Tân Đình, vang vang... / Tiếng cười nói mà thôi / Lại còn không có lấy một giọt lệ khóc cho giang sơn / Trông cõi thương sinh rốt cục ai người...).

Lại khen nửa trên đoạn đầu bài từ điệu Mô ngư nhi, câu: “Vấn thanh thiên tc tiêu phong vũ, hàng hàng xuân cước hà xứ問 青 天 昨 宵 風 雨, 行 行 春 腳 何 處” là đã thâu tóm được khuôn mẫu của Giá Hiên 稼 軒(Tức từ gia Tân Khí Tật 辛 弃 疾 thời Tống). Đoạn này trong Cưu đài thi tập A.2132 chép là:

問 青 天 昨 宵 風 雨,

行 行 春 腳 何 處.

持 杯 欲 共 春 風 語,

回 首 柳 邊 無 數

Vấn thanh thiên tc tiêu phong vũ,

Hàng hàng xuân cước hà xứ?

Trì bôi dục cộng xuân phong ngữ,

Hồi thủ liễu biên vô số…

(Hỏi trời xanh đêm qua mưa gió / Hàng hàng dấu xuân ở chốn nào / Cầm chén muốn nói cùng với gió xuân / Quay đầu lại, dương liễu bên bờ vô số kể...).

Rõ ràng các trích dẫn trên đây hoàn toàn trùng khớp với những câu chữ của các bài từ cùng điệu trong Cưu đài thi tập A.2132.

Đến đây những câu hỏi nêu ở phần trước đã có lời giải đáp.

4. Kết luận

- Bộ Cưu đài thi tập ký hiệu A.2132 hiện lưu giữ tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, đồng thời là bộ sách lâu nay vẫn được giới chuyên môn khai thác nghiên cứu, giới thiệu thực chất là tác phẩm ngụy tạo. Tác giả đích thực của nó là người Trung Quốc, tên là Thang Truyền Doanh (tức Khanh Mưu).

- Cưu đài tập là tên thi tập của Nguyễn Húc song chí ít đến thời Lê Quý Đôn đã thất truyền. Người đời sau vì biết tập Cưu đài của Nguyễn Húc đã mất, nhân một động cơ nào đó đã ngụy tạo ra bộ Cưu đài thi tập A.2132 bằng cách chép lại tác phẩm của Thang Khanh Mưu, rồi lấy tên thi tập của Nguyễn Húc đặt làm nhan đề cho tập sách.

- Dòng giới thiệu về tác giả đầu sách là chép lại từ các sách xưa. Cụ thể là chép từ Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú.

- Về lời tự tựa đầu tập sách, do nội dung Cưu đài thi tập A.2132 là ngụy tạo nên có thể phỏng đoán lời tự tựa này do người chép sách ngụy tạo, hoặc được sửa chữa trên cơ sở lời tựa của Khanh Mưu, để người đọc không nghi ngờ về nội dung cuốn sách giả do mình tạo ra.

- Kết quả biện ngụy bộ Cưu đài thi tập A.2132 khẳng định các bài trong tập sách này thuộc về Thang Khanh Mưu, vì thế nhất thiết phải trả các tác phẩm về cho tác giả đích thực của chúng. Và vì vậy, tác phẩm của Nguyễn Húc sau khi đã loại bỏ các bài vốn rút từ tập Cưu đài ngụy tạo sẽ chỉ còn lại 6 bài thơ tứ tuyệt được chép rải rác qua các sách xưa, trong đó đầy đủ nhất là ghi chép trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn.

Tuy tác phẩm còn lại không nhiều song qua khảo sát, với những tác phẩm còn lại, Nguyễn Húc đủ đóng góp cho thơ ca đương thời một tiếng nói riêng không kém phần đặc sắc, đó là tiếng thơ của một thi khách luôn yêu thích sự thanh nhàn. Tất nhiên ta có quyền hi vọng một ngày nào đó có thể tìm lại được Cưu đài tập, và khi ấy, diện mạo của tác gia văn học Nguyễn Húc sẽ được phác thảo một cách đầy đủ và thuyết phục!

Chú thích:

(1). Chẳng hạn các sách: Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập II: Văn học thế kỷ X - Thế kỷ XVII (Đinh Gia Khánh chủ biên và giới thiệu, Nxb. Văn học, H. 1976), Văn học Việt Nam thế kỷ X - Nửa đầu thế kỷ XVIII (Đinh Gia Khánh chủ biên, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1978. Nxb. Giáo dục, tái bản lần 3, 1998), Tổng tập văn học Việt Nam (tập IV), v.v…

(2). Xem Trần Văn Giáp: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm Việt Nam, Nxb. KHXH, H. 1990, T.II, tr.83.

(3). Xem Lê Quý Đôn: Kiến văn tiểu lục (bản dịch), Nxb. Sử học, 1.1963, phần “Thiên chương”, tr.243-244.

(4). Trong Cưu đài thi tập, sau nhan đề một số bài có chua thêm các chữ như: “tuyển tứ” (Chọn 4 bài, Thập sách thi), “tuyển nhị” (Chọn 2 bài, Chu trung thán)… Điều đó cho biết những bài này hẳn được chọn từ một chùm bài có số lượng lớn hơn. Thêm nữa, trong một số lời bình, thẳng hoặc có trích dẫn một số câu thơ, từ thuộc các bài khác của tác giả, những bài đó không ghi trong thi tập này.

(5). Các sách đã nêu ở chú thích (1), Văn học Việt Nam thế kỷ X - Nửa đầu thế kỷ XVIII về cơ bản nghiên cứu, đánh giá và giới thiệu Nguyễn Húc trên cơ sở bộ Cưu đài thi tập hiện còn. Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập II: Văn học thế kỷ X - Thế kỷ XVII, với phương châm “trích dịch một số bài nói lên tâm trạng tác giả”, đã tiến hành dịch giới thiệu 4 bài trong bộ Cưu đài thi tập, gồm các bài: Hiểu thán, Phong vũ hối, Thương loạn, Phong vũ thán. Tổng tập văn học Việt Nam (tập IV), phần giới thiệu tiểu sử tác giả viết: “Lê Quý Đôn tưởng tập Cưu đài đã mất, nên trong Toàn Việt thi lục không có thơ Nguyễn Húc”. Toàn tập trên cơ sở kế thừa Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, giới thiệu thêm 4 bài khác trong Cưu đài thi tập, đó là các bài: Tự quân chi xuất hĩ, Dã lão ai, Phong vũ khuê tư và Thu khuên oán.

(6). Xem Nguyễn Khắc Phi: Văn học Trung Quốc, mảnh đất quen mà lạ, Nxb. Giáo dục, 1998, phần Tiểu Thanh truyện, tr.311-329.

(7). Chẳng hạn 2 bộ từ điển Trung Quốc: Từ hải, Từ nguyên./.

Thông báo Hán Nôm học 2005 (tr.48-66)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm