VI | EN
6. Chân dung một vị quan lại thời Nguyễn qua "Chương Dương Đỗ gia thế phả" (TBHNH 2001)
Thông báo Hán Nôm học 2001

CHÂN DUNG MỘT VỊ QUAN LẠI THỜI NGUYỄN QUA "CHƯƠNG DƯƠNG ĐỖ GIA THẾ PHẢ"

PHẠM QUỐC BẰNG

Hà Tây

"Chương Dương Đỗ gia thế phả" là cuốn gia phả họ Đỗ là Chương Dương thuộc xã Hồng Dương tỉnh Hà Tây. Đây là cuốn phả được lưu giữ ở gia đình vị trưởng tộc họ Đỗ. Phả được viết trên giấy bản trắng khổ 13x19 với 30 trang chữ Hán - Nôm được ghi chép cẩn thận ngay từ trang đầu sau hàng chữ "Chương Dương Đỗ gia thế phả" là dòng lạc khoản ghi như sau: "Phụng nghị đại phu Biên Hoà tỉnh đốc học Dương Lương Đình (tức Dương Bá Cung) khảo đính".

Trang mở đầu là bài thơ chữ Nôm thể lục bát với tiêu đề "Nội tộc ký truyện".

Tiếp đến từ trang 1 đến trang 14 ghi chép sơ lược về tám đời các vị tổ của dòng họ với những dòng thông tin về tên huý, tên chữ, tên thuỵ, ngày sinh, ngày mất, tuổi thọ, nơi mộ táng, hoặc một số nét về phu thê, tử tức.... Như bao cuốn phả mà ta thường thấy. Chỉ từ trang 15 đến trang 30 là hoàn toàn nói về cụ tổ đời thứ 9 của dòng họ. Cuộc đời và sự nghiệp của cụ được ghi rõ ràng tường tận, lược dịch có thể tóm tắt như sau:

Cụ họ Đỗ, tên huý là Lai, sinh năm Cảnh Hưng 38 (1778), mất năm Tự Đức - Kỷ Dậu (1849), thọ 71 tuổi.

Sự nghiệp học hành thi cử, con đường làm quan của cụ được ghi tóm tắt trong khoảng 25 năm từ năm Minh Mạng - Ất Dậu (1825) đến năm Tự Đức - Kỷ Dậu (1849) như sau:

Năm 29 tuổi, ông ứng cử thi lần đầu là trúng ngay tứ trường, nhưng rồi sau đó mẹ đẻ của cụ sớm qua đời, ngày cụ nhận tin vui đỗ đạt cũng là ngày cụ nhận tin buồn vô hạn về nỗi đau mất mẹ. Cụ phải nhanh chóng rời kinh về quê chịu tang mẹ. Và rồi chính những ngày này gia đình cụ cũng như làng xóm bị bọn cướp đến quấy phá, cụ lâm vào cảnh ngộ cô cùng khó khăn: Trên thì cha già ngày một suy yếu, dưới thì vợ con bị bó buộc trong cảnh bần hàn người kém nghị lực khó có thể vượt qua được.

Nhưng cụ đã nhanh chóng vượt qua cảnh ngộ khó khăn, không những làm tốt trách nhiệm nuôi nấng cha già, mà còn chăm sóc dạy bảo các con vươn lên trong sự nghiệp học hành. Còn bản thân cụ thì cũng sớm bước vào đường quan nghiệp. Từ chức Điều bổ huyện An Phong rồi sau 6 năm làm Tri phủ Quốc Oai, cụ được triều đình bổ nhiệm làm Án sát Ngự sử đạo Thanh Hoa; ở chức vụ này được 3 năm thì được thăng lên làm "Lễ khoa chưởng ấn cấp sự trung" của triều đình.

Đường hoạn lộ của cụ là thế, nhưng cuộc đời cụ toả sáng lên chính là ở lẽ sống giữa đời thường; ở sự cư xử trong gia đình với vợ con, với người ăn kẻ ở trong nhà, rộng ra là với hương đảng làng xã; rồi đến cách cư xử với đồng nghiệp ở chốn quan trường... Tất cả với cụ là lòng thuỷ chung, nhân ái, bao dung. Ngay cả khi phải xử lý những việc nghiêm trọng thì cụ vẫn sáng lên cái tâm chính trực, cái tình tín nghĩa.

Có thể lược kê ra những điều ghi trong gia phả (Trang 18 - 19) ở góc độ gia đình, cụ là người chồng rất mực chung thuỷ, là người cha tận tâm, tận lực, yêu thương, chăm sóc dạy bảo các con học hành để từ lập thân vươn tới sự nghiệp cao cả. Xin trích dịch một đoạn như sau:

- Khi vừa nhận chức quan ở huyện Yên Phong, thì người vợ yêu quý của cụ là bà Cung Nhân Nguyễn Từ Trang chẳng may lâm bệnh rồi sớm qua đời. Cụ phải cố nén nỗi đau khôn cùng ấy để trụ vững mà gánh vác việc quan; và phần việc nhà mà nuôi dưỡng cha già và chăm sóc đàn con còn đang trứng nước. Cảm thông với hoàn cảnh và mến phục nghị lực, đức độ của ông, nên có một gia đình vào hàng danh giá ở phường Đồng Xuân đã ngỏ thiện ý gả người con gái xinh đẹp cho cụ; thì cụ đã khéo từ chối; cụ nói với các con "Mẹ các con đã cùng ta được chu toàn mọi lẽ, nay chẳng may sớm lìa bỏ chúng ta mà ra đi... mà tình sâu nặng thì không bao giờ phai nhạt; nay hà cớ gì có thể để có người khác xen vào giữa cuộc sống của chúng ta..."

Từ đấy cụ chỉ còn biết chăm chỉ với chức phận của mình ở huyện đường; mặt khác thì dốc hết sức vào việc nghiên cứu sách vở, để tìm ra những điều tinh tuý, đúc kết những bài học kinh nghiệm mà giáo dục các con. Không chỉ nuôi dạy các con bằng bát cơm tấm áo. mà vượt lên tất cả, cụ còn nói là người cha trí tuệ, cụ thấy việc bồi bổ tri thức cho các con là điều vô cùng thiết yếu. Hàng ngày cụ thường nói với các con:

"Muốn mong cầu phú quý, thì các con phải biết mang hết sức mình mà tu dưỡng rèn luyện, học tập; đừng để tiếng là kẻ chẳng ra gì để đến nỗi vợ con phải cơ hàn đau khổ. Muốn thoát khỏi cái vòng đói nghèo nghiệt ngã thì chỉ có cách tự thân các con phải không ngừng tu dưỡng học tập. Muốn vậy trong đời sống thường nhật các con phải quen dần với nếp sống cần kiệm giản dị; có vậy mới tu trí học hành để được nên người. Vả lại người xưa đã từng nói: "Từ sự cần kiệm mà nhập vào kiêu sa thì dễ, nhưng từ sự kiêu sa trở về với cần kiệm thì rất khó". Khi chưa phú quý mà học đòi hưởng thụ theo kiểu phú quý, thì rồi cái phú quý giả tạo ấy cũng sẽ mất... Hoặc giả như kẻ chưa già mà lại hưởng thụ như tuổi già thì rồi cũng chỉ chuốc hoạ vào thân. Thế mới hay ở đời có lập được chí thì mới lập được công, được danh...

Không chỉ với con cái mình, mà với con trẻ nói chung cụ cũng chỉ ra điều thiết yếu để dẫn dắt chúng trở thành người hữu ích cho xã hội, mà sự dẫn dắt này lại ở ngay những việc làm mà người vô tình thì tưởng như chẳng cần chú ý, cụ nói " Với trẻ con thì chẳng nên cho chúng đi theo đến chỗ quan sở, bởi đến những nơi ấy chúng sẽ tập nhiễm thói kiêu sa, nguyên văn "Gia nhi bất hứa tòng cư quan sở cận tập nhiễm kiêu sa..." (tr 21).

Với cụ điều thiết yếu để giáo dục con trẻ là phải hướng chúng vào sự nghiệp học hành, tập cho chúng quen dần với sự kiệm ước, biết nuôi chí để vươn lên; chứ không thể sống theo kiểu ỷ thế cha anh để mà dựa dẫm, lười biếng. Và cụ cũng chân thành cảnh tỉnh để mọi người cùng biết: "Cái gia đình đốn mạt thì dù có để lại vàng cho con thì rồi cuối cùng cũng uổng nát ra đất mà thôi. Còn cái gia đình mà biết dạy bảo con cái nhờ đó mà phát đạt lên thì họ để đất cho con thì chúng sẽ biến đất thành vàng...".

Và không úp mở gì, cụ nói thẳng ra: Ngạn ngữ có câu "Phụ tác phụ thực, tử tác tử thực” nghĩa là cha làm thì cha ăn, con làm thì con hưởng" (tr 22).

Ấy là nói vậy thôi, với lòng nhân ái cao cả của người cha, để cho các con vươn lên đến đích là tự mưu sinh một cách tốt đẹp vẻ vang, thì chính cụ đang ra sức bắc cầu cho con vươn tới. Cái cầu ấy cụ chỉ ra như sau:

"Điều thiết yếu bây giờ các con phải cố gắng học tập; và chỉ có học tập thì mới lên danh phận; Đó mới là cái điều trông mong sâu xa nhất của các con, chứ chẳng nên trông cậy vào bổng lộc của cha mà lười biếng học hành".

Để giúp các con thực hiện hoài bão lớn là xây dựng cuộc sống tốt đẹp; thì trước tiên trong cách xử sự đời thường cụ luôn căn dặn các con là phải ôn hoà nhẫn nại. Ngay cả khi tức giận cũng phải lấy sự ôn hoà làm lẽ trọng "Ác súc nhi ôn bão" (tr 22) là như thế.

Không phải chỉ là sự ôn hoà, mà cụ luôn luôn nhấn mạnh cho các con thấy sự khoan dung cần thiết thế nào trong đời sống; và sự cần thiết này, cụ đã nêu lên như một phương châm xử thế đằm thắm tình người. Cụ nói: "Xử thế nhượng nhất bộ vi cao, đãi nhân khoan nhất phân thị phúc" Nghĩa là: Nhường người một bước là để ta tiến lên cao một bước, khoa dung cho người một phân là để mang phúc lại cho mình (tr 23).

Rồi khi giao tiếp với người rất cần sự tế nhị khôn khéo, nhưng phải lấy sự ngay thẳng, chân thành làm gốc. Gặp người có hoàn cảnh éo le bất hạnh thì phải biết cảm thông chia xẻ. Ví như hạng người "Cô độc quan quả" (trai độc thân, gái không chồng), hạng người này thường hay có ý tự ty, xét nét, cáu bẳn... Thì ta phải đối xử rộng lượng, khoan hoà. Còn đối với hạng tôi tớ trong nhà thì chẳng nên ti tiện nhẫn tâm.

Đấy là trong gia đình, còn như đối với hương đảng, làng xã thì luôn luôn phải biết giữ lẽ khiêm nhường. Ngược lại khi gặp kẻ ngỗ nghịch cùng đường liều thân, thì nên né tránh, hoặc là tạm thời chịu yếu, chịu thua... để rồi sau này cảm hoá họ...!

Còn đối với người thân thiết của mình, khi lâm cảnh ngộ khó khăn thì có thể chu cấp, giúp đỡ hết mình vẫn không tiếc, ấy toàn là những điều thiết yếu bởi chữ "tâm" chữ "nghĩa" mà ra. Xem xét từ xưa đến nay người trở lên thành đạt, xây dựng được sự nghiệp lớn cho mình đều biết coi trọng sự hoà thuận, thành kính.

Là người nhiều năm sống trong hàng ngũ quan lại khi mà chế độ phong kiến Việt Nam đang ở giai đoạn cuối cùng của sự suy thoái, cụ càng hiểu mọi lẽ thuận nghịch trong đám quan trường. Riêng bản thân cụ gắng giữ mình trong sáng; Còn đối với đồng nghiệp thì cụ khuyên bảo: "Kẻ làm quan phải biết giữ mình, chớ nên lấy thú vui chơi, sa đà quán xá rượu chè bê tha, hoặc mê say hát xướng đến nỗi thành ngu muội... Còn khi cần thư giãn thì hãy tìm đến thú văn chương, cuộc cờ cùng bạn bè tri kỷ...".

Không chỉ là lời nói, mà trong suốt 15 năm lãnh chức quan từ cấp huyện đến triều đình cụ đều tỏ ra là tấm gương sáng về nếp sống, về sự khảng khái thanh bạch. Xử lý việc gì cũng đều lấy nghĩa lý mà phân giải, sau đó mới dùng đến điều luật mà phán quyết - Song mọi điều phán quyết của ông đều có sự khoan dung nhân ái và trân trọng tình người. Khi đang ở chức "Giám sát Ngự sử" đạo Thanh Hoa, cụ không bao giờ dùng quyền chức của mình để uy hiếp, ép buộc người. Có lần viên quan nghị án ngỏ ý với cụ là tăng tội trạng của người bị án lên để kiếm chác chút tiền, thì cụ kinh ngạc nói: "Sao lại nỡ nhẫn tâm làm thế. Tội người đến đâu, thì xử đến đấy, nay vì chút mưu sinh mà để mất đức thì thật là vô phúc quá chừng".

Để thêm chứng minh cuộc đời làm quan trong sáng của cụ, phần cuối cuốn gia phả có đoạn tổng kết. Xin trích dịch như sau:

"Làm quan ở Khoa đạo 7 năm, thì có 2 lần được cử đi thanh tra, khi hết hạn trở về thì ngoài mấy quyển sổ bộ, vài quyển sách thuốc được đóng gói phong bao cẩn thận thì ngoài ra không còn thứ gì khác" (tr 28).

Là viên quan thi hành phát luật của chế độ đương thời cụ cố gắng giữ mình liêm khiết, từ chối mọi thứ quà cáp biếu xén. Ngay cả đối với người trong gia phủ, nếu có việc làm phạm pháp thì cụ vẫn cương quyết can ngăn. Đó là lần trong gia phủ có người tàng trữ, chế biến thuốc phiện khi phát hiện việc này, cụ kiên quyết bắt giữ. Xin trích dịch đoạn ấy như sau:

"Khi thấy trong nhà có dấu tích thuốc phiện, nhân lúc người nhà ra ngoài, cụ tìm thấy 2 bình thuốc phiện rồi đem đổ hết đi. Thấy vậy người nhà nói: "Chỗ thuốc ấy trị giá trên dưới 300 quan tiền, nếu như để sau này về hưu chẳng làm được gì hơn thì có thể đem bán lấy tiền chi tiêu, thế mà ngài lại đem để bỏ đi, thật là uổng phí và đáng tiếc biết bao". Người nhà nói vậy cụ liền quở trách "Đấy là thứ thuốc giết người, đã nhiều lần tôi khuyên bảo là không được dùng, vậy mà "Ngươi" lại nỡ nhẫn tâm tàng trữ, chế biến để đưa người khác vào chỗ chết. Chỉ vì mấy trăm quan tiền mà nỡ làm như thế thì thật là quá ngu muội và tàn ác".

Cụ là người luôn luôn biết giữ điều nhân, khinh điều lợi là vậy. Hàng ngày cụ thường nói: "Ở đời nếu như ướcvọng lớn lao mà lòng thì nhỏ hẹp thì chẳng bao giờ thành đạt điều gì cả; hoặc nói một đằng làm một nẻo thì chỉ chuốc lấy sự thất bại mà thôi".

Là vị tổ họ Đỗ làng Chương Dương, cụ đã nêu một gương sáng để đời, đúng như bài thơ Nôm mở đầu cuốn gia phả đã viết:

"Dốc lòng thờ phụng tổ tiên

Kính hiếu cha mẹ, anh em thân tình

Đời đời lấy "Đức" làm vinh

Gia phong phép nước đinh ninh vẹn tròn

Đói cho sạch, rách cho thơm

Tiền tài coi nhẹ, ân tình nặng sâu

Phu thê tình nghĩa trước sau

Nắng mưa chung thuỷ cùng nhau trọn đời".

*******

Những vần thơ trên có lẽ cũng đủ thay cho lời kết của bài viết này!

Thông báo Hán Nôm học 2001, tr.39-47

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm